TỪ ANH THỢ CẮT TÓC ĐẾN NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC


1. Thế là đã đến cữ tóc rậm và tôi lại phải tìm đến Lưu. Lưu, anh thợ cắt tóc quen thân của tôi. Lưu hành nghề ở chân cầu thang một chung cư trong khu tập thể Ngọc Khánh. Tương hợp với một diện tích toen hoẻn chỉ chừng bốn mét vuông là những đồ nghề quá giản dị đơn sơ. Một chiếc ghế gỗ cũ kỹ. Một tấm gương đã hoen mờ nước thủy và dăm ba chiếc dao kéo cùng một bộ tông đơ chạy bằng ắc quy nhãn mác Tầu. Chứ đâu có sang trọng như những tiệm hớt tóc trên các phố lớn, đồ nghề mạ kền sáng choang, có máy lạnh và nước hoa Soir de Paris, chuyên phục vụ các đại gia, các nhu cầu cao cấp. Tất nhiên, từ nhà đến nơi Lưu ngày ngày làm cái công việc vít đầu vít cổ thiên hạ chỉ ba chục bước chân đã là quá thuận tiện. Nhưng mà thật tình là, dù Lưu có chuyển địa điểm hành nghề đến đâu thì cuối cùng tôi vẫn cứ phải tìm đến. Chẳng phải là mình có tính cầu kỳ. Mà vì xưa nay vốn đã là vậy. Ăn uống may mặc và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân vốn đều ưu tiên dành cho bạn hàng quen thuộc. Mà vì thêm vào đó còn vì nhiều lý do khác, có khi còn là chủ yếu và quan trọng hơn. Chẳng hạn, còn gì thú vị bằng, vừa choàng cái khăn trắng qua người, đã được nghe Lưu thao thao đủ các chuyện trên đời. Lưu là người quảng giao, biết nhiều chuyện trong khu dân cư. Lưu là cựu chiến binh. Kỷ niệm thời chiến trận của Lưu dồi dào phong phú lắm. Lưu lại có trí nhớ thần đồng. Ca dao hò vè dân gian Lưu vanh vách làu làu.

“Ấy, đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng tư năm 1975, trung đội em 19 người đang đóng quân tại Ngã tư Hàng Xanh thành phố Sài Gòn. Trung đội trưởng đang nghe đài, bỗng hét tướng lên: Dương Văn Minh đầu hàng rồi! Thế là bọn em cùng nhảy lên, reo vang: Sống rồi anh em ơi! Và chẳng ai bảo ai, cả 19 anh em cùng chĩa súng lên trời nổ hàng tràng dài. Sướng quá mà! Vậy mà dân chúng xung quanh nghe thấy, có người chạy ra đường, sợ quá, ôm mặt khóc hu hu: Trời ạ! Việt Cộng tắm máu đến nơi rồi! Chúng em đành phải chạy ra, vừa kéo từng người vào vừa hét oang oang: Đừng có nói bậy! Đây là súng mừng đại thắng đấy! Đúng là mừng quá nên súng mừng chiến thắng cứ liên tục nổ váng trời thật. Nổ cho kỳ hết đạn thì thôi. Nhằm cả vào cái biển hiệu có dòng chữ Công ty Mãi dịch trước cửa nhà nổ. Hết đạn, thấy cái vòi phun sơn lăn lóc ở dưới đất, có cậu vốn thợ sơn, liền cầm lấy chĩa lên cái biển nọ, bấm nút cho sơn phun ra phì phì, nhoáng cái đã biến hàng chữ nọ thành Công Ty Mãi dâm. Hà hà… Đúng lúc ấy, bác có biết không, ông trung đoàn phó đi qua. Thấy tấm biển, ông quát: Tiên sư chúng mày! Lính Hà Nội được ăn học tử tế mà vô văn hóa thế à! Hạ ngay tấm biển xuống! Buồn cười, trưa hôm ấy, chúng em ra chợ mua 25 ký mực tươi về ăn mừng chiến thắng. Chả hiểu nấu nướng thế nào, cả 19 thằng ăn xong là tranh nhau vào nhà tiêu. Mà lần đầu thấy cái hố xí bệt, có biết sử dụng thế nào đâu. Ngoài Bắc mình lúc bấy giờ hố xí công cộng chỉ có hai hòn gạch. Nam nữ ngồi cạnh nhau, có tờ báo che mặt là xong…”

