NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ


– Có thế chứ! Tưởng ông tai ngược được mãi!

Bà Tài cởi cái khăn len trùm đầu màu huyết dụ, giũ đánh phạch, ngẩng mặt nhìn vầng thái dương non trẻ lấp lóa sau đám mây màu xà cừ. Khoảng sân chung của bốn căn hộ, cùng cửa thông ra, phơi phới những quần áo giăng hàng, hớn hở giống bà. Cạnh khuôn cửa nhà bà, chị Nhi công tác ở ủy ban quận vừa trở vào nhà, sau khi đã bật cái quạt con cóc, thốc gió ù ù vào cái bếp lò, nòm vừa bén lửa. Đối diện cửa nhà bà, cô Thơ thợ điện, người gầy đét, chân dài ngoẵng, vừa bê chậu quần áo ra, đặt xuống đất, vặn lưng, nhăn nhó:

– Sắp gãy lưng rồi, bà Tài ơi!

Bà Tài gãi mái tóc đã thấp thoáng sợi bạc, nhe hàm răng vàng ngà, cười hề hề:

– Đêm qua bố em về, lại trót dại hử? Dễ dạ khốn thân, chết cha mày chưa!

– Bà chỉ được cái thế!

– Hề hề. Tao hãi rét lắm. Lên giường là tao vớ cái chăn quấn chặt như cái kén. Tao lấy độc trị độc, cho lão ăn hành dăm. Lão khọm già yếu, sức không kéo nổi cái chăn tao quấn!

– Nhà cháu dạo này cũng yếu lắm.

– Này, một trăm con lợn cùng chung cỗ lòng nhé! Mày có biết thằng xế chồng cái Nhi không? Hôm nào mà nó chạy đường trường Tây Bắc về là đêm ấy rung hết cả nền nhà nhà tao. Mà cái con trông bệu thế mà khiếp, nó rú rít cứ như động rồ.

Cô thợ điện ngoẹo đầu, cười trong cổ họng:

– Bà chỉ khéo tưởng tượng!

– Tao nói điêu tao là con mày! Một đêm hai lần dậy lắp lại giường. Sáng hôm sau hai anh chị lử cò bợ, lê khỏi giường không nổi. Chị kêu: Bắt đền anh đấy! Anh cười trừ: Ai bảo em cứ thúc!

Tiếng hai người bật cười nổi trên nền tiếng đập chăn phùm phụp như vỗ nhịp ở đầu hồi. Nhi đã quay trở ra, áo may ô tím trễ tràng, vừa quăng lên dây phơi cái mền chăn tiết kiệm.

Mặt trời ra khỏi vầng mây màu xà cừ, tung tóe tia sáng. Trời mây quang quẻ, hừng lên vẻ khởi nguyên thời sáng thế. Một nguồn lực thiên nhiên đang rót xuống tràn trề trên vùng ngực núng nính, ký ức một thời đắm dục của bà Tài và trên cái cổ xoải rộng xuống tận tâm oa, chờm lên hai hòn bồng đảo trắng nõn của Nhi, người đàn bà đang tuổi hồi xuân, hai mắt đen láy, sáng rỡ.

Trên chăn, đệm, áo quần phơi phóng, những tia nắng nhảy nhót như những đứa trẻ tinh nghịch bị nhốt trong ngục tù mới được giải hạn. Con mèo nhà cô Thơ đen như một thỏi than gỗ, gầy gùa, bám thân cây dâu leo lên giàn đậu ván đã héo quắt từ vụ đông năm trước. Lông nó óng ánh tia sáng mặt trời. Mặt trời vuốt ve nó. Mắt nó xanh bóng, nó ngẩng lên, ngáp và thả hồn lên vòm trời rộng rãi xanh biếc như một xứ sở hoang đường.

Năm nay trời ra tai, kéo căng cái rét áp đảo như một quyền lực, dài quá tháng Giêng tây, sát tận cái Tết ta. Nhiệt độ giữa trưa ngày nào cũng quẩn quanh bảy, tám độ. Người đi đâu thì chớ, về tới nhà là vội ập cửa lại. Ở thành phố mà bỗng thèm một ngọn lửa đốt trên bản làng miền núi. Rét đâu có rét dai thế! Rét tức cả ngực, mỏi rời cả vai, cứng ngắc cả quai hàm và quắt cả hai tai. Rét đến mức mạ xuân chết rụi. Khoai tây cháy sém cả thân cành.

Giờ thì trời đền bù. Ông mặt trời nhấp nháy con mắt khổng lồ vui vẻ. Ông tỏa xuống mặt đất làn hơi ấm. Mặt đất chan chứa khí dương. Ông nói: Ta ưu tiên sưởi ấm sinh lực của giới nữ.

Thơ vừa khúc khích cười vừa cúi xuống nhặt từng cái áo, cái quần, mạnh tay giũ, rồi vắt lên sợi dây phơi. Nước từ gấu quần, tay áo, trên các dây phơi từng giọt lóng lánh sắc cầu vồng, nhỏ xuống mặt đất kêu tành tạch.

– Chà, bằng cửa hàng quần áo ở Bách hóa tổng hợp rồi. Thời đổi mới có khác. Áo với quần đủ màu, đủ kiểu, la liệt. Nhưng mà này, cười cái gì mà cười khỏe thế?

Nhi chống cái vỉ mây đập chăn xuống đất, nhìn sang cô thợ điện vừa phơi xong chiếc áo cuối cùng.

