Thực tình là Nam đã vào tuổi ngại đi. Năm mươi, nghề văn chóng già, phần nữa sức khỏe của Nam cũng không được dồi dào như người khác. Nam lại là kẻ hiểu đời, hiểu mình, hay giữ kẽ, chỉ sợ mình gây phiền hà cho người khác. Thành ra lúc nào cũng e e ngại ngại, rụt rụt rè rè. Cơ sở nào có nhã ý hẳn hoi mời Nam xuống đi thực tế để viết, hoặc chỉ là gặp gỡ, trò chuyện với anh em, Nam cũng đắn đo năm bảy lượt, rồi thường là cám ơn họ bằng một lá thư thoái thác và hứa hẹn dịp khác. Dịp khác có nghĩa là không bao giờ!
Nam xử sự như vậy không phải là không có lý. Trước hết, nơi mời mình, chưa nói các chuyện khác, chỉ nói đến chi tiêu thì tốn kém đã là cái chắc. Ăn ở của khách không thể không lịch sự. Lại còn xe đón xe đưa. Lại còn quà cáp, tặng phẩm. Lại còn phong bì tiền tiêu vặt. Bạc triệu chi cho một ông nhà văn ra cái lạt như chơi. Trong khi làm ăn, kiếm được đồng bạc đâu có dễ! Lúc này, thật giả lại đang khó phân ngôi. Về, viết cái gì, chẳng may sai sót, tình ngay lý gian, há miệng mắc quai, tiếng để đời! Vả lại, văn chương là chuyện đời thông qua việc đào xới bản thể mình ở chiều sâu tâm hồn chứ đâu phải là đi hớt lấy cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật. Đâu có phải cứ lăn lộn xuống cơ sở, gần gụi cái búa, cái bay, sống giữa tiếng máy, mùi than thì mới viết được văn hay!
Nhưng cuối cùng thì Bân, nhà báo, bạn Nam đến. Cao lớn, chắc nịch như một võ sư, lông mày lưỡi mác đen sì mực Tàu, tướng con nhà võ, tiếng nói như lệnh vỡ, sức áp đảo mạnh như giọng bài xã luận, Bân dằn:
– Ông phải hiểu rằng bạn đọc người ta đang rất sùng mộ ông, sau mấy cuốn sách vĩ đại ông vừa lăng ra cho thiên hạ vừa rồi. Nay, ông xuống trò chuyện với người ta về những cuốn sách ấy thì có gì là sai nào!
Ngừng một lát, rồi Bân mới lại nhẩn nha:
– Tháng trước có một lão nhà văn cấp phường ở tỉnh xuống, huyện này họ còn treo đèn kết hoa, chăng cờ đón rước! Rồi đích thân ông bí thư đánh xe đưa anh chàng văn sĩ quèn này đi các nơi. Thôi thì đủ: nói chuyện, phỏng vấn, quay phim, xin chữ ký. Văn chương nó có lộc của nó. Mình chỉ tiếc cái người đáng được hưởng lộc là ông thì ông lại đang hát khi xay lúa, múa khi tắt đèn!
Thấy đem lộc ra làm mồi cũng chẳng hấp dẫn Nam, Bân liền chuyển giọng:
– Ông Nam ạ, tôi vẫn phục sự hiểu đời của ông. Nhưng ông hiểu một mà chưa hiểu hai. Người ta mời ông xuống tức là người ta có nhu cầu. Sống phải thực hiện nhu cầu của người khác, đó là luật đời phải hiểu. Nay mai, khi nhu cầu này hết, ông có muốn đi người ta cũng không mời. Ở đời, cần phải hành động đúng lúc, đúng thời điểm, ông ạ.
Vẫn chưa thuyết phục được Nam. Kể cả Bân thề thốt rằng đây là vùng Bân rất quen, chủ tịch huyện là con ông chú, một thằng hiền khô nhưng thích giao du với văn nghệ sĩ. Rằng sẽ không có phiền hà gì hết. Anh không thích ở khách sạn cũng được. Gì chứ ăn uống xuềnh xoàng thì người ta giơ cả hai tay đồng ý. Còn viết? Không cần! Là người hiểu biết, người ta chỉ đơn thuần quý anh mà mời anh thôi. Người ta không cầu lợi! Mà lợi quái gì, mấy câu văn của anh!
Ấy vậy mà cuối cùng Nam xiêu lòng. Thật bất ngờ. Vì chỉ do tình cờ Bân buột miệng, đầy vẻ chán nản:
– Thôi, ông không đi thì thôi! Nhưng thật là phí đấy. Một vùng trời mây non nước bán sơn địa tuyệt đẹp. Một vùng văn hóa cổ nữa. Hoài của!