Chuyện của Lưu đầy ăm ắp các chi tiết lạ. Tuy nhiên, dẫu có thế nào thì, với tôi, điều quyến luyến, khiến tôi không thể không đến với Lưu mỗi khi cần phải thanh khoản cái đầu tóc rậm rà của mình còn là ở chỗ khác nữa. Với Lưu, mỗi cái đầu tóc của khách hàng là cả một công trình.

Choàng cái khăn qua người khách, gài hai đầu góc khăn vào gáy ông khách, hơi ngả người ra sau, vừa nheo mắt ngắm cái đầu người nọ trên thực địa và so chiếu với nó trong mặt gương, thoáng qua một cái nhíu mày của anh là tôi hiểu, trong óc anh đã xuất hiện một dự tính, một phác đồ, nói theo ngôn ngữ hiện đại là đã hình thành một lập trình. Tất nhiên, với những khách hàng quen thuộc như tôi, thì thao tác nọ tồn tại trong thể vô hình vô ảnh. Kiểu như phần mềm với các dữ kiện đã được gài sẵn vào computer rồi. Và thế là chuỗi công việc thực hiện phác đồ bắt đầu với tiếng dũi rầm rì êm êm của chiếc tông-đơ máy. Nghề ngỗng thủ công này cũng chẳng có gì đáng gọi là phức tạp cả. Hết tông-đơ là đến nhiệm vụ của cái kéo. Cái kéo lách tách tỉa mảng tóc trên đỉnh đầu. Khác với các tay thợ khác, Lưu bảo, động tác kéo của em không có thừa, nghĩa là không cắt vào tóc mà cũng cứ dập kéo lách tách liên tục, rất điếc tai. Đường kéo nhờ chiếc lược làm phận sự cái đệm ngăn cách của Lưu chẳng mấy chốc đã tạo nên vẻ hài hòa của độ đen trắng phía sau gáy và phần tóc mai. Tiếp đó là những nét dao xoèn xoẹt nhẹ nhàng như có như không lướt qua da thịt ở sau gáy, ở hai bên gò má cùng là phần mép và phần quai hàm của anh.

Không đến nỗi thật là kỳ khu và dẫu chỉ là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, rất ngắn ngủi, năm mười phút thôi, nhưng rõ ràng là Lưu cũng đã trút vào công việc một phần tâm sức đáng kể của mình. Từ một mái đầu tóc tai rậm rà bù xù, đến một mái đầu tóc tai gọn ghẽ, thẳng thớm tinh tươm, đó là hành trình đi tới của Lưu. Một tay Lưu, trong chốc lát vừa là nhà thiết kế vừa là nhà thi công. Và công cuộc lao động để biến đổi vật thể từ một trạng thái này sang một trạng thái khác, không thể nói là không có sự sáng tạo dự phần. Là bởi vì, thiên hạ cũng lắm kiểu đầu, tròn như củ ấu, bẹt như đầu cá trê, trẻ con tóc bò liếm, cụ già tóc hói trụi… chẳng phải lao tâm khổ tứ như các nghề kỹ xảo khác, nhưng có lúc cũng phải lựa đường dao, nét kéo. Nghĩa là cũng phải bộc lộ cái ý thức muốn làm được một cái gì đó như nó cần phải có. Muốn có một mái đầu đẹp. Một mái đầu đẹp, tác phẩm của Lưu! Cái đẹp, niềm say mê của Lưu. Tất nhiên, sau mỗi công trình nho nhỏ giản đơn ấy, Lưu nhận được thù lao là 25.000 đồng. Nhưng đó là cái giá của kết quả. Chứ trong chuỗi thao tác lao động nọ, cái đẹp mới chính là tâm niệm, là đinh ninh của Lưu, là cái đích thúc đẩy Lưu mải mê đi tới.