– Cứ là lử cò bợ. Ruột gan lộn tùng phèo hết cả lên, chị Nhi ạ.

Thơ đưa tay che miệng, lời nghẹn, sặc trong cổ lẫn tiếng cười. Nhi đỏ rửng mặt. Nhưng bất giác chị cũng bật cười. Có cái gì đó vui chan hòa giữa những người đàn bà một sớm mai có ánh mặt trời.

– Mụ Chí đấy hả?

– Ây dà. Bà cho con xin tí nhọ nồi.

– Xin nhọ nồi làm gì, ma xó?

– Ây dà. Con nhờ lão Tuế nó thiến cho con lợn. Nó bảo phải có nhọ nồi bôi vào vết chích mổ.

Qua khe hở của những dây phơi, Nhi nhìn thấy một người đàn bà to sụ như cái đụn rạ, lò dò đi tới và bà Tài đang quay lại.

– Này ma xó, ta chưa nghe rõ. Mày thiến lão Tuế hả?

Há há… Lần này thì cả bốn người đàn bà cùng há hoác miệng mà cười. Cười tung tóe. Cười giải tỏa. Cười thỏa thuê.

Cười rất vô cớ. Cười như bù cho cả cái mùa đông dài dặc họ phải nhịn cười. Cả cái mùa đông ru rú trong nhà, thu mình vào, chẳng biết đến ai; cả những khát thèm cũng bị nén chặt lại. Cười vì một ngẫu hứng bất thần, trước nguồn sống vui dâng lên tự đất trời thiên nhiên.

Suốt cả mùa đông, có nhẽ chỉ có mụ Chí còn hay lê la từng nhà.

Người đàn bà này thuộc loại dị nhân, bất thường. Mặt choắt. Miệng rộng. Gần như cả hàm răng trên dưới đều bịt bạc. Khổ người sồ sề. Cái bụng chảy xệ. Suốt cả mùa đông lúc nào cũng thấy mụ mặc cái áo bông Tàu xám, cài khuy nách, hôi sì mùi dầu bếp. Mụ rất giống những người đàn bà tha phương ở các thị trấn biên giới, nghèo khổ, hẩm phận, sống lay lắt bằng đủ các nghề, từ bán cháo quẩy tới cắt cỏ ngựa, ma quái, bẩn thỉu và hoang dã.

Mụ xuất hiện ở căn nhà tập thể này từ sau cuộc Chiến tranh Biên giới 1979. Chả ai hiểu lai lịch mụ. Chỉ có bà Tài là còn nhớ mang máng hình như một buổi tối rét mướt tháng Hai tây năm ấy có một viên đại tá lùn, mặt rỗ lái một chiếc commăng ca chở mụ đến đây cùng với một lũ trẻ con lít nhít. Viên đại tá đi mặt trận Đông Bắc ngay sau đó. Căn nhà của ông ở gác ba, từ đó do mụ Chí và lũ trẻ con cai quản. Có đến tám đứa trẻ không hiểu chúng ăn gì mà lớn nhanh vùn vụt. Rồi biến đi đâu gần hết; giờ chỉ còn ba đứa sống với mụ, một đứa con gái bán thuốc lá, một thằng lớn đạp xích lô và một thằng oắt bới rác độ nhật.

Hàng xóm chẳng ai ưa người đàn bà này. Mụ khác mọi người nhiều quá. Giọng nói lơ lớ. Trang phục lai căng và cung cách ngồi lê mách lẻo, vô giáo dục. Lại hay chơi bài xì. Hút thuốc lào bằng cái điếu tổ bố. Động mở miệng là ây dà và hễ có dịp là xổ ra cả loạt những chuyện kể vô tận về ma xó, ma cà rồng. Nhập cư vào tập thể này, hiển nhiên là mụ không được chấp nhận. Tính thóc mách hồn nhiên của mụ là căn nguyên của sự rối loạn các quan hệ xưa nay vốn được che phủ và trở nên êm đềm. Chỉ một tuần lễ qua, mụ đã hiểu rõ tên tuổi, nghề nghiệp của tất cả các phụ nữ già trẻ trong căn nhà đông tới bốn mươi hộ này. Ba tháng sau mụ biết tính nết và gia cảnh từng người. Còn bây giờ thì mụ là từ điển sống về các quan hệ chính thống và lắt léo của tất cả đàn bà, con gái ở đây. Quan hệ, suy cho cùng, đó là cái cốt tủy của đời sống. Và người đàn bà xa lạ này, bẩm sinh có một nhãn quan khác biệt so với mọi người, nên chỉ một tháng sau khi đến ngụ cư, mụ đã lần mò xuống tầng một, ghé tai bà Tài: Ây dà, cái nhà cô Thơ không đẻ đái gì là vì cái thằng chồng bất lực thôi! Em có cách chữa đấy. Bà Tài đấm lưng mụ, kêu: Con ma xó! Con ma xó cười nhe răng bạc. Nó ghé tai cô Thơ, kể rằng nó nhìn thấy bà Tài ngồi trong lòng một lão già đội mũ phớt ở công viên Thống Nhất. Ây dà. Nó hôn bà Tài à. Nó còn vật ngửa bà Tài ra để sờ tí à! Cô Thơ thở rộn rực, gắt: Không nghe đâu! Nhưng vẫn rót nước mời mụ và mắt sáng rực, mồm ho hó như mõm thỏ, nghe mụ thì thào. Mụ thì thào rằng chị Nhi, cán bộ ủy ban quận, sắp lên chủ tịch quận, bậc mẫu nghi thiên hạ chứ có phải thường đâu mà có tới hai anh nhân tình. Cứ mỗi khi chồng đi công tác xa, là lần lượt từng anh đến. Ây dà, nó để dấu hiệu ở trước cửa à! Buộc cái khăn đỏ ở cửa là một anh. Buộc cái khăn trắng là một anh khác mà! Thế là tung tóe hết cả ra như những tiếng cười thỏa dục, tất cả những chuyện riêng tư bấy lâu vẫn bảo tồn trong đêm đen. Mụ Chí đã ngang nhiên xúc phạm đến các nhân cách cao cả, đã bôi nhọ những tâm hồn trong sáng, đã đảo ngược truyền thống, đã gán vào cuộc sống mực thước, có quy chuẩn đạo đức những yếu tố tục tĩu, phi luân. Tất nhiên, một cuộc cãi lộn ầm ĩ đã bùng nổ. Mụ Chí bị rủa sả, bị lên án, bị vạch vòi. Bà Tài gọi mụ là con mụ trăm thằng. Chị Nhi nói: Mày ấy à, quân trốn chúa lộn chồng. Đồ đĩ rài đĩ rạc! Thơ tố cáo mụ bỏ bùa mê thuốc lú, chấp chiếm nhà cửa của ông đại tá lùn.