Tuy vậy Nam vẫn thấp thỏm lo mình nhẹ dạ cả tin. Xưa nay, anh vẫn là người hay cả nể. Sáng hôm sau, Nam đang sửa soạn hành lý để chờ thằng con đèo ra ga xe lửa thì có tiếng ô tô bấm còi ở ngoài ngõ; nhìn ra, Nam đã thấy Bân lủng liểng cái túi da đựng máy ảnh treo dưới cổ, đang lóp nhóp chạy vào. Bất ngờ quá, anh Nam. Tối qua tôi đã điện bảo họ, rằng chúng tôi đi tàu hỏa cho khỏi phiền. Thế mà sáng nay, bốn giờ đã thấy ô tô của họ xịch ở cửa! Nam còn đang nhíu mày nghi ngại tính chân thật của câu chuyện thì bỗng thấy Bân kéo đánh xoẹt cái khóa ở túi đựng sách bút của mình. Quay lại, Nam bắt gặp Bân đang nhét vào miệng cái túi vừa mở một phong bì dày cộm: Họ gửi anh và tôi mỗi người một ít tiền tiêu vặt. Trời, đã làm được cái gì đâu mà cầm tiền của họ. Đoán được ý nghĩ của Nam, Bân xua tay ghé tai Nam: Đáng là bao. Anh cứ để mặc tôi xử lý. Nào, đi!
Nam mới quen Bân độ vài năm nay, trong mấy chuyến đi cơ sở. Ít lâu nay, mời mọc nhà báo, nhà văn đến thăm, đến tìm hiểu tình hình để viết bài động viên phong trào đã thành thông lệ. Kỷ niệm ngày truyền thống của ngành. Nhân bốn mươi năm ngày thành lập xí nghiệp. Lễ khai trương liên doanh… Đó là những dịp rất thuận lợi để cơ sở đặt giấy mời nở nang mặt mày vì có cả một đoàn nhà văn, nhà báo có tên tuổi đến thăm, tất nhiên thăm là sẽ viết bài ca ngợi để đọc trên đài và in trên các báo cả nước. Nam thường tham gia các chuyến đi ấy một cách hào hứng. Một phần vì nhờ nó mà anh biết thêm được bao nhiêu điều mới lạ. Cây chè lão đại Suối Giàng xanh tươi và ngọn gió Lào thổi lửa. Thác Cam Ly xinh xắn và thủy điện Sông Đà hùng vĩ. Miền biển Trà Cổ địa đầu và chót mũi Cà Mau ngón chân vạn dặm ở phía nam đất nước. Kiểu uống rượu xoay vòng suồng sã của đồng bào Nam Bộ và lối ăn Huế kiểu cách. Đà Lạt xứ hoa, miền mộng mơ và Vũng Tàu sóng gió sôi động. Làm sao Nam có thể đặt chân tới những vùng đất xa xôi ấy, thấy được cảnh quan, cảm nhận được cuộc sống ở những nơi ấy nếu như Nam bỏ tiền túi ra, tự đi một mình?
Nam quen biết Bân lần đầu trong chuyến đi vùng chè Nghĩa Lộ. Thực tình, là Bân chủ động làm quen với Nam: Tôi rất thích đọc tác phẩm của anh. Có thể nói là mê! Anh không thể tưởng tượng được đâu! Trên giá sách của gia đình tôi đủ hết tiểu thuyết, truyện ngắn của anh. Đặc biệt thằng con tôi đang học Đại học Văn, nó nhất quyết xin làm luận án tốt nghiệp về anh! Dầu là khiêm tốn, những lời ấy của Bân cũng khiến Nam cảm động. Tuy vậy những cảm mến ban đầu của Nam với Bân đã giảm sút đi rất nhiều ở cuối chuyến đi. Bân có đầy đủ ưu thế và cá tính rất riêng biệt, mạnh mẽ của người làm báo. Cao lớn, khỏe mạnh, ăn to nói lớn, hiểu biết rộng, tự tin, Bân tới đâu là ở đó vị nể, thậm chí e sợ. Cốt cách con nhà báo xông xáo, khẩu khiếu hết sức hoạt, lại thêm cái tài lẻ xem tướng số, đoán tử vi nên ở đâu Bân cũng tạo được một sức hút quanh mình. Y yêu cầu điều gì, chẳng ai dám từ chối. Vừa biết quyền lực của mình, lại vừa uyển chuyển trong giao tiếp, cần ngọt ngào có ngọt ngào, cần bỗ bã thì bỗ bã nên nói chung y muốn gì được nấy. Chỉ có điều Nam hơi khó chịu là Bân ồn ào quá, thậm chí hơi lăng xăng và buông tuồng. Cách sống ấy khác với Nam. Nam vừa thấp bé nhẹ cân, bề ngoài đã xoàng xĩnh, lại ăn vận cẩu thả và tính tình rụt rè đến kỳ lạ. Con nhà văn nó phải vậy ư? Vậy thì một anh nhà báo phát tiết anh hoa ra miệng, ra bên ngoài thì cũng phải và Nam nên chấp nhận.