Tiền, không phải là mục đích. Tiền chỉ là kết quả. Đó là điều tôi nhận ra ở mọi công cuộc lao động sáng tạo trên cuộc đời này. Đó cũng là điều tỷ phú, người đứng đầu tập đoàn máy tính Microsoft Bill Gate đã nói ra thành lời. Tương tự như vậy, không hiểu có thật chính xác không, nhưng tôi đã nghe nhiều nhà doanh nghiệp kiêm trí thức Mỹ thường kể lại với niềm tự hào không che giấu, rằng trong khi ở các nước khác người ta thường nói: Tôi làm việc để sống, thì người dân Mỹ của họ lại quan niệm: Tôi sống để làm việc. Nghĩa là làm việc là nhu cầu nội tại, là mục đích sống, còn lợi nhuận chỉ là cái kết quả đến sau thôi.

Lan man từ chuyện anh thợ cắt tóc Lưu, tôi nghĩ đến những người bạn thuộc các ngành nghề khác của mình. Doanh là một thợ may giỏi chuyên may đo các hàng cao cấp. Com-lê anh cắt may nổi tiếng một thời. Chỉ cần nhìn anh với cái thước dây dòng qua cổ, cái viên phấn bẹt màu ghi hồng vạch ngang dọc hay uốn lượn trên mặt những là tuýt-xuy, len dạ, cũng thấy được cái nét dáng của một tay thợ lão luyện chuyên nghiệp. Ai cũng phải làm việc để có thu nhập để tồn tại. Nhưng, đâu có phải, ai cũng nhăm nhăm làm cho xong công việc để có được đồng tiền. Không! Hơn cả số tiền thu nhận được từ tài năng, Doanh say mê và kiêu hãnh vì những bộ com-lê của anh đẹp sang trọng đến khách thượng lưu Âu Mỹ cũng phải trầm trồ. Doanh trước hết là con người của sự cống hiến, của người làm ra cái Đẹp.

Theo đuổi đến cùng một công việc, trút vào đó tâm sức của một thời đoạn, thậm chí sinh mệnh của một đời người, tôi tin chắc rằng, chẳng phải đặc trưng của một cá nhân thuộc một nghề nghiệp chân chính nào. Nhà địa chất đuổi theo một mạch quặng. Vận động viên nhẩy cao nhích lên từng milimét. Nghệ sĩ guitar khổ luyện từng ngón đàn. Người bác sĩ trăn trở tìm tòi mọi phương cách để chống trả cái chết của bệnh nhân. Nhà thiết kế thời trang sáng tác không ngưng nghỉ các mẫu mã mới. Chiến sĩ ngoài Trường Sa ngày đêm canh giữ biển đảo cho Tổ quốc. Tất cả hành động của họ, may mắn thay, từ trong bản chất, lại là xuất phát trước hết từ một mục đích lớn lao cao thượng, dẫu rằng họ cũng sẽ được hưởng thành quả, nhưng đó chỉ là kết quả ở phần sau, và so với cái mục đích trên thì nhiều khi lại nhỏ nhoi đến tội nghiệp. Một tấm huân chương, một danh hiệu, một khoản tiền thưởng… nào có bõ bèn gì!

2. Nhà văn Nghiêm Đa Văn, bạn tôi, sinh thời có lần bảo tôi: Cái anh nhà văn nước mình thật kỳ. Khi viết thì bảo: Tớ viết tác phẩm này là để đời. Viết xong, in ra, thấy bạn đọc chê thì lại đổi giọng: Chẳng qua là để kiếm tí tiền mọn thôi mà. Tôi cũng hay có cái giọng ấy, nhưng không phải là nói khi bị chê bai. Không! Kiếm tí tiền mua thuốc bệnh và mua quà cho các cháu. Đó là câu nói tôi thường có khi đã về hưu tuổi đã cao, đặc biệt là khi bạn bè bảo: Hồi này viết vẫn khỏe nhỉ?