Nhưng giống như cái nút chai đã mở, mọi bí ẩn thế là đã được khơi luồng. Hóa ra bây giờ mọi người mới biết bà Tài trước là kế toán trưởng xí nghiệp rượu bia, vì hủ hóa với giám đốc nên chồng bỏ. Giờ bà lấy một viên thiếu tá công an nhưng vẫn hẹn hò với tay giám đốc tình nhân xưa.

Hóa ra Nhi có nhân tình thật. Và Thơ cũng thế. Người yêu thuở học trò vẫn thì thụt đến, đèo xe đi chơi thâu đêm. Hóa ra còn một cuộc sống thầm thào chảy, ở bên dưới cuộc sống lộ thiên nhìn thấy. Thầm thào chảy, nhưng dạt dào vô cùng. Ôi chao! Sau những trận cãi lộn, đôi bên cùng ba máu sáu tiết, văng ra đủ lời thóa mạ, nguyền rủa nhau, tưởng phen này là sẽ tuyệt giao, là sẽ không thể nhìn mặt nhau nữa, vậy mà ngày qua, tuần qua, mọi việc lại được an bài ổn định đâu vào đó. Nghĩa là dường như đã chẳng xảy ra một sự xáo trộn nào hết!

Những người đàn bà lại đến với nhau. Họ đều là những người đàn bà hư cả hay sao? Cùng thích chuyện ngồi lê đôi mách, ưa tọc mạch vào chốn riêng tư. Cùng thích nói tục, cùng một lòng ái dục và cùng thói ham mê chuyện ái tình. Hóa ra những người đàn bà đô thị lại bị mụ đàn bà xa lạ tới giáo hóa. Hóa ra nhờ mụ mà các bà các chị nhận ra điều hệ trọng: còn một cuộc sống bí mật nữa, đó là cái khoái lạc vô lượng của dục tình, niềm sung sướng vô biên của trò ái ân vụng trộm. Chao ôi! Nhiễm sắc thể đắm dục hàm chứa sức công phá căn bệnh lãnh cảm cùng thói đạo đức giả sao mà mạnh mẽ thế! Chuyện ấy, mục ấy, khoản ấy có bao giờ họ thấy nhàm chán, hay trái lại còn thích công khai phô bày, bình nghị và tẩm thêm hương hoa.

Bây giờ thì bốn người đàn bà kết thân với nhau. Chả lúc nào họ hết chuyện. Dòng sông tình ngầm chảy dạt dào là đề tài lôi kéo thói tò mò đầy thi vị của họ và nhờ nó ta thấy được mối liên kết bền chặt giữa người này với người kia.

Trung tâm chú ý của thói rình mò của họ không cố định. Ít lâu nay là bà Huệ, vụ trưởng, bốn mươi lăm tuổi nhưng con mắt còn đong đưa, lẳng lơ lắm, chồng vừa chết vì tai nạn giao thông mà đã dập dìu kẻ đón người đưa. Chính mụ Chí đã phát hiện ra bà Huệ là một Võ Tắc Thiên về đường tình dục. Ây dà, ngày nào chồng đi làm về nó cũng bắt phải ấy nó một cái, rồi nó mới dậy đi nấu cơm mà. Ba người đàn bà cùng cười ré lên. Rồi cười rũ rượi, cười chảy cả nước mắt nước mũi. Cuối cùng bà Tài chỉ mặt mụ Chí sừng sộ: Tiên sư con ma xó! Mày có mục sở thị không? Kết quả là cả ba người đàn bà chụm đầu lại với nhau, nghe mụ Chí kể:

– Thì em vào xin diêm em trông thấy. Nó quên đóng cửa. Bà Huệ nằm tênh hênh. Thằng đàn ông ở trên, nó nhấp nhổm như cưỡi ngựa.

– Đã quá, mày!. Bà Tài rên.

– Quá tẩm bổ mắt còn gì!. Thơ thêm.

– Hoài của, giá có cái máy ảnh!. Nhi reo. Con ma xó trợn mắt:

– Nhưng mà hóa ra thằng đàn ông không phải chồng nó, mà là thằng lái xe. Hầy!