Nam tự bảo mình vậy. Nhưng cuối cùng thì Nam hiểu điều mình không muốn nói thành lời: Bân thực dụng quá! Bân coi nghề chỉ là một phương tiện cần triệt để lợi dụng để kiếm chác. Mấy lần, Nam đã đỏ chín mặt, vì lời Bân giới thiệu anh trong các cuộc họp long trọng với các cấp lãnh đạo địa phương. Lời giới thiệu tên tuổi, tác phẩm, sự nghiệp của y vừa rỗng tuếch, vừa râu ông nọ cắm cằm bà kia, sai toét! Có bao giờ thấy nó cầm quyển sách đọc đâu, cái thằng hoa thơm đánh cả cụm, mít ngọt đánh cả xơ, mía ngon bòn cả vỏ! Bạn đồng nghiệp cùng chuyến đi nhận xét Bân như vậy. Vì cuối chuyến đi, Bân làm mất mặt cả đoàn nhà văn, nhà báo. Bân chửi rủa giám đốc một nông trường chè nọ là thằng bần nông xảo quyệt, chỉ vì ông ta hứa là biếu y năm yến chè nhưng lại bảo tài vụ đòi tiền. Thằng này rồi nó ốm nặng với tôi. Nó không biết rằng chỉ cần một cú phôn của tôi với tổng giám đốc là nó bay à! Trên ô tô trở về, Bân hậm hực nói vậy. Tất nhiên Bân chỉ nói dọa thôi!
Ủy ban nhân dân huyện N đưa chiếc xe Volga màu sữa còn mới lên đón. Đi cùng lái xe còn một người nữa. Lên xe là Bân chộp tay người này, cười híp mắt, oang oang:
– Giới thiệu với anh Nam, cậu Lược phó văn phòng ủy ban huyện! Đi với ai, chứ đi với tay Lược thì yên trí rồi! Còn giới thiệu với Lược, anh Nam, bậc anh cả, sư phụ trong làng văn chúng mình. Anh Nam nể lắm mới nhận lời đi đấy. Tuần sau ông ấy đã phải đi họp ở Bắc Âu rồi mà, Lược!
Chưa kịp để Nam bắt tay Lược và cải chính điều Bân vừa nói. Nam đi họp ở Bắc Âu. là hoàn toàn do Bân tưởng tượng ra, Bân đã vỗ bộp vai anh lái:
– Ta rẽ vào Nam Ngư làm bát phở gà lót dạ đã chứ, chú em!
Lược loắt choắt, tóc chờm gáy, đeo kính râm Mỹ, bộ dạng đang tập tọng ăn chơi, có vẻ hơi bị động, giơ tay xem đồng hồ. Bân đón ý, cười hít hà:
– Định ăn trưa ở Hải Dương à? OK! Không sợ muộn đâu. Vù đi!
Nam từ chối bát phở gà, lấy cớ đã ăn cơm rang ở nhà rồi và bụng dạ rất tồi. Ngồi với chén trà nóng, nhìn Bân sùm sụp ăn và ầm ĩ gọi bia, Nam thấy lo ngại cho tính cả nể của mình. Không khéo rồi anh lại thành vật tung hứng trong tay Bân cũng nên.
Quả nhiên, điều Nam lo ngại đã là sự thật khi ô tô đến khách sạn đặc sản Hải Dương. Ngày tháng Năm nắng lửa vừa nóng vừa oi. Suốt dọc đường, Bân đã lầm bầm rủa cái xe Volga thổ tả mặc dầu Lược đã phải luôn miệng thanh minh rằng chiếc Toyota đời mới gắn máy lạnh vừa cho ông Ngân hàng Trung ương xuống xét duyệt kế hoạch mượn, mong Bân thông cảm. Giờ, vừa ngồi vào bàn ăn, Bân đã giũ áo, quát: Quạt đâu? Để khách chết thiêu chết đốt thế này à? Cô bé tiếp tân bé choắt, xanh rớt hớt hải chạy đi bật quạt trần, quạt cây, vừa quay trở lại thì Bân quát gọi bia. Cô nọ lập cập bê khay bia chai Vạn Lực ra, vừa đặt xuống mép bàn, Bân đã gạt tay: Vứt! Ai uống cái thứ bia rởm này. Bia lon Halida đâu? Rồi chỉ tay vào Nam, sừng sộ với cô bé, rất ngỗ ngược và vô lý: Có biết ai đấy không? Nam ước giá chui được xuống gầm bàn! Ăn uống no nê rồi, Bân vơ hết bốn, năm lon bia chưa mở cho vào túi xách rồi khệnh khạng ra xe. Gặp Lược mồ hôi mồ kê nhễ nhại chạy đi gọi điện về N báo giờ giấc ô tô đến, Bân kéo lại, khật khưỡng dở say dở tỉnh: Đặc sản mà ăn như cái đầu b Tôi mà gọi điện cho chủ tịch tỉnh thì thằng cha chủ nhiệm khách sạn này toi ngay!