Viết để kiếm tiền! Viết vì sinh kế! Có điều ấy không nhỉ? Kể cả các nhà văn đương thời hôm nay và các nhà văn lớp trước đàn anh chúng ta? Như là những giai thoại để chứng tỏ một tài năng xuất chúng, kiểu Trạng Quỳnh trong một tiếng trống vẽ được mười con giun? Như là một cách biện bạch cho sự non kém về chất lượng của một vài tác phẩm văn chương vì sự thằng thúc của miếng cơm manh áo? Như là một sự dè bỉu những tay thợ văn chuyên sản xuất các chế phẩm văn chương loại kiếm hiệp ba xu, các câu chuyện diễm tình phục vụ các chị em phố chợ, các phim truyền hình dài tập giải trí?

Có không? Có! Và cũng phải nói ngay rằng, cũng như mọi lao động khác, kiếm tiền bằng ngòi bút cũng chẳng có gì là xấu xa, không lương thiện cả. Lao động để kiếm sống là công việc của cả tỷ tỷ người đang diễn ra hàng ngày trên hành tinh của chúng ta. Tiền là vật ngang giá chứng tỏ lao động của anh có ích cho mọi người đến mức độ nào.

Tuy nhiên ở đây là nói đến một khâu đoạn được tách riêng ra, ở cái quá trình làm ra sản phẩm của nghề văn với đôi chút so chiếu; và bằng cái nhìn trừu tượng hóa. Và nếu vậy thì tôi tin rằng nhà văn viết chỉ có một mục đích duy nhất là kiếm tiền, điều ấy chỉ là phàm lệ, chỉ là nhất thời, chốc lát. “Xét đến cùng, cái đáy của bức tranh là tình yêu”. Đó là câu nói của P. Picasso, danh họa Pháp. Chúng ta khi viết tác phẩm của mình về căn bản, xét đến cùng, mục đích chi phối không phải vì… đồng tiền, hay vì một món lời to lớn hoặc nhỏ nhặt, hay vì động cơ vụ lợi sát sườn cụ thể nào, kể cả chẳng hạn, tớ viết cái này để cho thằng ấy thằng nọ một trận. Kể cả khi Ngô Tất Tố viết Tắt đèn với cái động cơ nói ra miệng là để cho thiên hạ biết rằng viết về nông thôn phải là như thế, nghĩa rằng có vẻ như là để khoe khoang. Kể cả khi Balzac, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính nhận tiền ứng trả trước của các chủ xuất bản, ngày đêm gò lưng viết để… trả nợ.

Tôi có lý do để tin là như thế. Là bởi vì, sự tồn tại của con người, trên lĩnh vực tinh thần thường được biểu hiện trên hai khía cạnh: một là sự hiểu biết và hai là các mối cảm xúc. Sự hiểu biết làm nảy sinh khoa học. Còn cảm xúc làm nảy sinh nghệ thuật. “Nơi nào có sự dư thừa trong cảm xúc của chúng ta thì đó là nơi bắt đầu của nghệ thuật”. Đó là ý kiến của Rabindranath Tagore.