– Ái chà chà!. Cả ba người đàn bà cùng kêu to và đứng vụt dậy, vỗ tay khoái trá.

Hòn than trong cái bếp lò của Nhi đã bén lửa đỏ hồng.

Khói bay lên vẩn vơ những sợi xanh mảnh dẻ, ngoằn ngoèo hút vào những khuôn cửa ra vào đã mở. Chỉ riêng có một khuôn cửa cạnh nhà Nhi, khói phải lững thững quay ra. Cánh cửa ở căn buồng này còn đóng chặt.

– Nào, lấy được nhọ nồi chưa mà còn ngồi tào lao mãi thế? À, thế nào, Tết này có nấu bánh chưng không?. Bà Tài hất hàm vào mụ Chí đang cắm cúi cạo mùn nhọ bám ở cái niêu đất đen nhẻm nhà Nhi.

Thơ ngoái lại:

– Cho tôi gửi mươi chiếc nhé!

– Em xin đăng ký nấu.. Mụ Chí nói.. Em lo cái thùng. Chỉ xin mỗi nhà mấy cân củi.

– Tiền!. Bà kế toán trưởng gắt.. Cái gì thanh toán được bằng tiền thì cứ thanh toán bằng tiền là gọn nhất!

– Thế thì em lấy rẻ, năm trăm một cái. Em tính công thôi.

– Rẻ cái l mẹ mày! Chưa học bắt chuột đã học ỉa bậy. Bốn trăm thôi. Hăm bảy Tết bắc nồi nhé! Tao trông bếp cho. Vừa trông bếp vừa kể chuyện ma, chuyện quỷ nhé! Cái con ma xó này, còn chuyện mày lăng nhăng với thằng đại tá lùn thế nào, mày chưa kể đấy nhé!

– Bà Tài này…

– Đừng có đánh trống lảng! Đồng ý không đã?

– Em đồng ý.. Mụ Chí nghềnh mặt, chỉ tay vào cánh cửa bên cạnh nhà chị Nhi vẫn im ỉm đóng.. Bà này, cái nhà chị gì mới dọn đến đây ở mà chả thấy mặt nó bao giờ.

Bà Tài, Nhi, Thơ cùng quay mặt lại và khe khẽ kêu thầm: Ờ nhỉ! Chính họ bây giờ mới để ý đến căn nhà người hàng xóm mới dọn đến khoảng nửa tháng nay. Vừa lúc cánh cửa căn nhà nọ kẹt mở và một em gái trạc mười ba tuổi xinh xắn, đeo nơ trắng bên mái tóc, ló mặt ra giữa khuôn cửa, tươi tỉnh:

– Cháu chào các bác ạ!

Mụ Chí reo hoan hỉ, xuýt xoa:

– Ây dà, chào cháu. Hôm nay nghỉ học rồi a. Mẹ cháu đâu?

– Mẹ cháu đi làm ạ.

– Làm ở đâu thế?

– Dạ, làm ở cơ quan ạ.

Mụ Chí gật đầu:

– Ầy, thế thì biết rồi. Mẹ về, hỏi mẹ xem có gói bánh gửi luộc không nhé! Các bác tổ chức luộc bánh chưng đấy. À quên, mẹ cháu tên gì, cháu tên gì nhỉ?

Dọn đến chỉ có hai mẹ con. Mẹ tên là Tươi, con là Tỉnh. Chỉ một buổi, công việc dọn nhà đã hoàn tất. Chưa kịp làm quen với xóm giềng, người mẹ đã mất hút. Nói cho đúng, sớm bửng chị đã đi và tối mịt mới mò về. Tuy vậy loáng thoáng cũng nhận ra chị trạc ba tư, ba lăm. Hai con mắt lóng lánh. Đôi môi bậu. Cái cằm chẽ. Cùng với cái vóc đậm đà, những chi tiết trên cho thấy đó là một phụ nữ xốc vác, quả đoán và đa tình.

Sao mà ngơ ngẩn như người mất hồn thế! Đó là nhận xét đầu tiên về người phụ nữ này của mụ Chí. Và bà Tài, chị Nhi, cô Thơ cũng ngớ người, bỡ ngỡ. Rồi họ nhận ngay ra rằng, rất không nên bỏ quên người hàng xóm của mình. Chao ôi, cuộc sống sẽ già nua, buồn tẻ bao nhiêu nếu không có câu chuyện ái tình. Đời vốn phù vân, nhưng nhờ chuyện tơ tình, chăn gối, mây mưa mà bớt đi cái phần vô nghĩa, bèo bọt, chưa biết chừng. Vậy nên cả ba người đều dỏng tai nghe mụ Chí kể chuyện. Mụ Chí kể rằng, căn buồng người phụ nữ này đến ở vốn là của một ông vụ trưởng đã ngót nghét bảy mươi tuổi, bấy lâu giở bài cùn, giờ mới chịu về hưu. Tính chuyện kiếm ít vốn giắt lưng, ông nhượng lại căn buồng được nhà nước phân phối cho chị này. Thấy chị chàng phây phây ngỏ lời muốn tìm một chỗ nương thân, ông liền buông lời ỡm ờ: Thì cứ dọn đến mà ở, tôi độc thân, ở sao hết ba mươi tư mét vuông! Người phụ nữ nghe vậy càng khép nép ý tứ, nhưng khăng khăng: Bác để lại em mới dám mua, chứ không thì thôi ạ! Không đòi ở chung được, ông vụ trưởng giờ mới nửa nạc nửa mỡ: Thôi thế này vậy, tôi để lại, nhưng xuân thu nhị kỳ ra thành phố chơi, thăm thú bạn bè, ngộ có lỡ dở, chị chắc cũng cho phép tôi độ nhật chứ! Đến nước này thì người mua nhà cũng đành cáo lui. Chủ nhà biết mình ở thế yếu, liền cười hà hà, tự coi chuyện trên là chuyện đùa. Mua bán dứt điểm rồi, một đêm ông gõ cửa xin ngủ nhờ. Hai mẹ con đành để buồng ngoài cho ông nằm. Nửa đêm ông đạp cửa buồng trong, miệng kêu khào khào: Em ơi, anh đau quá, nhờ em lấy dầu cao xoa bụng hộ với!

