TRUNG DU, CHIỀU MƯA BUỒN


Cởi áo mưa, giũ đánh phạch một tiếng rõ to, rồi chẳng nói chẳng rằng, bà Nhàn sầm sập bước về phía cái bàn trưởng phòng to kềnh của bà đặt ở giữa buồng. Bà đang giận dỗi ai vậy? Chưa thể biết. Vì tiếp đó, bà còn ném phịch cái túi xách giả da nặng trịch xuống mặt bàn, rồi vừa đưa tay vuốt mái tóc ngắn mới uốn điện kiểu oval đã lâm râm sợi bạc, vừa lừ mắt nhìn quanh một hồi nữa, bà mới dấm dẳng và đài đệ:

– Mưa bão chết cò thế này, có mời đi ăn cỗ đây cũng chẳng thèm!

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Chuyện gì mà có cả mưa bão và cỗ bàn?

Người phụ nữ tuổi đã năm mươi còn thích làm đỏm, có thói học đòi hơi lố, cậy thế chồng, hay lên mặt này thói thường vẫn hay thình lình phát ra những câu nói dường như chẳng ăn nhập vào đâu khiến mọi người xung quanh thoạt đầu chẳng hiểu mô tê ất giáp gì. Đã thế, câu nói lại rất phũ lắm khi. Con người này tính khí vốn bất thường. Tính khí bất thường, tức là chẳng có logic gì cả nên có thể là thế này, mà cũng có thể là thế khác, nghĩa là có thể chỉ là chuyện vớ vẩn và cũng có thể là chuyện nghiêm trang. Bởi vậy nên thảy mọi chuyện của bà chúng tôi đều muốn làm ngơ, tuy không ngớt dò đoán.

Nhưng lần này thì chúng tôi không phải dò đoán lâu la gì.

Theo sau bà, cánh cửa buồng rụt rè mở và ló vào một người đàn ông, nhân vật của câu chuyện, nguyên cớ của câu nói dấm dẳng trên kia của bà. Người đàn ông có một khuôn mặt thoạt ai nhìn thấy cũng đau đớn và kinh hoàng. Một khuôn mặt diễn tả trung thành nỗi nghèo cực, khổ ải dài lâu và cơn túng quẫn tột cùng ở thời hiện tại. Dưới cái vành mũ lá cọ đã buột, nước mưa còn ròng ròng rỏ giọt là một cái mặt hóp héo, tái xám, với hai con mắt lỗ đáo như mắt người mù và một cái miệng lệch xéo lên phía tai phải, trông lúc nào cũng như mếu. Cái mặt tật nguyền ấy tuy vậy vẫn không làm ta kinh tởm, sợ hãi. Có lẽ vì thân hình cân đối của ông tỏa ra một cái gì đó mực thước, lương thiện và nhất là bộ quần áo bộ đội ông mặc đã cũ mủn vá víu ở bả vai, khuỷu tay, đầu gối. Lâu lắm rồi mới lại nhìn thấy bộ quần áo vá nên căn phòng tràn ngập ngay một cảm giác thương tâm. Càng thương hơn khi nhìn thấy hai ống quần ướt rượt, nước mưa từ hai gấu quần ngắn lưng lửng còn đang ri rỉ chảy xuống hai cẳng chân gầy teo, đôi dép quai nhỏ rộng rệnh, trệu trạo, thò đến một phần ba bàn chân ra ngoài.

Đeo một cái bị rách, đáy vá bằng một mảnh vải thâm, miệng bị thò ra hai cái cổ chai nước mắm đục lờ, người đàn ông bước tập tễnh, ngập ngừng đứng lại ở khuôn cửa, rồi đưa đẩy hai con mắt nhỏ đầy vẻ e dè và lo lắng:

– Chị Nhàn ạ, chị đồng ý thì em xin phép được đèo chị ra ga mua vé lên với nhà em ngay.

Người đàn ông này rõ ràng là có quan hệ thân thiết với bà trưởng phòng của chúng tôi. Thấy bà không nói, như là đã tự tin hơn, ông liền bỏ chiếc mũ lá úp vào ngực, rồi dấn lên một bước, định nói tiếp câu gì đó nhưng vội bặt tiếng. Bà trưởng phòng của chúng tôi vừa buông tay nắm búp tóc, quay phắt lại, cái môi dưới còn đậm màu son cánh sen thưỡi dài, the thé:

– Tôi đi thì có xe đưa xe đón, chứ lại phải nhờ đến cái xe cởi truồng nhà chú!