Hai ngày làm việc ở ủy ban huyện N, Nam càng thấy mình dại. Quỹ thời gian có hạn, đầu tư vào đâu phải tính. Đi đâu phải tính xem liệu có viết được cái gì ra trò một tí không rồi hãy đi. N không có điểm gì trội bật, cũng chẳng có mắc mứu gì đặc sắc. Nghĩa là nó rất trung bình, chẳng đáng khen và cũng chẳng nên chê. Cái gì cũng mờ mờ nhạt nhạt. Một bài báo cũng khó viết nữa là.
Tiếp Nam thoạt đầu buổi sáng là cả ban thường vụ huyện, đến chiều chỉ còn Kình, Trưởng Ban tuyên giáo. Kình sáu mươi mốt tuổi ta, vừa trò chuyện với khách vừa xoa bụng chế ngự cơn đau dạ dày. Dạ, huyện N là huyện nghèo. Từ trước Cách mạng đến giờ, dân vẫn quen dạ ăn ngày có một bữa thôi. Sở dĩ chưa phải đi ăn mày là vì có tí kinh tế đồi. Trồng được ít bạch đàn, chăn nuôi được ít lợn, trồng được ít thuốc lào. Cứ cái giọng đều đều như đọc kinh, Kình nói việc này qua việc khác, việc nào cũng chung chung, đại khái. Hỏi số liệu nào hoặc chi tiết nào là lại phải lục sổ sách, hoặc quay điện đi các nơi. Kình cười thông cảm với Nam: Khoảng hơn năm nay, tôi đã sửa soạn nghỉ hưu mà, anh.
Hơn một ngày ngồi với Kình là cực hình, một mình Nam phải chịu. Một mình Nam phải chịu! Thật là như thế! Vì buổi nào cũng giống buổi nào, ngồi chưa ấm đít, Bân đã đứng dậy: Anh Nam cứ làm việc nhé. Tôi đi đằng này một lát. Bân đi đâu? Có trời biết! Chỉ thấy sắp đến bữa là Bân mò về. Và chẳng bao giờ là về không. Hết túi to đến gói nhỏ. Rồi ghé tai Nam xuýt xoa: Tuyệt cú mèo. Chiều nay chúng mình sẽ chén lợn sữa quay, hoặc: Tôi đã bảo văn phòng tìm ba ba. Về đây mà không chén món này thì chẳng nên về làm gì!, hoặc: Anh có cần mua gì không? Đường, vải, sữa. Hàng lậu họ tịch thu được, bán giá nội bộ.
Còn hôm nay, buổi cuối cùng, Nam vừa gập sổ tay vừa cám ơn Kình thì Bân về, bá cổ anh, rối rít: Chuẩn bị đi, anh Nam. Ta không ăn cơm ở văn phòng, rồi ghé tai Nam, thầm thì: Có một tay nó mê văn anh lắm. Nam hỏi: Ai thế? Bân cười khì khì: Hãy cứ biết thế đã. Ta đến nhà nó ăn cơm. Và chưa kịp để Nam tỏ thái độ chần chừ, Bân đã hùng hổ lôi tay anh, trợn mắt: Nó ngồi ở phòng thường trực từ hai giờ chiều chờ anh, đòi gặp anh bằng được. Tôi nói mãi nó mới chịu về. Chả lẽ anh lại có thể từ chối lời mời của một kẻ nhiệt tình như nó?
Nam đã được đền bù. Nam đã nhận ra được một ân thưởng bất ngờ. Là bởi vì ra khỏi cơ quan huyện N, anh gặp ngay một vùng sơn thủy cực kỳ tráng lệ. Và anh sực nhớ, chính là vì nó mà anh đã buông mình theo yêu cầu của Bân, đi chuyến đi này.
Chiều đầu hạ. Tiết xuân còn lưu luyến trong hơi sương phơn phớt tím dâng lên từ mặt đất ngập ngừng, cùng với khí núi từ dãy sơn mạch hùng vĩ phía trái tỏa ra, tạo nên một cảm hứng giao thoa, vừa hoang dã cô liêu vừa tràn đầy sôi động. Gió lướt thướt như xiêm áo những linh hồn trinh nữ trong vũ điệu yêu đương. Cảnh đìu hiu và thanh tĩnh. Đang trong lúc chuyển giao thời gian giữa mặt trời hồng chấm hết chu kỳ chiếu sáng và mặt trăng vành vạnh tươi vàng lặng lẽ nhô lên sau dãy đồi trập trùng thoai thoải miền bán sơn địa.
Trăng lên, tròn đầy, bồng xốp, không một vang lộng. Không gian như căn buồng vừa mở toang bốn phía cửa, thênh thang ba chiều. Mặt đất đá có tuổi đời ngàn vạn năm, từ những kỷ địa chất xa xôi đang thở mùi già lão lúc chiều tàn bỗng hồng dậng lên niềm hân hoan thiếu nữ tuổi yêu đương. Bị đẩy ra xa, rặng núi đá cắt lên chân trời những đường nét sắc ngọt. Dưới nó, điệp điệp đồi đất, xếp thành những bậc thang dẫn lối xuống một thung lũng dài hình lá lúa, có con đường mòn lắt lẻo, xuyên qua những vạt rừng bạch đàn lá liễu xanh mờ và những vệt hoa rừng dại vàng chóe sắc nắng, sản phẩm của một trí tưởng tượng phi thường.
Nam có cảm giác bị lạc lối trong một chiêm bao lạ. Thế giới như một tổng thể năng lượng không thể đo được và không bao giờ hao cạn. Nhận ra điều đó, Nam đồng thời thông hội được với nỗi buồn thê thiết về sự lãng quên của nhân thế, tình trạng gián đoạn của lịch sử, khi dừng lại trước phế tích của một tòa thành đá cổ. Đập vào mắt anh là hình khối chiếc cổng tam quan sừng sững uy nghi trổ ba vòm cửa, ghép bằng những phiến đá hình thoi nêm, đang hun hút gió về. Tòa thành kỳ vĩ này chỉ còn lại cái cổng lớn và đứng dưới chân nó, đưa mắt sang tả, hữu, Nam có thể nhìn thấy một vòng cung rộng nhấp nhô cả ngàn phiến đá vuông thành, đang thầm thì hát khúc ca về sự bất tử của chất liệu.
Cảnh vật gây niềm xao xuyến. Nam đang hướng tới sự đồng nhất bản thân mình với một bản thể cao siêu và trừu tượng. Trào nước mắt, anh nhìn thấy lẫn trong cây cỏ hoang vu trên những eo đồi, gò đất, những bệ thờ, tam cấp, những bờ đá chạm trổ long ly quy phượng, những khối hình ngựa đá, voi đá, nghê đá và những khúc rồng đá uốn mình, giương vi, nặng nhọc đang cố cất mình khỏi sự vô tri buồn tẻ và sao nhãng cố tình.
Bất giác Nam bỏ con đường mòn, bỏ cả Bân, đạp chân lên thềm cỏ hoang, leo qua một bậc tam cấp, bước lên một tầng nền cung điện đã sụt lở ngả nghiêng. Anh nhận được ngọn gió từ ngàn xưa rền rĩ bay về. Một thời đại đã dừng chân ở nơi đây, đã rực rỡ phát sáng, đã sụp đổ hoang tàn.
Cảm giác hụt hẫng, cô đơn chế ngự Nam. Nam phóng tầm mắt ra xa để tìm chỗ nương tựa. Trong ánh trăng rười rượi vàng đến não lòng là những thôn xóm kết tụ từng vùng xanh như những cụm khói đặc. Ôi, những trang trại, nơi tá túc của những người lính trận thuở lập quốc, đã dẹp xong giặc ngoài, nay trở về với công việc cày cuốc. Họ đang vỡ đất, gây rừng, nuôi lợn, trồng chè, trồng thuốc lào. Bỗng nhiên Nam thấy mình như một hình nhân không có thật đang bơ vơ giữa hư ảo dật dờ.
Bân chợt reo: Hắn kia rồi! Và Nam nhận ra, theo tay Bân chỉ, bóng một người đàn ông mỏng mảnh và cong như một sợi lạt, cô lẻ một thân một mình trên một ngọn đồi nhỏ, vàng đậm ánh trăng.
Kẻ mê văn Nam, như lời Bân giới thiệu, có hơi thở rất nặng. Hai bàn tay anh ta là những lóng xương chắp lạnh buốt bập vào tay Nam khi Nam bước tới. Trạc ba mươi lăm, ba mươi bảy theo phong vẻ nhưng mặt anh ta già hơn tuổi nhiều. Vóc người cheo choắt. Gương mặt nhỏ, nền da đen sạm, thiếu sinh khí, trừ đôi mắt. Hai con mắt tròn như mắt cá cháy lên vẻ tinh quái. Mừng quá, lưỡi anh ta líu ríu, không rõ một tiếng nào được phát ra. Rồi cứ như thế, anh ta lăng xăng đi bên trái, lúc bên phải, dẫn độ Nam đi vào trong xóm.
Trăng thấp thoáng sau những vòm lá. Mặt đất loang lổ. Nam bước thập thễnh, tâm trí còn vấn vít những vang hưởng của cảnh quan và không khí cô liêu khi nãy. Nam chỉ thật tỉnh táo khi đi qua cái sân lóa ánh trăng, bước lên một ngôi nhà gạch ba gian, có hàng cột cái to tròn, nhẵn thín, vô lý như từ một ngôi đình nào đó lạc vào đây. Lòng nhà trống tuênh. Ba gian, ba cái giường cũ với những manh chiếu nát phủ trên. Một chiếc đèn ba dây treo ở gian giữa ung ủng vàng như cái nhọt mưng mủ. Không thấy một cuốn sách nào chứ đừng nói là một giá sách, cũng không có bàn thờ hương khói trong căn nhà chắp vá vật liệu, nhiễm vẻ ăn xổi ở thì, rộng sâu như một hang động thời cổ đại.
Bân đã xua đuổi hết ám ảnh, đưa mọi người trở về thực tại bằng cử chỉ lột mũ, đập mạnh xuống chiếu và lăn ềnh ra cái giường kê ở gian giữa.