Bà Tài, chị Nhi, cô Thơ cùng phá lên cười.

– Lão này nó lại diễn vở cũ.. Bà Tài nói, sợ câu nói buột miệng là lời tự thú nhận, vội chuyển làn.. Hừ, ngẫm ra cái lão này ngoài cái tài kể chuyện tiếu lâm ra, vô duyên hết chỗ nói.

– Đúng đấy nhỉ?. Chị Nhi nói.. Bà và cô Thơ có nhớ chuyện Lên Thiên đường lão kể không? Có hai ông bà già đêm ấp nhau, thích quá cùng kêu: Ôi giời, bằng lên Thiên đường! Thằng kẻ trộm vốn là anh ngốc mua phải đàn vịt giời vừa bị bốc bay, nằm rình dưới gầm giường, liền chui ra, la: Thế có thấy đàn vịt tôi ở trên đó không?

Cô Thơ cười ngặt nghẽo:

– Chuyện Hai anh lính gác mới hay, bà Tài còn nhớ không?

– Tao quên rồi.

– Bà có mà quên!

– Kể đi!. Mụ Chí giục. Cô Thơ thỏ thẻ:

– Có một anh chồng rất hay ghen, mà vợ lại có tính đĩ. Mỗi lần đi làm xa, anh ta đều lấy mực nho vẽ hai bên đùi vợ hai anh lính bồng súng gác.

– Gác cái của nợ nọ ấy à?. Mụ Chí hét to. Bà Tài đẩy vai cô Thơ:

– Thôi, xúp cái chuyện ấy đi! Thích thì bảo chồng mày nó vẽ. Hề hề…

Đợi cho mọi người cười lăn lóc thật thỏa thích và cô Thơ vặn lưng đứng dậy, mụ Chí mới ghé tai bà Tài, thỏ thẻ:

– Ây dà, bà Tài à, cái ông vụ trưởng già ấy mà, nó bảo nó biết hết mùi các bà, các cô ở căn nhà tập thể này rồi đấy.

– Tiên sư thằng đĩ đực, thằng dê già!

– Ây dà, nó bảo thế. Nó bảo nó đã ngủ với…

– Câm mồm! Thế còn mày, ma xó?

Mụ Chí dụi mắt vào bả vai, cười hị hị:

– Thế mà nó thua nhà chị Tươi này đấy. Trông chị ta hay đáo để, bà nhỉ? Thế mà sao cấm có thấy thằng đàn ông nào đến. Hay là chồng nó bỏ?

– Chồng bỏ hay bỏ chồng?

– Ây dà! Trông rầu rĩ, nhưng cái ngực nó nở to như hai cái bánh bao à!

Cánh cửa nhà nọ từ từ mở đã cắt đôi câu bình luận của mụ Chí. Cái Tỉnh vẫn chiếc nơ trắng trên đầu, thêm cái áo len đỏ khoác ngoài, bê rổ rau đặt xuống ngưỡng cửa.

Bà Tài rời mụ Chí, quay lại, ân cần:

– Cần ăn cuống, muống ăn lá đấy, cháu nhé! Nhặt cẩn thận, không nhiều đỉa hẹ lắm đấy.

– Vâng ạ.

– Đểnh đoảng như canh cần nấu suông. Sao nhà cháu hay ăn rau cần thế?

– Từ hồi bố cháu còn ở với mẹ cháu và cháu cơ.

Như chớp được cơ hội, cả bà Tài và mụ Chí lê chân, sán lại:

– Thế bố cháu bỏ mẹ cháu rồi à?

Cái Tỉnh ngắt một cọng cần già bỏ sang cái mê rổ rách, nhìn hai người đàn bà, nhẩn nha:

– Bố cháu đi bộ đội, bị thương vào cột sống, nằm bệnh viện hai năm liền, gặp mẹ cháu vào chăm sóc ông cháu là đại tá ốm cũng nằm đấy. Rồi bố mẹ cháu lấy nhau. Sinh cháu xong, bố cháu bắt đầu viết văn. Viết được mười năm thì bố cháu nổi tiếng. Nghề văn, nếu có tài, chỉ cần từng ấy năm là có sự nghiệp rồi. Bố cháu bảo thế. Bố cháu đẹp người mà vui tính lắm cơ. Một đêm khuya, bố cháu viết xong một đoạn văn, bèn cao hứng, đọc to lên. Chưa kịp tự khen đã có tiếng người ở đâu đó kêu: Hay quá! Hóa ra có một anh kẻ trộm đang rình đợi bố cháu ngủ là cậy then cửa vào. Bố cháu cười: Tớ chỉ có tí văn chương là khả dĩ, cậu có lấy thì lấy! Anh kia lắc đầu: Chỉ có nhà văn mới ăn trộm văn của nhau được thôi. Nhưng tại sao bác lại viết văn? Bố cháu gật gù: Có vẻ dân có học đấy nhỉ! Tớ viết văn vì tớ chẳng biết ăn trộm, ăn cắp cái gì ráo! Hai người cứ thế trò chuyện đến sáng.