Câu nói khinh ngạo dẫu sao cũng le lói một tia hy vọng, có lẽ người đàn ông cảm nhận được điều đó nên ông mạnh dạn bước hẳn vào buồng. Giọng ông lúc này trở nên thật hơn, nghĩa là ảo não hơn:

– Nhà em bị lần này không chắc qua khỏi. Thật tình để nhà em ở trên ấy với mấy đứa trẻ, em rất áy náy. Nhưng nhà em hễ tỉnh là cứ một hai rằng em phải về đón bằng được chị lên. Bây giờ cô ấy chỉ có chị là ruột thịt. Là cô ấy bảo thế.

– Rõ lẩn thẩn! Cơ quan Trung ương người ta đóng ở Hà Nội chứ có phải cái chợ nhà quê đâu mà muốn vào muốn ra lúc nào cũng được. Phải có kỷ cương nền nếp chứ, đâu có bạ lúc nào cũng đi cũng đến như cái hợp tác xã nhà chú, hử!

– Nếu vậy chị cho em gặp ông thủ trưởng cơ quan chị. Thế nào nghe em trình bày, ông ấy cũng thông cảm và cho phép chị lên với nhà em.

Rõ ràng là người đàn ông quyết tâm thỏa mãn cái nguyện vọng tha thiết của người vợ ốm đau. Nhưng cũng rõ ràng là ông thật thà, chất phác, không hiểu bà chị vợ mình là người thế nào. Quả nhiên, bà chị vợ ông bật một tiếng cười nhỏ, rồi vênh vếnh mặt:

– Gớm nhỉ! Chú gặp ông thủ trưởng tôi để nát ông ấy chắc? Gặp thủ trưởng, nghe em trình bày! Tôi cần thì tôi đi, chứ tôi phải nhờ chú!

– Em đâu có nát ai! Mà hạng chúng em thì có biết dọa dẫm ai bao giờ.. Người đàn ông cúi đầu, như chợt nhận ra thân phận của mình, giọng nhuốm vẻ tủi hổ, cay đắng.. Chỉ có điều là nhà em, cô ấy muốn chị em gặp nhau, có thể… đây là lần cuối cùng…

Nói không hết câu, người đàn ông quay đi, vắt nước mũi, ông khóc.

Ai mà có thể dửng dưng trước tình cảm và những lời lẽ này! Ai mà có thể sắt đá, vô tình trước sự van nài năn nỉ nghĩa tình sâu nặng như thế! Ai mà có thể cứ sau những lời chân thực đẫm nước mắt, lại đáp bằng cái giọng điệu kẻ cả, hợm hĩnh, lố lăng liên tục như thế!

Chúng tôi ái ngại quá cho người đàn ông và sợ rằng ông sẽ không thể chịu đựng nổi thái độ rất vô sỉ của người chị vợ mình. Ông sẽ phát khùng. Ông sẽ nổi trận lôi đình. Ông đã ở đỉnh điểm của sự cùng cực, thống khổ rồi. Trông khuôn mặt ông, nghe giọng ông nói thì biết.

May thay, bà trưởng phòng của chúng tôi hình như đã nghĩ lại, hoặc chút ít tình cảm chị em máu mủ trong bà, trước cái cảnh người đàn ông khóc vì tủi cực, chợt thức tỉnh.

Thành ra, đứng tựa eo lưng vào cạnh bàn, hai tay chống phía sau, ngực nhô ra phía trước, nhìn người đàn ông đưa tay chùi nước mắt trên má, giọng bà bỗng mềm hẳn lại:

– Thế chú định thế nào bây giờ?

Hai con mắt nhỏ đang nhoèn nước chợt như sáng dậy, người đàn ông ngước lên, nghèn nghẹn:

– Em định thế này, chị ạ. Em đi cắt cho nhà em mấy thang thuốc bổ. Sau đó em quay lại đây. Chị báo cáo cơ quan, rồi hai chị em mình ra ga, đi chuyến tàu bảy giờ tối. Ba giờ sáng mai hoặc năm giờ sáng là cùng, tàu sẽ tới ga…

– Đi cắt thuốc hả? Thế thì… được rồi!

