Có người cho rằng Mùa lá rụng trong vườn là sự tiếp tục, bổ sung của cuốn tiểu thuyết Mưa mùa hạ. Kể cũng phải. So với Mùa lá rụng trong vườn, Mưa mùa hạ bao quát một không gian rộng lớn hơn. Trong cuốn tiểu thuyết đó, Ma Văn Kháng hình dung những tiêu cực đang hoành hành ngoài cuộc đời cũng giống như những ổ mối đang ngày đêm đục khoét có nguy cơ làm sụp đổ những thân đê. Lần này trong Mùa lá rụng trong vườn, điểm nhìn của nhà tiểu thuyết tập trung chủ yếu vào gia đình, miêu tả sự biến động của nó dưới sự tác động đa dạng, phức tạp của hoàn cảnh xã hội trong thời kỳ quá độ từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội vô cùng khó khăn, gian khổ và quyết liệt hiện nay.
Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng trăn trở một câu hỏi: Gia đình, giọt nước trong biển cả, cá thể của xã hội liệu có vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này? Cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới. Quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng cuộc sống mới, con người mới trong thời kỳ quá độ thực chất vẫn là một cuộc đấu tranh giai cấp không kém phần gay go, quyết liệt, nhiều khi phức tạp, dữ dội đến không ngờ.
Ma Văn Kháng đã đặt gia đình vào bối cảnh lịch sử cụ thể hiện nay để xem xét. Nhà tiểu thuyết đủ tỉnh táo để nhận ra rằng, khi hoàn cảnh thay đổi thì gia đình cũng không thể tránh khỏi những biến động, đổi thay. Ngày ấy, tức thời kỳ chống Mỹ cứu nước, T.Đ.X, cuộc sống bình dị và rất khác bây giờ. Chiến tranh thu hút toàn bộ nghị lực của mọi thành viên dân tộc và mặt trận, nơi đối đầu sinh tử với kẻ thù, trở thành người hướng dẫn đạo đức, tình cảm cho mỗi con người ở hậu phương. Ngày ấy, có thể sống gian khổ, thiếu thốn mà không kêu ca. Ngày ấy, những đòi hỏi của cá nhân bị dồn ép lại và ham muốn khát khao không có nhân tố kích thích, con người chưa phải đối đầu với một cuộc sống bị nhiều ngoại cảnh chi phối, thúc ép. Giờ thì cuộc sống triển khai trên hai hướng: phong phú hơn và phức tạp hơn… Chiến tranh là một hiện tượng không bình thường của xã hội. Một khi vấn đề vận mệnh của dân tộc được đặt lên hàng đầu thì số phận của từng gia đình, của mỗi cá nhân tất nhiên phải lùi xuống hàng thứ yếu. Cố nhiên, công cuộc chống Mỹ cứu nước với sứ mạng giải phóng dân tộc, giải phóng cộng đồng đã bao trùm nhiệm vụ giải phóng cho gia đình và từng cá nhân. Song, nếu nghĩ rằng giải phóng cho dân tộc, cho cộng đồng là đã hoàn toàn giải phóng cho cá nhân rồi thì có phần đơn giản quá.
Mùa lá rụng trong vườn chủ yếu mô tả sự biến đổi của gia đình trong thời kỳ quá độ hiện nay. Gia đình, cái vùng tưởng như yên ổn, cái mà có lúc tác giả gọi là vùng an lạc trong tình hình mới, có ai ngờ lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế. Ôi, cái vùng tưởng là tĩnh lặng, cái vùng hay bị lãng quên trong mối quan tâm hằng ngày có ai ngờ lại là nơi khởi thủy, chung cục của lắm điều bất hạnh. Lối sống ích kỷ, buông thả theo những dục vọng thấp hèn, coi đồng tiền là trên hết, bất chấp những nguyên tắc, luật lệ của đạo đức xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào từng gia đình, làm đảo lộn cả những gì trước đây được cho là thiêng liêng, cao cả. Chính hoàn cảnh xã hội thời kỳ quá độ nhiều khó khăn, lắm tiêu cực hiện nay đã tác động mạnh mẽ tới từng cá nhân trong gia đình, tạo nên những mâu thuẫn, xung đột về cách nhìn cuộc sống, về lối sống khác nhau. Trong gia đình ông Bằng dường như có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu cách nhìn nhận, đánh giá cuộc đời. Cừ xem cuộc đời là sự lừa lọc, đạo đức giả cả thôi. Lý thì thấy đời bây giờ nó tệ lắm, có tiền là xong hết. Một khi quan niệm đời chỉ là một chữ T thôi cũng là lúc Lý có thể bất chấp tất cả, buông thả mình theo