Mụ Chí buột miệng:

– Chuyện hay nhỉ! Cái Tỉnh tiếp:

– Nhưng được lĩnh một cái giải thưởng văn học gì ấy xong là bố cháu lên mặt, coi mẹ cháu không ra gì. Chả cứ mẹ cháu. Bố cháu khinh rẻ tất cả các bạn văn khác. Bố cháu coi họ chỉ là lũ bồi bút, hoặc lũ thợ chữ, viết văn như kéo xe bò lên dốc, văn dai như thừng như chão. Cứ về đến nhà là bố cháu gây sự với mẹ cháu. Có bận rít lên: Con quạ già kia! Mẹ cháu làm gì mà đã già. Rồi viết đơn ly dị, bắt mẹ cháu ký!

– Thế ra tòa chưa?

– Bố cháu đập tờ đơn xuống trước mặt mẹ cháu, dằn: Cô hãy buông tôi ra! Nhưng mẹ cháu kiên quyết: Vì tôi quý trọng anh nên tôi không ký. Tôi không thể để anh sa ngã được! Thế là bố cháu đấm vào mặt mẹ cháu, làm mẹ cháu ngã ngửa, đầu đập xuống đất.

– Rõ khổ!. Bà Tài than.

Mụ Chí hau háu:

– Thế rồi sao?

– Từ hôm ấy bố cháu đi biệt. Mẹ cháu nghỉ phép đi tìm, lại nhắn hỏi trên báo, trên đài. Chả có tin tức gì. Mẹ cháu đi xem bói. Ông thầy bói bảo: Tuổi Thân, vất vả đấy. Phải dọn một cư đất nữa mới yên ổn được!

Bà Tài vuốt hai mép, gật:

– Ra vậy nên hai mẹ con mới mua căn buồng này đấy!

Cái Tỉnh đáp một tiếng vâng rồi đứng dậy reo một tiếng to. Có tiếng bánh xe đạp lăn. Và mẹ Tỉnh xuất hiện. Tầm thước, dáng điệu nhanh nhẹn, gương mặt mẹ Tỉnh đầm ấm, các chi tiết hài hòa, nhưng phảng phất vẻ sầu muộn và kiên nghị, còn tiếng nói thì rất thanh trong:

– Chào hai bác ạ. Lại nhờ cả hai bác nhặt hộ rau, hả con? Cái Tỉnh phụng phịu:

– Mẹ đi đâu về mà muộn thế! Con nhặt rau để muối cho bữa ngày mai đấy chứ. Cơm con nấu xong hết rồi!

Bà Tài đon đả:

– Thế nào, Tết nhất đã sắm sửa được gì chưa? Người phụ nữ dựa xe vào tường nhà, vui vẻ:

– Dạ, em đã nhờ chị em ở nhà máy mua hộ rồi ạ.

Cuối cùng, chuyện tình của Tươi, nhờ mụ Chí, người đưa chuyện không biết mệt, đến tai tất cả đám đàn bà, con gái trong căn nhà lớn đông hộ này. Chị em, tính nết trái ngược nhau đến xung khắc, nhưng thảy đều nhất trí với người đàn bà từ biên giới lưu lạc về. Rằng bọn đàn ông cực kỳ khôn ngoan, chính họ đã chế tạo ra hôn nhân để hạ người đàn bà xuống địa vị thứ hai trong cuộc sống. Trong hôn nhân, giống đực được hưởng nhiều hơn. Trời cho họ cái ưu thế là có được cái công năng chủ động. Nhưng mặt khác, xung lực bọn họ, tiếng thế rất có giới hạn. Và hôn nhân chính là cái ách, tuy là cái ách êm dịu với đàn bà. Do vậy, đàn bà phải tương kế tựu kế, giành lấy chủ động trong thế bị động. Hơn nữa, đời là một dòng sông dạt dào, nhưng ngắn ngủi nên hãy tận hưởng. Thời gian còn ít lắm, việc gì phải đi con đường trái nước ngược gió như Tươi.

Tươi là người đàn bà đang chèo con thuyền ngược bến. Tươi phải chống lại cả một dòng nước xuôi dòng xô đẩy. Cực nhọc lắm. Nhưng còn có cách nào khác! Vì chồng Tươi khi có tiếng tăm rồi liền mê một cô đào hát cải lương. Bao nhiêu tiền viết sách được thưởng, đưa cô ta hết. Nhưng chuyện không phải ở chỗ ấy mà là ở chỗ chồng Tươi đã nhầm lẫn. Cho nên mẹ phải sinh sự, con à. Cái Tỉnh nghe mẹ nói, môi mím mím, chực khóc.

Cái Tỉnh biết: cô đào hát cải lương rắp tâm quyến rũ bố nó. Cô ấy tô mắt, đánh phấn, trát son, mặc quần bò, áo pull đến gặp mẹ. Trần đời mấy ai đã trơ trẽn đến mức này. Chị Tươi ơi. Chị nên hiểu thế nào là tình yêu thời hiện đại. Chị nhường anh ấy cho tôi đi. Hay là tặng, hoặc bán cũng được. Nào, OK chứ? Cô ấy nói. Mẹ xáp mặt cô ấy, mắt quắc sáng, gầm trong cổ họng thật dữ dội: Cô có biết cô là gì không? Cô là ma vương quỷ sứ, là yêu quái đội lốt người. Tôi quyết tử với cô đấy!