Không để ông em rể nói hết, bà Nhàn đã bước tới cạnh ông, giọng liến thoắng. Lại một bất ngờ xảy ra. Đang kênh kiệu là thế, bỗng hạ giọng thân mật, rồi bây giờ là một cử chỉ suồng sã bạn bè của bà. Vừa đẩy người đàn ông giật lùi ra phía cửa, bà vừa cười khanh khách, giọng nói, cử chỉ vừa như xua đuổi, vừa như an ủi, vỗ về:

– Được rồi! Được rồi! Không phải quay về đây nữa. Cứ ra ga, lên tàu ngược đi. Có thế nào thì từ nay đến Chủ nhật, tôi và nhà tôi sẽ lên bằng ô tô con. Được chưa nào? Thỏa mãn chưa nào?

Đứng ở giữa giọt hiên đang rỏ nước xuống cái vành mũ lá cọ buột vành, người đàn ông đưa mu bàn tay chùi hàng ria mép ướt đẫm, vớt vát rất tội nghiệp:

– Chị Nhàn, thế nào chị cũng lên nhá! Em sẽ bảo nhà em cố… chờ.

Vào tuổi năm mươi, bà Nhàn vẫn còn giữ được nét duyên dáng thời thanh xuân. Tầm thước, mặt tròn trắng mịn, hai con mắt lóng lánh tinh anh, chắc hẳn xưa kia có sức quyến rũ lắm! Đáng chú ý hơn là cái vóc dáng nhẹ nhõm, thanh tao, sản phẩm của một đời người nhàn nhã, không hề biết tới vất vả, cực nhọc. Chẳng hiểu xưa bà sống thế nào, chứ bây giờ thì bà sung sướng lắm. Hai đứa con đi học nước ngoài, ở nhà ông bà đã rấm sẵn hai cô con dâu vừa xinh đẹp vừa môn đăng hộ đối, nghĩa là cũng vào hàng cán bộ cao cấp của nhà nước. Sáng sáng, trong khi các bà cùng lứa tuổi còn vất vả vì cơm nước, rồi còn gắt um lên với chồng con về cái xe đạp bị thủng săm chưa vá thì bà ung dung ăn bữa điểm tâm do người cần vụ của ông chồng sửa soạn, rồi tăm nước xong, tót lên cái Lada đỏ ớt đi cùng chồng tới tận cửa cơ quan. Các khoản khác như nhà ở, chi tiêu, bổng lộc… thôi khỏi phải nói, vì chính miệng bà nói hộ rồi. Bà có tính hay khoe, nhiều khi rất là ruột ngựa. Ai lại khoe cả chuyện có ả đưa cả cái ti vi màu đến biếu ông để nhờ ông bênh vực cho một vụ hối lộ bị phát hiện. Tất nhiên bà không quên vuốt hai mép như vuốt quết trầu: Ông nhà tôi kiên quyết từ chối!

Cái cử chỉ vuốt mép của bà không lọt ra khỏi sự quan sát, suy đoán tinh quái của các bà cùng lứa. Cùng với cử chỉ, ngôn ngữ trình độ bà thể hiện hằng ngày, họ cho rằng bà được như ngày nay chỉ là nhờ ăn may thôi, chứ thật sự bà cũng như rất nhiều chị em vốn xuất thân lao động nơi đồng ruộng, thôn dã, ít được học hành và còn tối dạ nữa là khác.