– Thế nào, ông Thuấn định chiêu đãi bọn này cái gì đây?. Ngáp một cái thật dài và duỗi xoạc tay chân, sau câu mở đầu, Bân liền kêu mỏi chân, đau nhức xương cốt.
Thuấn, tên chủ nhân, đón siêu nước đen sì sôi phì khói trắng từ tay một người đàn bà còm cõi, che mặt tùm hum, vừa từ bếp đi qua sân, đưa lên.
– Dạ, có chứ ạ! Có chứ ạ! Nhưng trước hết là trình các anh cái này đã! Hà hà…
Thuấn nói láu táu, đứng trên một cái chăn dạ gấp, chân kiễng, những ngón chân cổ bãi rộng, với tay lên một mảnh ván bắc ngang qua hai xà nhà. Lát sau, ịch một tiếng, cả người anh cùng cái cặp da căng phồng nặng trịch ập xuống mặt giường. Bụi tung một lớp mờ mờ ngàn ngạt. Mặt ngời lên một nỗi hào hứng ma quái, những ngón tay xương xẩu lập cập kéo khóa cặp, Thuấn lôi ra từ trong lòng cặp một đống những vở viết, giấy rời, đủ các khổ to nhỏ, lem nhem, bẩn thỉu. Ngồi cạnh Thuấn, Nam nhận ra từ Thuấn tóa ra thứ hơi người rất lạnh lẽo. Nhìn cái đầu to quá khổ của Thuấn ngật ngưỡng trên đống giấy vở, nhớ đến những ngón chân bãi rộng của Thuấn, Nam có cảm giác đang ở gần với một nhân vật cổ quái.
Bân đã dậy. Thấy Thuấn đang vuốt lại những mép giấy quăn queo, Bân lảng mắt, nhìn quanh, rồi bỗng nhiên nháy mũi như một thám tử lành nghề:
– Thuấn à! Có mùi gì?
– Dạ.
– Mùi gì như mùi thuốc lào, Thuấn?
Thuấn quay lại, cái cổ dài như cổ ngỗng, chéo một đường vẹo:
– Dạ, thuốc em trồng. Ở trong cái chum sành to ở góc nhà kia đó, anh.
– À!
Góc nhà lù lù một cái chum lớn da lươn, miệng rộng, bịt ni lông. Chẳng một lời ướm hỏi, Bân đi thẳng tới đó, điềm nhiên cởi dây buộc tấm bịt, cúi xuống hít hít, hắt xì hơi một tràng, rồi vốc lên một vốc thuốc đang ủ cay nồng.
Nam rạp mình theo Thuấn trên cái đống giấy tờ lộn xộn.
Thuấn rên rỉ:
– Phải nói là em rất cảm động, vì hôm nay em được đón anh. Dạ, như thế đâu có phải là bần tiện vô nhân vấn, phú quý đa nhân hội, ạ.
Nam nhấc một tập giấy. Tờ giấy nào cũng đặc những dòng chữ viết bằng mực tím nguệch ngoạc, thể hiện một trình độ chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt và cẩu thả vô cùng.
– Cậu cứ để mình đọc.
– Anh ơi, lúc này đây đạo đang suy, sĩ phu cũng bon xu danh lợi, không nghĩ đến danh dự, khí tiết gì nữa đâu. Lúc này vạn vật phải điều lý cho nhau. Thời đại này phóng liêm và trễ nải quá chừng rồi, anh!
Cậu ta nói cái gì thế? Nam nghĩ, mắc kính lão. Góc nhà nọ, Bân lại đang hắt hơi:
– Thuốc nặng quá, Thuấn à!
– Dạ, thuốc mộc, quê em gọi là thuốc tiến vua, thuốc vắt vai. Quân sĩ ngày xưa ra trận mỗi sáng hút một điếu thở khói, khói đặc đọng như khăn quấn cổ ấy chứ! Ra trận có thuốc này, không còn thấy lạnh lẽo, sợ hãi. Bị tên bắn, bị rắn cắn, cứ thuốc này rịt vào là khỏi liền.
– Bao nhiêu một ký ở đây?
– Dạ, ở đây ba mươi ngàn.
– Để cho tớ hai ký nhé!
Nam nhấc một tập giấy nữa. Cái gì nữa thế này? Những hình vẽ âm dương, các đường nét đồ lại các quẻ hào, những hình người, vật thô sơ, quái dị.
Thuấn chành miệng:
– Đây là những chất liệu dân gian cung cấp: chúng chưa có hình thức văn đâu, anh ạ. Chọn lọc, xếp sắp lại cho nó có một hình thức văn, chỉ có bậc thánh nhân là anh em mình mới làm được. Nhưng thiên tài cao đến đâu cũng không lấn át được chất liệu, tức sự đóng góp âm thầm của hàng triệu con người. Dân gian là cội rễ sâu xa, là mố cầu của thiên tài đó anh!
– Cậu nói cái gì thế?