những dục vọng thấp hèn. Vốn là người coi trọng đạo đức, ông Bằng không nhìn cuộc đời một cách đen tối như Cừ, như Lý. Ông khinh bỉ cái xấu, nhưng lại chỉ biết dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang tàn phá cuộc sống. Ông né tránh thực tế, dùng cái đẹp lấn át cái xấu, cố tình quên đi cái xấu. Đó là một tư tưởng phòng ngự. Và cho dù ông có định né tránh cái xấu bao nhiêu thì nó vẫn cứ không kiêng nể gì ông. Trong khi đó, Đông lại nhìn cuộc đời bằng con mắt quá đơn giản, sơ lược. Ông Trung tá quân đội về hưu này đã từng lăn lộn, vào sinh ra tử khắp các chiến trường chống Mỹ, bây giờ trở nên lạc lõng, không theo kịp, không hòa nhập vào cuộc sống hiện tại được nữa. Với Đông, mọi sự đều đơn giản, đời có gì phức tạp lắm đâu. Đem cái nhìn đơn giản để xem xét một hiện tượng phong phú, phức tạp như cuộc sống thì tránh sao khỏi cứng nhắc, một chiều, thiếu linh hoạt, uyển chuyển. Khác hẳn với Đông, Luận là người trong cuộc, người đương thời thực sự. Trong cuộc sống hiện nay, anh vẫn tìm thấy chỗ dựa tinh thần trong truyền thống nhân hậu, vị tha, sự hy sinh và nhẫn nại của dân tộc, đồng thời tích cực, chủ động tác động, cải tạo lại hoàn cảnh với một tinh thần trách nhiệm cao. Luận và Phượng là những con người chân chính của cuộc sống hiện nay. Còn tương lai, Ma Văn Kháng đặt niềm tin vào những người như Cần, như Vân, những con người có nghị lực, có bản lĩnh, biết tin tưởng tình yêu và lẽ phải, có lương tâm, có bản lĩnh, có trách nhiệm với cuộc sống hiện tại. Luận, Phượng, Cần, Vân, v.v… là những con người mới tiến bộ nhưng vẫn biết kế thừa, tiếp thu những gì là truyền thống, tinh hoa của dân tộc.
Xã hội dù phát triển tới mức nào cũng không thể coi nhẹ những quan hệ gia đình. Gia đình vẫn tiếp tục tồn tại, như một thực thể xã hội. Với tinh thần ấy, Ma Văn Kháng có lý khi phê phán rằng: hình như có một thời kỳ người ta có ảo tưởng là có thể bỏ qua các quan hệ gia đình, cho rằng nó không quan trọng và đã xong xuôi cả rồi, vì các quan hệ cha con, vợ chồng, anh em… hình như chẳng còn gì phải bàn bạc nữa. Mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội cần phải được giải quyết thỏa đáng. Nếu như số phận của mỗi cá nhân đã từng gắn bó sống còn với vận mệnh của dân tộc thì trong một chừng mực nhất định cũng gắn bó mật thiết với hoàn cảnh của mỗi gia đình nữa, chứ sao! Với cảm quan hiện thực của một nhà văn, Ma Văn Kháng thấy sự cần thiết phải duy trì, củng cố quan hệ gia đình: Thiêng liêng thay cái tế bào xã hội nhỏ nhoi này! Nhỏ nhoi vậy mà là nền móng, mà kết hợp trong nó bao quan hệ. Tình cha con, vợ chồng, anh em, những quy tắc luân lý bất thành văn, bám rễ sâu vào huyết mạch, tâm cảm, giằng níu mọi người trong những giao kết, liên hệ vừa nghiêm chỉnh vừa thân mật.
Trong tác phẩm, chị Hoài xuất hiện không nhiều nhưng phảng phất như là linh hồn, là cái thiện, cái của đạo đức truyền thống. Người phụ nữ này tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình ông Bằng, vậy mà vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui, gắn bó với nó bằng sợi dây tình cảm bền vững, sâu nặng. Có người cho rằng Ma Văn Kháng kêu gọi trở về với cội nguồn, quay về với truyền thống. Một số nhân vật trong tác phẩm quả có gợi cho người đọc ý nghĩ ấy thật, như nhân vật chị Hoài chẳng hạn. Nhưng không hoàn toàn chỉ như vậy. Bất cứ một sự cách tân chân chính nào cũng phải dựa trên cơ sở kế thừa truyền thống. Và ngay cả truyền thống cũng không phải bất cứ cái gì cũng hay, cũng tốt cả. Có những truyền thống tốt đẹp, cần được phát huy, nhưng cũng có truyền thống là gánh nặng cho hiện tại. Gia đình trong thời kỳ mới phải biết kế thừa những truyền thống tốt đẹp, đồng thời phải đổi mới theo xu hướng tiến bộ, cách mạng của thời đại.