Ở đời có ai chỉ rặt những thói xấu. Cũng chẳng có ai hoàn toàn chỉ có những đức tính tốt. Ai mà chẳng có dăm ba thói tật đáng phàn nàn. Nên chi cũng nên thể tất cho nhau. Chẳng hạn như cái trình độ hiểu biết, cái vốn văn hóa rất có hạn của bà. Cũng đã ngồi ghế lớp bảy bổ túc văn hóa rồi đấy nhưng con toán lớp bốn bà làm chẳng nổi. Tiếng Việt, những chữ có âm khó như oeo, uyên bà viết có khi nào đúng! Phát biểu ý kiến thì dài dòng mà chẳng hiểu bà định nói gì. Lại thêm cái thói xấu hay cậy thần cậy thế, đỏng đảnh, tuôn ra hàng tràng ngôn ngữ chợ búa lắm khi rất tục. Người ta bảo đó là do bà ảnh hưởng của chồng, chồng bà, chức vị lớn, đã lớn là coi như có quyền nói năng văng mạng. Thôi thì thể tất cả! Thể tất cả cái việc này nữa: Đùng cái bà lên trưởng phòng, lương cao hơn chuyên viên một, nhận giấy khám bệnh ở Bệnh viện Việt. Xô, tức là lên một đẳng cấp khác, mà thật tình bà chỉ đáng làm nhân viên tạp vụ thôi, xét về tất cả các mặt. Ai cũng biết đó là do có sự mặc cả giữa chồng bà và ông thủ trưởng cơ quan. Nhưng rồi người ta cũng tặc lưỡi cho qua! Ăn nhằm gì cái chức tước cỏn con ấy. Cho qua cả cái thói hợm của, ai cũng biết của cải nhà bà phải tính bằng trăm cây vàng, là cái phần ngoại bổng của ông chồng bà. Nhưng mà thôi, đặc quyền đặc lợi đâu có phải chỉ có vợ chồng con cái bà hưởng. Và cũng không phải mới đây. Người ta chịu đựng cũng quen rồi. Cái không quen được, không bao giờ quen được là ở chỗ này: bà rất hay lên mặt khinh người. Ai cũng có quyền tự mãn, thậm chí kiêu ngạo tí chút về mình, nhưng điều đó khác xa với thói hợm mình, miệt thị, lăng nhục người khác, khác hẳn với thái độ lạnh lùng, thờ ơ với nỗi khốn khổ của người khác, càng không phải là cái quyền chửi rủa người thấp kém bên dưới mình, như thói tệ tiết ra từ đời sống bọn người hãnh tiến trên con đường công danh, thu lợi lộc thời nào cũng có.

Nhưng bây giờ thì hóa ra bà Nhàn vốn xưa xuất thân cũng là nghèo cực thôi. Chứng cớ là cô em bà đau ốm lang bạt tận đầu mút tỉnh Vĩnh Phú đó thôi. Sự việc đã vậy, bà Nhàn cũng chẳng thể giấu được nữa. Đúng, bà có hai chị em, sau khi cha mẹ chết đói, năm ấy là năm Ất Dậu, đã dắt díu nhau rời khỏi đất Thái Bình đi tha phương cầu thực. Họ đi vô định. May thay, vào lúc bước đường cùng, họ được một đơn vị bộ đội cưu mang. Cô chị tên là Nhàn. Cô em tên là Bịu. Oái oăm quá, cô Nhàn trắng trẻo, xinh tươi bao nhiêu thì cô Bịu đen đủi, xấu xí bấy nhiêu. Số phận chia rẽ hai chị em. Cô chị vào văn công, cô em được làm hỏa đầu quân. Ít lâu sau cô chị lấy ông trung đoàn trưởng trẻ trai. Còn cô em lận đận mãi tới năm 1958 mới lấy chồng, là một anh thương binh hạng 4/6. Trời! Ông trời sao mà bất công vậy! Bao nhiêu cái may mắn ông dồn cả cho bà Nhàn. Còn cô em sao ông nỡ lòng giáng xuống toàn những thiệt thòi, rủi ro?

Tống khứ được ông em rể đi rồi, bà Nhàn quay về buồng tông tốc kể cho chúng tôi nghe những điều trên. Rồi chốc chốc bà lại chép miệng, lại kết một câu như sau:

– Ừ, thì có may có rủi. Nhưng bây giờ chị em kiến giả nhất phận chứ. Bám vào quấy nhiễu mãi ai mà chịu được!

Một chủ đề mới lại khai mở: Sự quấy nhiễu của vợ chồng cô em. Năm nào cũng xuống ở nhà dăm bữa nửa tháng nói là để khám bệnh, mua thuốc nhưng xuống ở là cấm có mang theo cân gạo nào. Đã thế lại hay xin xỏ. Cái chậu đồng thủng, cái áo vét cũ, cái fula rách, đôi dép đứt quai, cái túi lưới vá, chiếc độc bình sứt… cái gì cũng xin, cũng vơ vét. Đồ ăn thức uống thì từ chai nước mắm tới lạng mì chính, cái gì cũng kêu thiếu, cũng nhờ mua hộ. Được chai nước mắm loại một thì sướng lên bảo: Về em phải nấu nước muối pha thành năm chai, không ăn tốn lắm! Khiếp quá!