Từ bóng tối, Bân đột ngột ló ra. Thuấn trỏ ngực mình, hổn hển:
– Dân gian là cội rễ sâu xa, là mố cầu của thiên tài. Ở quê em, có câu hát này: Cun cút mà cụt cho xa, đến ngày giỗ cha về mà ăn cá!
– Cái gì?
– Cun cút mà cụt cho xa, đến ngày giỗ cha về mà ăn cá!
– Tuyệt! Toàn những lời thánh dạy, đáng gọi là kinh điển cả.
Thế là thế nào? Nam ngước lên. Cả Bân, cả Thuấn đều đang ở trạng thái sơ kỳ của căn bệnh tâm thần. Thói huênh hoang, tật ảo tưởng. Và những câu nói vô nghĩa.
Bân bỏ cái giường đi ra cửa. Dưới bếp, ánh lửa nhấp nhoáng. Trên cái sân lênh láng ánh trăng, ba đứa trẻ từ năm tuổi trở xuống đang nghê nga trên một manh chiếu rách.
– Này, ông Thuấn, ông bảo bà xã làm gà đãi bọn này, hả? Vẽ!. Bân quay lại, cười hề hề, hỉ hả.
Nam cau mày, giờ anh mới nhận ra hơi thở của Thuấn sặc sụa mùi bệnh tật. Cổ Thuấn đỏ tấy. Ngực Thuấn như ngực gà. Tim, phổi đều có vẻ ốm o cả. Liệu Thuấn còn sống được bao lâu? Nam đột ngột nghĩ và cúi mặt nhìn vào tập bản thảo. Thật sự là bản thảo rồi. Đó là những mẩu truyện văn viết bất thành cú, đầy rẫy những đại ngôn như những câu Thuấn vừa nói lắp ráp lại. Nhiều nhất là thơ bất thành thơ. Sản phẩm của một tâm trạng bấn loạn sau những cơn chấn thương tâm lý nặng nề và hậu quả của sự thất học, là những câu viết xuống dòng, đầu Ngô mình Sở, thỉnh thoảng mới bắt được vận và thật là ngô nghê. Quê ta, quê mình, Tự trào, Say say tỉnh tỉnh, Vịnh con lợn, Vịnh con cua, Đi bán gà cho vợ, Tặng chủ nhiệm ba vợ… Cùng với những tựa đề quen thuộc nọ là những bài viết bậc thang lảm nhảm những câu chữ tối mò về Lenin, về Karl Marx, về Pinochet và thơ ca về vùng Vịnh, thơ tặng PLO… Tất cả đều ký chung một bút hiệu: Cóc vườn!
– Anh có hiểu bút danh Cóc vườn của em là có ý gì không?
Đột ngột, Thuấn chồm lên áp sát mặt Nam. Nam lùi lại, tránh một hơi thở từ ngực Thuấn, có lẽ đã ruỗng nát, thốc ra nồng nặc.
– Nó thể hiện lý tưởng của em: Con cóc ở góc vườn yên vui.
– Độc đáo đấy!. Bân đứng ở cửa, tai dõi theo tiếng chặt thịt gà ở dưới bếp, chêm một câu.
Thuấn hào hứng:
– Các anh ở phòng văn hóa huyện cũng khen em hệt anh Bân khen. Năm ngoái, huyện em tổ chức thi truyện ngắn. Em lên huyện, xin dự trại sáng tác. Các anh ấy bảo: Định viết truyện gì, kể nghe. Em kể thế này: Quê tôi có một lão chủ nhiệm ba vợ tên là D Ba vợ nhưng vẫn rình mò nhà gái góa. Một hôm, từ kho hợp tác xã, lão vác ra một bao nặng trắng xóa. Bắt gặp, tôi liền hỏi: Ông vác gì thế? Lão đáp: À, cát đấy mà! Ôi, cát gì mà lại trắng thế, họa chăng đó là cát ngọt, tức đường cát đó, ông D? Cả phòng Văn hóa cứ bò lăn ra mà cười. Rồi họ cho em một giấy nhập trại. Đúng ngày giờ, em bảo vợ gánh gánh gạo đi trước, em đi sau lên trại. Nhà nước đang hồi khó khăn, mình phải tự túc. Em động viên vợ thế. Vợ em vui vẻ. Đổi vai đến rịn đỏ cả hai vai thì chúng em đến đích. Em đưa giấy giới thiệu ở phòng thường trực. Người thường trực xem xong giấy, quát: Điên à, ông nhà văn! Đây là trại cải tạo tù thường phạm! Hé hé hé.
Bân cùng bật tiếng cười với Thuấn. Nam nhận ra Bân rất thành thật trong tiếng cười này. Y cười hằng hặc, cười sặc sụa, cười rũ rượi, rồi lăn ra cái giường đang la liệt các trang bản thảo của Thuấn, đập tay, gào:
– Cậu đúng là một thằng cha độc đáo, Thuấn ạ! Như được Bân gãi đúng chỗ ngứa, Thuấn chồm lên:
– Năm kia, một nhà văn lớn đã khen em đúng cái câu anh Bân vừa khen em đó. Thiên hạ nhân, thiên hạ tài. Người tài còn nằm im đó, chưa vội vỗ tay đâu. Ông nhà văn có bộ râu dài ấy uống rượu, rồi nôn ra nhà, rồi ôm em khóc: Cậu là một thằng cha độc đáo. Cậu là phượng hoàng ở chốn cheo leo chứ không phải là con cóc vườn đâu…
Cửa ra vào có tiếng chạm đánh kịch.