Viết về sự biến đổi của gia đình, nghĩ cho cùng cũng chính là viết về sự vận động, số phận của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện nay. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Ma Văn Kháng không phải ở những trang chính luận thông minh mà chủ yếu là ở những hình tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn của anh.
Từng con người trong gia đình ông Bằng hiện lên khá cụ thể, sinh động qua ngòi bút Ma Văn Kháng. Đâu đó ở ngoài đời, ta đã gặp khá nhiều người như Đông,nếu không say mê tổ tôm thì cũng ham chơi tennis.. Bằng lòng với cuộc sống hiện tại, quen nhìn đời bằng con mắt đơn giản, Đông thản nhiên quá hóa ra tàn nhẫn, vô tình. Đông như là người đứng bên lề cuộc sống. Tâm lý an phận, nghỉ ngơi đã khiến Đông chỉ quen thụ hưởng quan hệ tốt đẹp vốn có của gia đình mà chểnh mảng việc vun xới, chăm sóc nó. Đông không làm hãnh diện cho người vợ ở ngoài xã hội và cũng không trở thành người hướng dẫn tinh thần cho vợ trong cuộc sống gia đình. Hạnh phúc không ở bên với những ai bàng quan, dửng dưng với nó. Khi hạnh phúc gia đình tan vỡ, tính cách Đông bắt đầu biến đổi. Cách nhìn cuộc đời cũng khác trước. Từ câu nói cửa miệng quen thuộc một năm trước đây: Đời có gì phức tạp lắm đâu, Đông đã tiến một bước dài khi nhận xét: Cuộc sống phức tạp lắm chứ không đơn giản đâu.
Trong Mùa lá rụng trong vườn, Lý là nhân vật độc đáo, hiện thực nhất. Con người này hễ có mặt ở đâu là có khả năng làm cho nơi ấy sinh động hẳn lên. Suốt thời kỳ chống Mỹ, Lý là một người vợ đảm đang theo đúng cái nghĩa lấy chồng gánh cả giang sơn nhà chồng. Hoàn cảnh mới đã làm cho Lý biến đổi ghê gớm. Lý là một nhân vật phụ nữ phức tạp. Người phụ nữ này có thể rất ý nhị, kín đáo, lại có thể thoắt cái trở nên trắng trợn vô cùng.
Lý đầy nhược điểm bên cạnh những ưu thế lớn lao, nhiều năng khiếu, giàu ý chí nhưng thấp kém hẳn đi vì tính hiếu danh, thói đố kỵ, lòng ích kỷ và thái độ vụ lợi trắng trợn. Tài tháo vát của Lý phát triển cùng với thói ưa thích quyền hành, thèm sai khiến người khác. Lý sẵn sàng che chở, cưu mang những ai biết thán phục, nhún nhường trước chị nhưng cũng tỏ ra ngông ngáo, đáo để với những kẻ tỏ ra hợm hĩnh, ganh đua, chơi trội với mình. Lý mang trong mình những đặc tính cần thiết của con người ở thời kỳ lắm biến động này. Nhưng tính tháo vát, sự táo bạo của chị, trong hoàn cảnh nền kinh tế có nhiều yếu tố tiêu cực, trong cuộc sống chưa hoàn thiện, lắm cạm bẫy, chỉ một ly là biến đổi thành thói xoay xỏa, lừa bịp, dối trá. Chị vốn chông chênh, trong hoàn cảnh hiện nay lại càng chông chênh.
Có nhà văn hào hứng nói với tôi rằng, nhân vật phụ nữ quý tộc của một nhà văn nào đó trên thế giới rất phong phú về thế giới tinh thần, nhưng không thể nói đời sống hằng ngày nhiều lo toan, bề bộn, phức tạp như những nhân vật phụ nữ công nhân viên chức mà Ma Văn Kháng đã có công góp vào nền văn học Việt Nam hiện đại.
Nhân vật của Ma Văn Kháng có cá tính, có sự phát triển tính cách. Ngôn ngữ nhân vật – tiêu biểu là Lý – sặc sỡ sắc màu, lung linh góc cạnh, gần với ngôn ngữ đời sống. Ma Văn Kháng là nhà văn yêu quý thiên nhiên. Những cảnh vật, qua ngòi bút chấm phá của anh, trở nên sống động như có linh hồn.
Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá con người trong thời kỳ khó khăn, phức tạp hiện nay. Nhà văn cảm thông với những lo toan, vất vả trăm bề của người phụ nữ, đồng thời có tình, có lý khi phân tích những thiếu sót, sai lầm của họ. Bà Trưởng phòng Hành chính kia đã có lúc làm Phượng phải thốt lên: Một con người tính khí thất thường như thế sao Phượng lại gặp trên đường đời!, nhưng Ma Văn Kháng cũng nói rằng: Tình thực bà Trưởng phòng không phải là con người độc ác, bà chỉ ác khẩu và hay soi mói người thôi. Và nói cho công bằng, đó cũng là một cách để bà tự vệ. Kém cỏi về năng lực, ít hiểu biết nên bà cứ sợ bị người ta khinh thường, bị người ta tranh quyền. Trong sâu xa, bà vẫn là một người đàn bà từ tâm, cũng hay động lòng trắc ẩn trước nỗi khổ của con người. Cái phần đáng ghét, đáng lên án của Lý cũng được nhà văn nhìn nhận thỏa đáng: Chị Lý không khác chúng ta đâu. Chị cũng như chúng ta. Trong chúng ta, có cái xấu, có cái tốt. Cái xấu, biết nó là xấu, vậy mà cuối cùng nhiều người vẫn không tránh được, ấy là vì dục vọng lại gặp những nhân tố kích thích từ bên ngoài. Có lẽ chị Lý chỉ khác chúng ta ở mức độ, cường độ và sự điều chỉnh bản thân thôi. Bao trùm trong tác phẩm là một cái nhìn nhân hậu, vị tha đối với con người. Chao ôi, con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt, dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoay ngược chiều tức khắc. Từ trong Mùa lá rụng trong vườn vẳng lên một lời đề nghị, khẩn cầu chân thành, tha thiết. Hãy quan tâm đến toàn xã hội, đến mỗi gia đình, đến từng con người! Phải chăm lo cho từng người, Con người cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Không phải con người chung chung, trừu tượng mà là con người cụ thể với những cá tính cụ thể của nó: Cá tính mãi mãi tồn tại và đòi hỏi được quan tâm. Ma Văn Kháng trong tác phẩm của mình đã bắt đầu đặt vấn đề quan tâm đến cá nhân, giải phóng cá tính theo tinh thần cá nhân vì tập thể và tập thể tạo điều kiện phát huy hết khả năng của mỗi cá nhân.
Gia đình, cái vùng đời không còn yên ổn, nó đã phản chiếu toàn bộ sự đa tạp của cuộc sống ngoài đời; vả chăng, mỗi người là con, là vợ, là chồng trong các mối quan hệ thì đồng thời cũng là một con người xã hội với tất cả những dấu ấn của thời đoạn. Bởi thế tuy tập trung viết về gia đình nhưng Mùa lá rụng trong vườn vẫn phản ánh được xã hội, đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa trong cuộc sống hiện nay. Nhà văn vốn giàu về lòng nhân đạo đã đặt vấn đề cuộc sống của người già cần phải như thế nào. Người già đang đông lên trên thế giới này, người già phải tìm đến với nhau. Cả vấn đề giáo dục trẻ em cũng được tác giả quan tâm bàn bạc. Không thể một chiều phê phán những trẻ con hư. Chính hành vi, cách sống của người lớn, của gia đình ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành nhân cách của trẻ con. Trong giáo dục con người, động cơ tốt phải đi kèm với phương pháp đúng nữa. Tuổi trẻ vốn nhạy bén với bất công! Qua Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng cũng phản ánh một hiện tượng có tính chất xã hội khá phổ biến trong đời sống gia đình hiện nay, đó là tình trạng giữa người vợ và người chồng không tạo nên một hệ thống tâm lý sinh hoạt phù hợp giữa hai cá tính. Cá tính đã không làm phong phú thêm, lại gây trở ngại cho nhau. Đặc biệt là tình trạng người chồng không trở thành người bạn tâm tình, người hướng dẫn, người phụ trách tinh thần.
Ma Văn Kháng đặt niềm tin vào tương lai tốt đẹp, vào quy luật muôn đời của cuộc sống, mặc dù trước mắt còn đầy khó khăn, gian khổ. Thật ra thì bản chất cuộc sống vốn là sống động. Và mọi sự xáo trộn thế nào cũng phải tự tìm lấy sự ổn định, sự hợp lý của nó. Mùa lá rụng trong vườn là một khuynh hướng tiếp cận đời sống bằng con đường riêng của nghệ thuật: Hãy từ cửa sổ gia đình mình nhìn ra cuộc đời; và từ cuộc đời hãy chiếu rọi ánh sáng vào mỗi căn nhà, như thế mọi điều sẽ sáng tỏ hơn. Từ Mưa mùa hạ đến Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng ngày càng bộc lộ rõ ý thức trách nhiệm của mình đối với cuộc sống hôm nay.
Giáo sư tiến sĩ Trần Đăng Suyền,In trên báo Văn nghệ, số 40, ngày 15-10-1985.