Còn lần này thì sao? Bà Nhàn nói:

– Thằng ông mãnh tẩm ngẩm tầm ngầm ranh ma quỷ quyệt đến ám suốt đêm qua. Xuống tàu là nhảy ngay vào: Em đói quá, có cơm nguội cho em một bát! Rồi lại oai oái kêu nghèo. Có biết đâu tôi đã lục túi lúc thằng ông mãnh tắm. Tôi mới vạch mặt. Thế là kêu rầm lên là đem tiền đi mua thuốc cho vợ. Nói vô phép, trông cứ như thằng ăn mày. Xấu hổ quá kia. Khách người ta toàn loại Trung ương, bộ trưởng, thứ trưởng mà cứ ngồi thượng cả hai chân lên xa lông và há hốc mồm ngủ. Thật, không hiểu nó là cái giống người gì nữa cơ chứ!

Ngôn ngữ có khả năng thô bạo đến thế là cùng, chúng tôi nghĩ. Nhưng chưa hết, bà Nhàn tiếp:

– Muốn chơi trèo đây. Ra cái điều ta ở nhà quê nhưng có ông anh rể là cán bộ cao cấp, có ô tô riêng, ta ốm ông anh bà chị đánh cả xe về thăm đây. Một lần tớ với ông ấy đi ô tô về chơi, ôi giời, không nói ngoa, cả xóm cứ như có hội. Vợ chồng nhà nó mặt cứ nở như cái bánh đa nướng. Xét ra, anh nhà quê là tham, là sĩ nhất. Mà lười, mà đẻ khỏe. Sáu con rồi, tim suy độ hai, một lần chửa ngoài dạ con rồi, bảo triệt sản đi, có chịu nghe đâu. Lần này cho chết!

Trời ôi! Chúng tôi cùng rên lên trong thâm tâm. Tham lam, sĩ diện, lười biếng, bần tiện, ăn mày, ăn nhặt… Cứ cho là vợ chồng người em có đủ các thói hư tật xấu ấy đi nhưng lúc này đâu có phải lúc bêu riếu nhau. Cô Bịu đang ốm thập tử nhất sinh.

Bất nhẫn, tôi đánh bạo:

– Chị Nhàn à, công việc văn phòng dạo này cũng đã vãn vãn rồi. Lân nó có thể cáng đáng được. Chị cứ yên tâm thu xếp lên thăm cô ấy đi, chị ạ.

Lân là phó phòng mới được đề bạt, nói thêm:

– Bây giờ chỉ còn việc đưa giấy mời họp sơ kết quý ba. Các khách hàng của công ty, em cũng đã quen biết cả, còn việc…

Không để Lân nói hết, bà Nhàn chen luôn:

– Tưởng bở ăn đấy hả? Tôi mà không đích thân đi mời, họ không nể tôi thì họ có mà đi khối đấy. Còn nhớ cái đận họp đón bằng khen không? Hàng ghế khách ngồi trống huếch trống hoác, ngượng cả mặt.

– Em sẽ đi đến nhà từng ông, từng bà.. Lân nhún nhường. Tôi gần như kẻ nhập cuộc vào câu chuyện của người em bà, giọng khẩn nài:

– Cô ấy nhắn chị thế là sự bất đắc dĩ. Chắc là bệnh tình cũng đến lúc nguy cấp lắm rồi. Chị cố lên trên ấy vài hôm xem thế nào, nếu cô ấy có mệnh hệ nào thì cũng khỏi ân hận.

Bà Nhàn nghênh mặt ra khuôn cửa sổ đan dày những dòng mưa lóng lánh như bạc. Bà có nghe chúng tôi nói không? Chẳng hiểu nữa, chỉ biết sau đó bà quay lại, một lần nữa trách chúng tôi coi nhẹ tầm quan trọng của việc đưa giấy mời họp, rồi buông một tiếng cười nhạt:

– Chắc là có vàng bạc châu báu gì nên cô em tôi trước lúc chết muốn trao gửi tận tay cho tôi đây.

Chúng tôi nổi gai khắp người. Cái lối suy nghĩ lắt léo, tăm tối ở con người thật chẳng biết thế nào mà lần.

Tôi quay mặt đi, sợ nhìn thấy mặt bà. Nhưng bà đã đứng dậy thản nhiên:

– Các cậu chẳng hiểu cái khỉ khô gì hết. Vợ chồng nó giả nghèo giả khổ, vờ ốm vờ đau đấy thôi. Với lại, làm gì thì cũng phải có kế hoạch trước chứ. Mấy hôm nữa, ông nhà tôi ở Bulgaria về, chúng tôi còn đi nghỉ mát. Tháng Chín rồi, ít nữa bãi biển trống huếch thì nghỉ với ma à!

Mưa.

Mưa ngâu, thấm đẫm không gian miền thượng trung du ướt át một nỗi buồn thê thiết. Hạt mưa lơ lửng, phủ trắng mờ những eo đồi ắng lặng lúp xúp các bụi cây hoang dại. Cây cọ không diễn đạt nổi một khúc xạ ý tưởng thơ mộng nào. Dáng nó cằn, bóng nó trơ trọi giữa sa mù, đầy vẻ giá lạnh cô đơn. Vệt bánh xe bò quằn quại, chồng chất hỗn độn ven đồi đất vàng ệch như trích đoạn của bức tranh cô liêu, buồn đến tận cùng xương tủy. Cỏ hỗn hung hãn xâm chiếm mặt đường, quệt ràn rạt vào bánh xe lăn chầm chậm. Xe càng đi càng như vào chốn không người.

Tôi nhớ mãi chiều thu rầu rĩ tóc tang ấy, mưa dai dẳng sụt sùi không lúc nào ngớt và rau diếp cá bị xéo nát bên bờ ruộng sực mùi tanh tưởi đến buồn nôn, ám ảnh mãi trong tôi một cảm giác hoang tàn. Chiếc xe con của cơ quan chúng tôi vượt hơn trăm cây số tới vùng đất cửa rừng này đã bốn giờ chiều. Cái xóm nhỏ chỉ có độ chục nóc nhà. Tất cả mọi người đều đang ngơ ngác, mặt ai cũng vàng nhợt, như vô hồn. Từ xa lắm, tiếng còi tàu văng vẳng tới như một lời giã biệt.

Mãi mãi tôi không thể quên cái cảnh bốn người đàn ông ướt dầm dề khiêng cái quan tài đóng vội bằng ván cánh cửa hở huếch hoác, chân rờ rẫm, chốc chốc lại hẫng một cái vì một ai đó bị sa xuống hố bùn, thế là lại phải xô tới rối rít chuyển đòn cho người khác. Gặp chỗ đường bằng, cỗ quan mới được đặt lên xe cải tiến. Khốn khổ, chỗ xóc, cỗ áo nảy lộc cộc, gặp khi lên dốc, nó lại tụt ra đằng sau, mọi người lại phải xúm lại để đỡ, hì hục đẩy ngược lên.

Nước mưa đọng vàng ủng trong lòng huyệt. Nhưng cỗ áo cứ được thả xuống. Kiệt sức cả rồi, không ai có thể làm thêm được gì để cải thiện tình hình. Bên bờ huyệt đứng khoảng hơn chục người đàn ông, đàn bà với hai vòng hoa nhàu nát. Mưa ướt dầm mái tóc rậm bù của người đàn ông, trông ông lại sa sút, tiều tụy hơn cái hôm ông đến cơ quan chúng tôi. Sáu đứa trẻ sút sít bằng nhau lốc nhốc một đám, đứng cạnh cha, ri ri khóc. Hương thắp rồi lại tắt! Lại phải quây nón đốt giấy thắp lại. Gió giũ phành phạch tàu lá cọ trên cao, bóng người xiêu dạt dật dờ trong hoàng hôn tím sẫm.

Đứng cùng với những thân nhân của người quá cố khi mộ đã đắp xong, trời đã tối sập, chúng tôi có cảm giác mình cũng là những cô hồn đang sờ soạng, rờ rẫm trong hoang mê. Nghèo nàn, cơ cực, buồn thảm đến thế này đã là tột độ chưa? Người chồng gần như chả để ý gì đến chúng tôi khi chúng tôi đưa vòng hoa và tiền phúng tới, giờ thấy chúng tôi đứng mặc niệm vong linh vợ, ông mới chợt nhớ ra, liền ngửa mặt lên trời, bịt miệng hức hức lên một hồi:

– Bịu ơi! Thế là chị Nhàn không về để nhìn mặt em lần cuối cùng rồi, Bịu ơi.

Những đứa trẻ lập tức nức lên theo cha. Biết nói thế nào để khỏi tủi linh hồn người đã khuất và không xúc phạm tới người đang sống. Không dám nói là bà Nhàn đã đi nghỉ mát với chồng, khi ông ấy vừa đi công tác ở Bulgaria về, chúng tôi nói bà trưởng phòng của chúng tôi có việc đột xuất phải đi công tác xa, từ cuối tuần trước, thành ra kế hoạch lên thăm cô Bịu bị phá vỡ, nay gặp chuyện không may, bất ngờ thế này, chúng tôi đại diện cơ quan lên chia buồn cùng gia đình, mặt khác chúng tôi đã điện gấp cho bà Nhàn, chắc chỉ nay mai là bà ấy sẽ có mặt ở đây thôi.

Trở về cơ quan, tâm ức chúng tôi vẫn bị khuấy động vì cái đám tang não lòng ấy. Bức tranh trung du chiều mưa buồn ấy sao mà thê lương, thảm thiết. Và tôi không khỏi lo sợ khi nghĩ tới khả năng diễn đạt của mình lúc phải thuật lại cảnh tượng ấy cho bà Nhàn. Tôi chỉ lo tôi sẽ không cầm lòng được, bà Nhàn sẽ phải sa lệ sám hối, khi tôi kể lại sự kiện đau buồn nọ thôi.

Nhưng tôi đã lo lắng thừa. Dòng đời trôi chảy tự nhiên ở ngoài tất cả những áp đặt của con người. Vừa nghe thấy tiếng bà Nhàn chao chát ở ngoài hiên, ngước lên đã thấy bà hiện hình giữa căn buồng nhỏ, sau hơn chục ngày vắng bóng. Lại một bất ngờ nữa sau cái đập bàn bất thình lình, bộc lộ cơn hưng phấn tột độ của bà:

– Cha tiên nhân nó, suýt nữa thì mình mắc lừa!

– Sao hả chị?. Chúng tôi vừa kêu, vừa kinh ngạc và lo ngại. Bà trưởng phòng kéo cái ghế mây, xếch hai ống quần tây màu hạt dẻ, ngồi xuống, chống tay lên mặt bàn, người nhấp nhổm, vẻ mặt hồng hào đầy vẻ hỉ hả hòa hợp với một ngữ điệu tràn ngập nỗi đắc chí nhỏ mọn:

– Cứ tưởng cái thằng cha nhà nghỉ Thịnh Lương không ra gì. Nghe các ông con giời chê, đã định bỏ, hóa ra cực kỳ! Ăn tám chục một ngày mà bằng hai trăm nơi khác. Cá thu có sáu mươi đồng một ký có chết người không chứ! Rẻ thối! Bãi biển thì hết ý! Ngồi trên gác ba ngắm bãi biển lồng lộng gió mát cũng cực kỳ! Ôi giời, áo xanh áo đỏ cứ là hoa cả mắt. Năm nay các mẹ toàn mặc áo tắm hai mảnh. Các ông tha hồ mà bổ túc mắt nhé. Phục vụ thì hơn hẳn nơi khác. Thật là hết sảy!

Một dòng thác những là: cực kỳ, hết ý, hết sảy tuôn trào xối xả. Phía sau khu rừng ngôn ngữ và cách biểu đạt thô sơ là một gương mặt hãnh tiến, hả hê, mãn nguyện. Làm thế nào xuyên qua cánh rừng rậm loại hoa không hương sắc này để đi đến cái thung lũng đau buồn thật sự bây giờ?

Chúng tôi lại gặp may. Người bưu tá mang thư và báo đến, nhiệm vụ thông đạt truyền tin đã có nhà nước đảm nhiệm thay chúng tôi.

Bà Nhàn nhận ngay ra nét chữ của người em rể ở ngoài bì thư. Bà xé rìa phong bì dày cộm còn nguyên những hạt cơm nguội khô. Rồi những ngón tay có móng son đỏ của bà mở rộng một tờ giấy khổ lớn gấp tám. Mắt bà chớp chớp. Nhưng mặt bà vẫn còn nguyên niềm vui ngoài bãi biển Thịnh Lương. Bà vẫy chúng tôi lại gần:

– Này, tớ đọc các cậu cùng nghe nhé! Xem thằng ông mãnh định vòi vĩnh gì nữa nào!

Chị Nhàn kính mến!

Em về tới nhà thì Bịu đã nôn khan. Các bác sĩ ở bệnh viện chẩn đoán là nhà em đã bị đứt tĩnh mạch tim. Em đành đưa nhà em về. Lúc ấy nhà em còn tỉnh lắm. Còn hỏi: Đưa tôi đi đâu thế này? Cáng về tới nhà, trông thấy cây hồng xiêm và cây táo, Bịu còn nhận ra và hỏi: Chị Nhàn tôi lên chưa? Em đáp: Nội nhật nay mai là chị lên thôi. Nhà em ra ý gật đầu, chờ đợi.

Nhưng ngày hôm sau trông sắc mặt nhà em đã kém sút lắm rồi. Hàng xóm tới hỏi: Có nhận ra tôi không? Nhà em đáp: Có. Họ lại hỏi: Cô thấy trong người thế nào? Nhà em thều thào: Khác lắm.

Chiều hôm ấy hàng xóm bảo cho nhà em uống nước gạo rang. Nhưng nhà em không chịu uống. Hàng xóm lại bảo, khi nào cô ấy ngáp thì đưa đồng bạc hoa xòe và chín hạt gạo vào miệng cô ấy. Em làm theo. Nhưng nhà em lại mở mắt nhổ đồng bạc và chín hạt gạo ra. Rồi lại hỏi: Chị Nhàn tôi đâu? Cứ đay đi đay lại mãi câu hỏi ấy. Rồi bỗng nhiên tỉnh. Lại bắt đầu nói. Y như cái lúc bắt đầu ốm, kể lại từ cái đận hai chị em lưu lạc ở đất Thái Bình lên tới đất Phú Thọ trung du, ở làng này ngập lụt ra sao. Chị phải đi gánh thuê vất vả ở chợ Cầu Tây, ở Thanh Cù, Ấm Thượng thế nào…

Gần sáng thì giọng đã ngọng rồi. Nhưng lại mở mắt nhìn em hỏi: Chị Nhàn tôi đâu? Lần này giọng trách móc lắm. Em nói: Tôi đi ra ga đón chị ấy đây. Có tiếng còi tàu ở ga thật. Nhà em chắc là bị em lừa nhiều rồi nên lần này lắc đầu. Lắc đầu và khép mắt lại và đi.

Thưa chị, kể chi nữa những nỗi đau buồn. Sự thể đã thế rồi, em biết trách ai. Em chỉ biết cám ơn tấm lòng quý hóa của bà con hàng xóm với em. Ban Thương binh và Xã hội huyện, Ủy ban, Đảng ủy xã đều đến giúp đỡ, chia buồn. Cả Sở Lâm nghiệp cũng gửi tới một cỗ áo vàng tâm vì họ nhớ cái hồi nhà em làm thợ rừng. Tỉnh đội nhận được tin chậm nên vào hôm ba ngày nhà em mới đánh ô tô xuống phúng viếng một nghìn đồng. Các anh ấy còn nhắc lại kỷ niệm hồi Bịu làm cấp dưỡng ở trung đoàn bộ đội tỉnh…

Trời! Tôi thấy mình như mê dại. Tôi nhầm hay thư viết sai? Cỗ áo vàng tâm hay cỗ áo ghép bằng ván cánh cửa hở huếch hở hoác chiều mưa buồn thương ấy? Bà Nhàn cũng đã ngừng đọc. Hình như thư cũng sắp hết. Bà nhìn chúng tôi. Mặt bà vẫn ánh ỏi nắng gió và niềm vui trên bờ biển nhà nghỉ nọ. Không một gợn thương xót. Cũng chẳng tí chút ân hận, ngậm ngùi. Một lần nữa chúng tôi lại bị bất ngờ và lần này chúng tôi như chết lặng. Tay cầm thư, tay kia vỗ bộp xuống bàn, bà kêu to như vừa khám phá ra một sự thật:

– Tiên sư nó chứ, chết như nó cũng sướng! Thế mà cứ làm ra vẻ ta đây nghèo khổ! Mình dễ đã bằng nó à!

1987

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương TRUNG DU, CHIỀU MƯA BUỒN. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

Chú thích 1. fula là Khăn quàng cổ.