Bân chồm ngay dậy. Người đàn bà như cái bóng đen thui lùi lũi vào với cái mâm tơ hơ mấy đĩa thịt gà trắng nhợt.
– Để mời các bác nhà văn và thầy em.. Người đàn bà nói, rồi lui về góc nhà, đứng như đầy tớ chờ chủ nhà sai khiến.
Tới khi Bân leo lên giường sắp đũa kêu: Ơ, không có rượu à?, chị mới chạy vụt đi.
Bữa ăn kéo dài. Rượu ngon. Gà mái ghẹ. Mềm môi, Bân một mình ăn không biết no, uống không biết say. Quả thật, chỉ có mình Bân ăn. Thuấn vào bữa chỉ cụng chén lấy lệ, rồi xin kiếu và ngồi xoa bụng, ôm cái điếu thuốc lào. Dạ dày đã cắt hai phần ba, giờ cả ngày Thuấn chỉ ăn một bữa với lưng bát cháo hoa. Gần đây lại bị sỏi thận và tâm phế đều đã suy kiệt nên việc nhà, việc đồng ruộng đều phó mặc cho vợ cả.
Nam cũng không ăn. Lòng dạ vốn đã đầy ứ ngổn ngang chuyện đời, nay đang tự hỏi: Mình đang tiếp xúc với cái gì đây? Xác định mãi vẫn cứ nửa tin nửa ngờ. Gương mặt lớp người này chả lẽ là thế ư? Sao nó tự thị, bệnh hoạn, thiếu căn cốt, nền tảng thế! Nó đang ở trong trạng thái rối loạn tâm thần? Nghĩ vậy, nhưng từ lúc thấy Thuấn ngồi xoa bụng, ôm điếu thuốc lào, mặt xanh bủng, biết Thuấn mang toàn trọng bệnh thì lại nghẹn ngào thương xót. Cũng không đành tâm ăn, vì vừa đặt chén rượu, bỗng nghe thấy ngoài sân tiếng người đàn bà mắng át tiếng ỉ eo khóc vòi của ba đứa trẻ đói khát: Của đâu mà ăn lắm thế! Trưa đã ăn rồi thì thôi chứ! Câm ngay! Lại chợt nhớ tới lời giới thiệu của Kình, Trưởng Ban tuyên giáo huyện: Dân chúng tôi từ xưa đã quen dạ ngày ăn một bữa thôi.
Nam vội vã cắm mặt đi qua cái sân có ba đứa trẻ ngồi đòi ăn khi chia tay Thuấn. Tự trọng và yếu đuối, lại quá nhạy cảm, Nam không dám, không nỡ nhìn thẳng vào thực cảnh buồn thảm nọ. Nam chỉ thật mở mắt, thở đều khi ra khỏi con đường làng.
Trăng càng đêm càng đơn độc. Cả một vùng đất ắng lặng một cõi hoàn vũ riêng, thật huyền hoặc. Nổi lên trong thanh vắng những gò đống di vật của một thời đã trôi tuột về quá khứ trong lãng quên. Tất cả sẽ tan biến hết ư? Cả sự huy hoàng và nỗi thảm hại? Cả thói vụ lợi tầm thường kiểu xôi thịt và căn bệnh ảo tưởng của kẻ thất học, yểu nhược, ốm o lúc này đang thiếu hẳn sự chia sẻ của một tấm lòng quảng đại và sự chỉ bảo thẳng thắn?
Bân đi không thật chân. Rượu vào thẳng máu, tê tê giần giật mỗi đầu ngón tay, ngón chân y. Y bá vai Nam. Y cất tiếng oang oang. Y bật cười khanh khách. Y bảo: Thằng Thuấn này điển hình cho cái ngu, cái háo danh của dân mình. Y bảo: Y không ngờ một kẻ đã đi qua chiến tranh mà còn ngu độn đến thế! Thuấn là đại úy đặc công đấy chứ. Hắn bị nhiễm chất độc da cam. Ba đứa con đứa nào cũng dị dạng: đầu to như cái giành mà chân như chân nhái. Sống thật là một tai họa. Rồi đột ngột, Bân kêu to:
– Thôi chết cha tôi rồi! Còn hai ký thuốc lào mình bảo hắn cho mình!
Nam ngồi rũ xuống vệ đường. Bân dún chân chạy ngược lại con đường. Nam cảm thấy không sao có thể đứng dậy được nữa; nước mắt Nam trào ra khỏi tròng mắt, Nam khóc một mình, lặng lẽ giữa quạnh hiu.
1993