Sức mạnh để dựa vào đó mà quyết tử, Tươi nhận cả từ bên âm. Tin ông thầy bói, chị bán căn nhà cũ, mua căn buồng mới, ở cư đất mới, nhờ cậy cả sự hỗ trợ của ông thần Thổ Địa trong căn nhà này. Nhưng chả ngày nào hết giờ làm Tươi không trở lại căn nhà cũ. Chủ mới đã dọn đến, trưng bảng hiệu, làm lại cửa xếp. Đồ đạc Tươi đã chuyển đi, chỉ còn lại mấy chiếc ghế gấp, một cái kệ sách. Nhưng căn nhà vẫn nguyên vẹn một mảnh ký ức. Mảnh tôn vá ở cánh cửa sổ. Ô kính trên mái ngói. Toàn bộ cuộc sống đã qua. Tiếng nói u tịch của tiềm thức.

Những tồn đọng thầm lặng. Những tiết đoạn đầy màu sắc sống lại trong giấc mộng du cùng với nỗi cô đơn quặn thắt đòi được sẻ chia, và một khát vọng tiềm ẩn cần được giãi bày. Tươi bao dung, cao cả, tin rằng mình là cái đẹp, là tình yêu thật sự, là sự sáng tỏ, là lẽ phải muôn đời cần dang tay độ lượng.

Chẳng ngày nào Tươi không về muộn. Chị để mất một lượng thời gian lớn ở trước cửa căn nhà cũ vào lúc năm giờ chiều. Theo thói quen đã định hình, đó là giờ trở về tổ ấm của gia súc và con người. Chị đứng ở đó, bơ vơ giữa luồng gió lạnh thổi qua phố trống, nhìn về hai phía con đường. Mới ngày nào hàng cột điện hun hút về xa gầy như que tăm, giờ đã lớn phổng cao vống, đầu gập xuống hình một cọng giá đỗ. Chỉ có những đám mây là thời gian không dám chạm tới. Mùa thu, mây kéo rê từng tảng, bay qua phố, buông rơi xuống mỗi mái nhà một làn hơi ẩm. Mùa đông, mây dâng lên cao, ẩn sau nền trần xanh rượi. Chị nhớ nhất những trận mưa dông quãng giờ này vào mùa hạ. Mưa có chân, chạy từ xa đến, cả một đoàn ngũ mù mịt. Và khi tới gần chúng trở thành những ngón tay mổ xuống mái tôn, thánh thót như tiếng dương cầm. Trong hòa âm rộn ràng ấy, người đàn ông thường rón rén đến sau chị và hay chơi trò ù ập khiến chị giật thột mình.

Cuối cùng thì đã đến lúc cái Tỉnh, con gái Tươi, không chịu được nữa. Hôm sau, sẩm tối, trời giá buốt ngăn ngắt, thấy mẹ về, bỏ cái xe đấy, mệt nhọc nằm nhoài trên mặt giường bừa bộn chăn chiếu, nó liền bật điện, bê mâm cơm ra giữa nhà, rồi lạu bạu:

– Mẹ buồn cười thật đấy! Mẹ có biết hôm nay là bao nhiêu rồi không? Hăm bảy Tết rồi!

Chưa kịp để Tươi trả lời, nó đã mở vung, cầm đũa cả, đánh nồi cơm, tiếp:

– Nhà nào người ta cũng mua lá gói bánh cả rồi. Mẹ bận thì để con đi mua. Mứt, rượu, pháo rồi măng, miến, đậu, thịt, hoa nữa. Tết nhất không có những thứ ấy thì làm cỗ cúng ông bà thế nào!

Tươi ngồi dậy, mệt mỏi:

– Mẹ đưa tiền nhờ các cô trong tổ cả rồi. Nội nhật ngày mai, cùng lắm là ngày kia, các cô sẽ mang lại đầy đủ cả!

– Đầy đủ cả!

Con bé khe khẽ đay lại lời mẹ rồi lặng lẽ xới cơm và bưng bát cơm ăn một mình. Nó không mời Tươi. Nó dỗi. Tươi nhận ra tất cả sự già dặn và ngây thơ ở trong hành vi ấy của nó. Nhất là khi đột nhiên, nó đặt bát cơm xuống, bước ra ngoài hiên, với cái khăn mặt, lau mắt và quay lại, hắt vào trong nhà một giọng nói đã méo xệch vì tức tưởi và khổ đau:

– Mẹ không việc gì phải thế cả!

Nhận ra tất cả chiều sâu tâm tư trong lời nói vừa có ý trách móc, vừa xót xa chia sẻ nọ, Tươi vội trụt xuống đất, nhao ra cửa. Chị ôm vai con gái, kéo nó áp vào ngực mình. Tỉnh đã cao chạm cằm mẹ. Nó giống mẹ như đúc ở đôi mắt đẹp, thoáng nỗi buồn ảm đạm. Nó đã vào tuổi hiểu biết. Nó đã đặt chân vào cái thế giới riêng của nữ giới. Đã bắt đầu nghe được tiếng nói của đám phụ nữ đa tạp, đa sắc ở căn nhà này. Nó đang can dự vào đời sống của mẹ nó.

– Ngày mai, mẹ hứa với con, sẽ đủ hết. Sẽ có cả quất, cả cành đào.

Tươi riết chặt vai con. Nhưng con bé thoạt đầu quẫy mạnh, lát sau chính nó lại vòng tay thít thân mẹ vào mình nó.

– Không! Không phải là con đòi hỏi những thứ đó. Con không còn là đứa trẻ con.

– Mẹ hiểu. Mẹ hiểu.

– Mà là con không muốn mẹ phải khổ. Mẹ không phải khổ thế, mẹ ơi! Mẹ phải nghĩ đến mình nữa chứ! Hồi này mẹ già hẳn đi! Tóc mẹ đã có sợi bạc rồi kia kìa!

Thốt nhiên, nước mắt tích tụ đã tràn đầy bỗng vỡ òa, nhòe trong hai hốc mắt và tuôn ào qua hai má Tươi, lăn xuống đầu con gái chị. Buồn thương, đau khổ dâng lên, chẹn ngang ngực chị. Chị nấc liên hồi và gục vào đầu con, khóc xối xả, vật vã như một cơn mưa dông đầu mùa.

Chao ôi, đời người sao mà khổ ải khủng khiếp đến thế!

Không phải chỉ vì nó là cuộc kiếm sống, là cái khốn khó để giành giật lấy miếng ăn, để lấp đầy cái dạ dày mà là để cho trọn vẹn một đời sống khác, một đời sống bao giờ cũng hướng về sự hoàn thiện, đầy ảo tưởng tôn giáo, vì ở đó có sự hiến mình cao cả cho tình yêu. Tình yêu bao giờ cũng là một giấc ảo mộng và luôn tuyển mộ được những tín đồ thiết tha với cái chết tử vì đạo như Tươi đây.

Tươi đang ở trong cuộc sống đó và chị không biết nản lòng. Người đàn ông đã cố tình quên chị. Nói cho đúng, y là khối thuốc súng, nhờ chị là mồi lửa mà bùng cháy, chói sáng, rồi tự huyễn hoặc mình trong hào quang tự kỷ. Và chị trước sau vẫn một tấm lòng rộng lượng, một tinh thần hỉ xả, một niềm đam mê bền bỉ như một thiên tính trời ban riêng cho đàn bà.

Cái Tỉnh khóc theo mẹ, lần này nó níu chặt lấy mẹ, trong tâm thái hết sức sợ hãi, vì nghĩ mẹ nó là một bản thể yếu đuối đang nức nưởi vì vết thương lòng.

– Mẹ, không phải là con đòi hỏi gì đâu, mẹ ơi. Con chỉ muốn…

– Mẹ hiểu. Mẹ hiểu. Nhưng mẹ có khổ đâu, con. Mẹ không khổ! Mẹ không khổ!

Hai mẹ con vừa nức nở vừa giãi bày với nhau. Cả hai đều bàng hoàng trong cảm xúc thiêng liêng. Rồi đột ngột cả hai cùng bặt tiếng. Ngoài cửa có những tiếng động nho nhỏ như tiếng chân người, như tiếng gõ cửa. Tươi nhắm mắt, tim lặng đi mấy giây, trong hy vọng ngột thở. Có thể thế chăng? Cái điều đang trằn mình để giành lại, để tự vệ lại là sự thật?

Cái Tỉnh bước ra, kéo then, khẽ khẽ đẩy cánh cửa gỗ ra phía ngoài. Ngoài hiên lao xao tiếng bà Tài, chị Nhi, cô Thơ và mụ Chí. Họ đang kê nồi bánh và nhóm lò. Lát sau, khói bốc mù mù. Cái Tỉnh vội đóng chặt cửa. Tiếng nói của những người đàn bà lao xao quanh nồi bánh, âm âm trong hàng hiên, khơi nguồn là do bà Tài. Bà Tài ngồi trên cái ghế mây đan, xòe cả hai bàn tay có những ngón tay búp măng nuột nà thật đẹp, cười hề hề:

– Xong nồi bánh này là chẳng còn đếch gì mà lo nữa. Đêm nay ngồi canh bánh, tớ đề nghị thi kể chuyện. Chuyện phải thật tục, càng tục càng hay. Nào, cho ma xó nói trước!

Mụ Chí nghển cái cổ gầy:

– Ây dà, thế nào là tục với không tục?

– Thôi đừng lý sự nữa!

Cô Thơ đang rúc vào vai chị Nhi cười. Chị Nhi đẩy Thơ:

– Cô Thơ có chuyện hay lắm, xung phong kể đây.

– Hoan hô!

Thơ đỏ rửng mặt, cố nín cười:

– Không hay đâu. Nhưng tục mà lại không tục. Có bốn câu ca dao thế này. Cục thịt đút vào lỗ thịt. Tay bưng đít, tay bưng đầu. Ngâm cho một lúc thật lâu. Rút ra đánh oác nhìn nhau cả cười. Em đố các chị nó là cái gì?

Bà Tài ôm bụng, oặc lên như một tiếng nôn khan. Và mọi người, kể cả Thơ, sau đó đều như bò bằng cả hai tay, hai chân trên đất và gục mặt xuống mà cười. Cười lăn lóc, cười phát ho phát hen. Cười đến đứt ruột, đến bể bụng. Cười thật hồn nhiên, thật đã đời. Trời ạ! Tả cái hoạt cảnh mẹ cho con bú mà cheo leo, mập mờ bên bờ chuyện trai gái làm tình như thế thì thánh thật! Thánh thật! Thánh quá đi mất! Và những ai cười được như thế hẳn là những người sung sướng lắm, có phải thế chăng?

1994