Vâng! Cảm xúc đó đến độ dư thừa, đã dâng lên cao trào, đã chín muồi, đã biến thành một cơn lốc cuốn anh vào. Và quá trình sáng tác là một quá trình phức hợp của các mối cảm xúc được chi phối không phải bằng đồng tiền hoặc bất cứ một ý nghĩ vị lợi nào. Đó là một quá trình nhà văn bị thiêu đốt bằng cơn nhiệt hứng để đi tìm một hình dạng có giới hạn có khả năng hàm chứa cái vô hạn. Đó là một quá trình bị mê hoặc vì ảo ảnh thần thánh hóa trước cái kết thúc tối hậu. Đó là một cơn đam mê quăng mình vào cuộc phiêu lưu trong đám sương mù của chữ nghĩa để diễn tả cho đúng cái điều mình định nói. Đó là một công cuộc theo đuổi tận lực kiệt cùng sự hoàn thiện, trong tinh thần luôn muốn vươn tới một cái gì đó đẹp hơn cái đang hiện tồn với ảo giác rằng mình đang làm công việc vĩ đại có thể thay đổi cả thế giới. Và xét về phương pháp luận hay quy tắc phổ quát thì điều mà nhà văn thực hiện cũng không khác gì cái quá trình cắt một mái tóc của Lưu bạn tôi như đã nói ở trên kia. Tất cả đều hướng tới một ảnh hình đã trở thành nỗi niềm đau đáu, một viễn cảnh đã được phác thảo trong tưởng tượng của anh ta. Một viễn cảnh dù là bé tí xíu như một mái đầu đẹp, hoặc hoành tráng như bức tranh khổng lồ Sông Đông êm đềm, hoặc cũng có thể là sản phẩm của một cơn hoang tưởng! Kể từ dòng đầu tiên của một thiên truyện ngắn đến trang cuối cùng của một cuốn tiểu thuyết trường thiên, nhà văn là kẻ đã bán mình hoàn toàn cho cơn mê đắm của riêng anh ta. Kể từ dòng thơ đầu tiên cho đến khổ thơ cuối cùng, một hành trình vất vả, vì phải lọc ra từ hàng tấn quặng để có một chữ đắt giá, nếu nghĩ rằng bài thơ sẽ được trả giá là 50.000 đồng (giá một bát phở xào) thì làm sao có đủ hào hứng để làm cái công việc cực nhọc này! Thôi thúc của anh ta, thống ngự trong anh ta duy nhất lúc này và chỉ có nó mới khiến anh ta đi đến cuối cuộc hành trình, không phải là vì trong đầu anh ta đang treo lơ lửng cái đồng bạc như một thứ mồi nhử, mà là, mà chỉ là cái khát vọng nhất thiết và quyết hoàn thành cái dự định lớn lao, cái đẹp toàn thiện toàn mỹ theo hình dung của anh ta. Anh ta giống như một tình nhân trong say đắm, chỉ muốn mình ngày càng trở nên đẹp đẽ trong mắt người yêu. Ngoài ra, không có bất cứ một vương vấn, cấn cá, suy tính thiệt hơn nào trong đầu anh ta hết. Tiền bạc, không! Danh lợi, không! Uy quyền dọa nạt đối với anh ta cũng không có nốt. Còn lại trong anh ta chỉ là một cơn thăng đồng mê man, nhăm nhăm tiến tới cái lâu đài tráng lệ anh ta quyết đánh chiếm bằng được. Quyết đánh chiếm, cho dù có đánh đổi bằng cả sinh mệnh mình. Đúng như Karl Marx nói: “Tác phẩm là mục đích tự thân… cho nên khi cần có thể hy sinh sự tồn tại của cá nhân mình cho sự tồn tại của tác phẩm”. Một kẻ bất cần, một kẻ không biết sợ. Một kẻ trong khoảnh khắc chỉ biết đến cơn nhiệt tâm cuồng si của mình. Một kẻ thậm chí đánh mất cả lý trí! Đó là anh ta.

Những cơn điên rồ thuần khiết, những trận mê sảng triền miên, tôi tin là rất nhiều nhà văn đã sống những giây phút như thế, trong quá trình sáng tác của mình. Những đám mây mù mê sảng điên rồ! Và chỉ có điên khùng, mê si rồ dại mới có đủ sức mạnh siêu thường để làm được cái công việc sáng tạo nhọc nhằn khốn khổ như thế. Ăn đói. Mặc rét. Bệnh tật đầy người. Những ngón tay co quắp vì căn bệnh tê thấp. Ngọn đèn dầu đùn khói đen sì. Trong chiếc màn xô bí hơi, vo ve tiếng muỗi kêu như ong. Ngòi bút sắt cậm cạnh chạy rì rì trên trang giấy rơm. Vợ con nheo nhóc, thở than. Gia cảnh bần hàn. Bị bạc đãi, bị khinh rẻ. Bị ép buộc giữa muôn điều cấm kỵ. Thậm chí bị đe dọa, bị cấm đoán tù đầy. Trước mắt là một tiền đồ chưa hứa hẹn điều gì đáng gọi là tốt đẹp cả: chắc gì đã vượt qua được vòng lưới kiểm duyệt, nhuận bút bèo bọt đáng là bao, liệu có nên cơm cháo gì không, liệu có còn lại trong trí nhớ bạn đọc không. Vậy mà không, chẳng có hề hấn gì! Chẳng khiến ai xao xuyến từ bỏ cái mục đích thánh thiện và cao quý của mình, của công việc. Vũ Trọng Phụng viết trong những cơn ho của bệnh lao phổi. Nguyên Bình hoàn thành tiểu thuyết Tôi và những người mù trong các cơn đau của bạo bệnh. Chẳng có chút nao núng gọi là! Chỉ thấy người đi chậm lại, chứ không thấy ai đi giật lùi và bỏ cuộc. Bùi Ngọc Tấn nói: “Vì sao tôi chọn nghề viết văn ư? Có nhiều lý do mà một lý do quan trọng là: với nghề viết văn tôi có thể sống trung thực. Không phải uốn éo, nịnh bợ để được nâng cấp tài năng. Cũng không lo sợ làm mất lòng cấp trên mà mất đi vài nấc thang giá trị. Viết văn để sống bằng thực tài, bằng những gì mình có”. Đã bước vào miền thanh quang của tự do, như Hégel viết, đó là những kẻ được mệnh danh là nhà văn nhà thơ. Với họ, tự do là sáng tạo.

Viết! Viết! Viết! Rũ tóc xuống mà viết! Viết để bộc lộ cá nhân mình, một cái cá nhân từ trong vô thức đã có một khế ước, đã được ký kết ngấm ngầm với cộng đồng, rằng ta sẽ hiến dâng cho người những gì là tinh hoa, tốt đẹp nhất của ta. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… viết đâu có nhuận bút. Ngoài cái cảm hứng hào hùng và nhu cầu dâng tặng một giai điệu cách mạng cho cộng đồng, Văn Cao viết Tiến quân ca, Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít còn nghĩ đến cái lợi riêng nào?

Không thể so sánh Lưu và Nghiêm Đa Văn. Một nghề thủ công và một nghệ sĩ sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần. Vậy mà họ vẫn có điểm gần nhau. Tiền không phải là mục đích. Tiền chỉ là kết quả. Thành ra, khi tác phẩm thơ của mình in xong, đến nhà xuất bản lĩnh nhuận bút, thi sĩ Xuân Diệu đòi được xem bảng giá trả cho mỗi bài thơ của ông, ông có quyền vậy, ông bảo: Thơ tôi không phải rau muống, muốn trả bao nhiêu thì trả cũng được. Lưu cũng vậy, sau công trình thẩm mỹ cái đầu tóc của khách, anh có quyền đòi phải trả đúng 25 nghìn đồng. Tháng 5 năm 2012, tôi được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, với cụm tác phẩm: Tuyển tập truyện ngắn cùng ba tiểu thuyết Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn. Phóng viên một tờ báo hỏi cảm tưởng, tôi đáp: Không được Giải thưởng thì tôi thấy rất hụt hẫng. Nhưng được thì tôi thấy có phần nên phải là như thế! Với các nhà văn khác, trong các tình huống tương tự, tôi thấy họ cũng có cái cảm giác hài lòng, thỏa đáng như vậy. Phần thưởng của thành quả lao động là cái đến sau, là cái Xuân Diệu được quyền nghĩ tới và đòi hỏi công bằng một cách tương đối.

Có nhiều điểm khác nhau giữa Lưu cắt tóc và Nghiêm Đa Văn nhà văn cũng như các nghề nghiệp cao quý khác, chẳng hạn các chính trị gia, các nhà cách mạng chuyên nghiệp. Hồi còn trẻ, tôi đã có một thời gian mấy năm ròng giữ chân thư ký cho đồng chí Trường Minh Bí thư tỉnh ủy tỉnh Lao Cai. Nhà cách mạng chuyên nghiệp này tham gia cách mạng từ năm 1941. Ông và tôi hòa hợp với nhau về nhiều phương diện. Chẳng hạn, ông cũng yêu thơ và thích đọc tiểu thuyết Sông Đông êm đềm. Lao Cai, hiện lên trên bản đồ, với con sông Hồng chảy giữa, chia đất đai thành hai miền đông – tây gần bằng nhau, trông từa tựa một con bướm xòe đôi cánh rộng. Bắt gặp ông rất nhiều lần ngồi ngắm cái bản đồ nọ với các mảng màu tô điểm các vùng kinh tế khác nhau, tôi nghĩ mình không lầm khi đoan chắc rằng tỉnh nhà trong đầu óc ông cũng đã được ông mường tượng như là một chú bướm vàng đang giang rộng đôi cánh thần phấp phới bay lên.

Yêu cái đẹp, mê say cái đẹp, tạo lập nên cái đẹp chẳng phải là đặc quyền của riêng ai. Đó là tố chất tiên khởi trong sáng thanh khiết tuyệt đối trong hành động của tất cả mọi con người lao động trên lĩnh vực nghệ thuật và tinh thần, đặc biệt là của những tâm hồn cao cả. Và trong liên tưởng dẫu còn có chỗ chưa thể lý giải để đạt được sự thỏa đáng, tôi vẫn thấy vô cùng yêu thích cái nhan đề của thi sĩ Chế Lan Viên khi ông viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người đi tìm hình của nước. Khởi thủy của vĩ nhân là thế! Là một khát khao tìm đường đi tới một vọng cảnh mới chỉ có trong mơ. Là một ước muốn mà vì nó mà ra đi, mà lặn lội bôn ba mấy chục năm trời, chịu đựng không biết bao nhiêu gian khó, cơ cực, tù đầy, nguy hiểm. Là một mong muốn tột độ nước nhà được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta ai cũng được ấm no, được học hành, được hưởng hạnh phúc. Căn cốt là thế! Là một diệu cảnh tươi đẹp huy hoàng cho dân tộc cho đất nước khiến ta nức lòng và tiếp sức cho ta đi xa. Là một tâm hồn lãng mạn khiến ta có thể phơi phới bay lên khỏi cái nhọc nhằn hệ lụy thường ngày. Là cái chất thơ của cuộc đời trú ngụ trong đáy sâu tâm hồn vĩ nhân. Và cũng giống như tâm trạng của những kẻ đồng tông, như cái anh văn sĩ mải mê bất chấp là không biết đến sợ hãi là gì. “Ai như Bác ta một đời đánh luôn ba tên đế quốc”, trích của Chế Lan Viên.

Cái Đẹp, chỉ có nó mới đủ sức đưa ta đi trên con đường sáng tạo thiên lý. Cái Đẹp, chiếm lĩnh được nó là mãn nguyện, là chiến công. Còn tất cả những gì có được sau nó, đâu có phải là quan trọng gì. Nghề văn là vậy. Và nếu so với hàng triệu chiến sĩ anh hùng đó ngã xuống cho lý tưởng cao đẹp của dân tộc đất nước mà vẫn không được có mặt trong ngày hội khải hoàn, không được trực tiếp nhìn thấy kết quả của hành động đẹp đẽ cao thượng của mình, vẫn chỉ là một kẻ vô danh, thì nhà văn, dù trên đường đời anh có gặp bao cay đắng thiệt thòi thì số phận anh vẫn còn rất nhiều may mắn. Dù hay hay dở anh vẫn còn được hiện diện trên trang sách của anh!

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương từ anh thợ cắt tóc đến người đi tìm hình của nước. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

Chú thích 1: Bùi Ngọc Tấn trả lời phỏng vấn. Báo Đại biểu nhân dân số 151, ngày 30/5/2012

Chú thích 2: Đây là câu hỏi của báo Frères D’ Arrmes và câu trả lời của Hồ Chủ tịch: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? Điều Ác! Thưa Chủ tich, Chủ tịch yêu gì nhất? Điều Thiện. Thế Chủ tịch sợ điều gì? Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì!