Ngày mới mang đến xóm Chùa một mặt trời, nhưng bỏ quên nắng ấm. Hàng dây điện, nơi những chú chim sẻ thường đậu và hót vang, nay lại chẳng thấy bóng dáng chú nào. Khói bếp bốc ra từ nồi nước lèo thơm nồng ở quán mì dì Út cũng trốn đi đâu mất. Người ở xóm Chùa mỗi sáng đều ra vỉa hè, ngồi uống cà phê, kể chuyện đời với nhau, vậy mà hôm nay chỉ có gió thổi và bụi lăn tăn.
Trong căn nhà nhỏ nằm giữa con hẻm cạnh chùa, thằng cu Tí vừa ngủ dậy. Mắt Tí lim dim, miệng ngáp ngắn ngáp dài một lúc. Sau khi bản thân tỉnh táo hơn, nó mới dụi mắt, mở cửa và bước ra khỏi phòng.
“Cha ơi!”. Tí gọi lớn. “Con dậy rồi!”
Đáp lời Tí là một sự lặng im lạ kỳ. Nó gãi gãi đầu, mở miệng gọi cha lần nữa, nhưng vẫn vậy. Có chuyện gì vậy nhỉ? Cha nào đi đâu vào giờ này? Nó thầm nghĩ. Cuối cùng, Tí quyết định đi quanh nhà, xem có ai ở nhà hay không.
Muỗng, đũa, tô, đĩa đều được rửa sạch, chất gọn trên khay. Quần áo trong thau giặt biến mất, chứng tỏ đã được treo ngoài sào. Cơm, canh được nấu sẵn, còn âm ấm. Nhưng ngó khắp nhà thì nó chẳng thấy ai. Nó thắc mắc lắm, rằng khoảng chín giờ thì cha và mẹ mới bắt đầu rửa chén, giặt giũ, nấu cơm mà? Trong khi đồng hồ treo trên tường đang điểm sáu giờ ba mươi phút.
Tí bước ra chỗ để giày dép. Dép của cha, mẹ và đứa em nó nằm gọn một góc. Nhưng giày thì chẳng thấy đâu. Cảm giác là lạ lẩn quẩn trong ngực nó, như thiếu hụt đi một thứ không thể gọi tên. Nó tức tốc chạy nhanh vào nhà tắm, đánh răng, rửa mặt sơ qua, rồi xỏ dép, đi ra đường.
Đón chào Tí là bầu không khí hoang vắng, ảm đạm. Gió mạnh bạo luồn vào con hẻm. Tí ngó sang nhà dì Năm sát bên, và thấy cửa đóng im lìm. Nhà chú Bảy đầu hẻm thì cửa khép hờ. Bình thường lúc này là đã nghe tiếng ho khan của một ai đó bị sặc thuốc lá, tiếng ra-đi-ô rè rè mở mấy bản cải lương cũ. Vậy mà dù cố dỏng tai lên, Tí chỉ nghe được tiếng lá khô lạo xạo, và âm thanh nho nhỏ đầy bí ẩn bên sân chùa giống như tiếng xì xầm của nhiều người với nhau.
Bỗng nhiên, Tí thấy dì Năm mặc áo sơ mi đen, quần tây, tết tóc gọn gàng, chân bước về hướng chùa. Tí đã quen với việc tóc dì Năm bù xù, mặc áo sặc sỡ, đứng pha cà phê. Vậy nên, nhìn dì Năm lúc này, trong đầu nó ngờ ngợ ra có chuyện chẳng lành, định mở miệng gọi dì Năm nhằm hỏi han, nhưng lại thôi. Thay vào đó, nó chạy trở vào trong nhà, thay bộ quần áo lịch sự và cũng bước qua sân chùa.
***
Sân chùa đông hơn mọi ngày, nhưng không ồn ào. Bà con đứng rải rác thành từng nhóm nhỏ, nói chuyện với nhau bằng chất giọng thấp và đứt quãng. Ai nấy đều mặc đồ sẫm màu, chỉnh tề, khác hẳn dáng vẻ thoải mái thường ngày. Mùi khói nhang thoang thoảng trong không khí. Có lẽ vì mùi khói nên mắt ai cũng cay cay, hơi hơi đỏ và rưng rưng.
Tí bắt gặp cha, mẹ, em nó đang đứng ở một góc. Thằng em nắm tay mẹ, ngơ ngác nhìn xung quanh. Tí đứng sững người lại. Trong một thoáng, nó thấy lòng nhẹ hơn nhiều vì nhà nó vẫn còn đủ đầy và đang đứng cùng nhau. Rồi cảm giác ấy chỉ tồn tại thoáng qua, nhanh chóng tan theo làn gió. Bởi nét mặt họ, nhất là của cha, rất đượm buồn.
“Cha! Mẹ!” Tí lớn giọng kêu, rồi lao nhanh vào vòng tay giang rộng của mẹ.
“Con ăn cơm cha mẹ nấu sẵn chưa?” Người mẹ hỏi.
“Dạ con…” Tí chần chừ. Trí óc nó đang dao động. Rồi, nó nói tiếp. “Ăn rồi!”
Dối lừa chưa bao giờ nằm trong bản chất ngây ngô, tốt bụng của Tí. Chỉ là bây giờ đây, trực giác nó mách bảo rằng nếu nói thật thì cha sẽ kêu nó về ăn cơm, và nó chắc chắn lỡ mất một điều quan trọng. Bàn tay mẹ run run, vuốt nhẹ lưng nó. Cha Tí đứng cạnh, nhìn thẳng về hướng cánh cổng chùa có khắc chữ “Quốc thái dân an” màu đỏ đang đóng im lìm. Trước cánh cổng chùa, đặt ở chính giữa là một lư hương bằng đá, thân tròn, miệng loe rộng. Tro nhang trong lòng đã xám lại, lẫn những chân nhang gãy cắm chồng lên nhau, và những cây nhang vừa được thắp. Hai quai lư hương được chạm trỗ tinh tế, tạo hình như con sóng nhẹ, mòn đi vì năm tháng. Khói nhang bay thấp, quẩn quanh, làm cho không khí càng thêm nặng nề.
Từ khi sinh ra tới giờ, đây là lần đầu tiên Tí ngắm nhìn ngôi chùa một cách kĩ càng đến vậy. Mặt tiền chùa không rộng, tường phủ một lớp màu hồng pha xám, loang lổ dấu vết thời gian. Lớp vôi bong tróc vài chỗ, để lộ những mảng tường sần sùi. Mái chùa lợp ngói xanh sẫm, cong nhẹ ở bốn góc, đầu mái uốn lượn hình rồng, nét chạm khắc đã mòn nhưng vẫn giữ được nét uy nghi trầm mặc. Hai bên cửa chùa là hai bức phù điêu khắc cảnh chim hạc đứng bên gốc tùng, núi non mờ xa, trăng tròn lơ lửng. Đá ngả màu rêu, đường nét mất nhiều sắc sảo, nhưng cảm giác thanh tịnh thì vẫn còn mãi. Và cạnh bên các bức phù điêu là bản tóm tắt lịch sử chùa và Thiên Hậu Thánh Mẫu được viết bằng tiếng Hán.
Đột nhiên, tiếng trống vang lên làm Tí giật mình. Chiếc trống nằm ở một góc sân, cùng với một rạp nhỏ được dựng lên sát bên mà mãi đến giờ, Tí mới để ý thấy. Lúc này, người cha quay mặt về phía nó, nói nhỏ:
“Con với em con chuẩn bị đi vô chùa với cha và mẹ. Thắp nén nhang cho ông Tám.”
Tí gật đầu. Vậy là, dự cảm của nó đã chính xác. Dù ngộ ra từ trước, nhưng khi nghe cha nói vậy, nó vẫn thấy lòng nặng đi nhiều như treo lủng lẳng bên trong một hòn đá. Tí không khóc. Đâu phải gia đình nó đâu? Nhưng sao người nó thấy trống rỗng, bầu trời dường như tối hơn và tâm trí nó tưởng tượng ra cảnh ngôi chùa bị đổ sập.
Tí và đứa em bước chậm theo cha mẹ, hoà vào những gương mặt quen thuộc. Bàn tay đứa em run run, chắc do tiết trời còn lạnh. Bước lên bậc thềm đầu tiên, mỗi người được ông Ba – con trai ông Tám – phát cho một cây nhang. Rồi cánh cửa chùa từ từ mở ra. Từng người bước vào bên trong, đi vòng quanh điện thờ để vái lạy.
Bốn góc phòng là bức tranh của các vị Phật, vị Tướng được đặt trên một chiếc bàn gỗ sang trọng. Cuối phòng, ở chính giữa là bức tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu uy nghi mặc bộ đồ sang trọng tựa như long bào, ngồi chễm chệ sau tấm rèm mỏng. Ngoài ra, chùa còn đặc biệt để một bàn riêng cho bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của bà con trong xóm. Kiến trúc bên trong được kết hợp tài tình giữa văn hoá và tôn giáo. Hơn hết là biết bao kỷ niệm được khắc sâu.
Khi đã đi xong một vòng vái lạy, ai ai cũng đứng lặng lúc lâu như còn lưu luyến điều gì. Phải mất một lúc lâu để mọi người, bao gồm cả Tí, định thần lại. Xong xuôi, dòng người ngay ngắn đi đến chỗ rạp đã dựng sẵn, cắm cây nhang đang phảng phất khói xuống cái lư hương được đặt trên mặt bàn gỗ. Cắm xong, ai cũng ngước đôi mắt cay xè lên nhìn vào di ảnh của người giữ chùa đáng mến.
Sau khi cắm nhang xong, gia đình Tí ngồi vào một bàn cùng với dì Năm, chú Thành và bà Thu. Mặt bàn nhôm phủ khăn trắng, phía trên đặt mấy đĩa bánh, trái cây và bình trà nóng. Tí cầm cái bánh lên, rồi lại để xuống. Đứa em nó thấy bánh ngon thì lấy ăn ngay. Bầu không khí lặng im bao trùm bàn Tí đang ngồi và cả những bàn khác. Dì Năm thở dài, giọng khàn khàn, cất tiếng để phá vỡ sự u uất đang bao trùm:
“Ổng đi nhẹ hều à… Sáng hôm qua tui còn thấy ổng quét lá và tập thể dục.”
Cha Tí cười nhẹ, mắt nhìn về phía di ảnh ông Tám đặt ngay ngắn giữa hai cây nến đỏ. Trong hình, ông Tám mặc áo bà ba nâu, tóc búi gọn, lưng hơi còng, miệng cười hiền từ. Một nụ cười quen thuộc đến mức Tí thấy tim mình nhói lên.
“Ổng giữ chùa từ thời còn trai tráng, đẹp trai.” Bà Thu nói. “Giờ đi cũng đi trong chùa.”
Ký ức về ông Tám của Tí không nhiều nhưng rất sâu sắc. Sáng nào đi học, nó cũng thấy ông đứng quét sân, chiều về lại thấy ông ngồi trước thềm, phe phẩy cái quạt nan cũ. Có lần, nó và đám bạn vô tình đá trái banh vào trong chùa, nhưng ông chẳng rầy la mà nhỏ nhẹ nhắc nhở và đá trả lại rất điệu nghệ.
Tiếng trống được đánh lên lần nữa. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía trước, nơi ông Ba đang đứng. Ông Ba mặc đồ tang, đầu quấn khăn trắng, tay cầm một tờ giấy. Mắt ông ngấn lệ, rưng rưng, nhưng cố kiềm lại. Khi thấy bà con đã ngồi ngay ngắn, ông bắt đầu cầm tờ giấy, đọc một cách dõng dạc:
“Chào bà con trong xóm. Tôi là Trần Văn Ba, con trai duy nhất của ông Trần Văn Tám. Hôm nay, cảm ơn bà con đã có mặt ở lễ tang của cha tôi và gửi cho cha tôi những tình cảm chân thành, giúp linh hồn ông được thanh thản.” Ngón tay ông quệt nhẹ khoé mắt. “Tôi rất lấy làm xúc động trước tình cảm của bà con dành cho cha tôi.”
Không kèn trống cất lên, không ồn ào tiếng nhạc. Chỉ với giọng nói của ông Ba cũng đủ để tất cả mọi người cảm thấy nghẹn lòng. Họ chưa thể tin ông Tám lại ra đi đột ngột đến vậy, và lại càng buồn hơn khi ông ra đi một thân, một mình trong đêm khuya tĩnh lặng.
Bỗng từ góc dưới cùng, anh Vũ đô con với mái đầu húi cua đứng dậy. Bằng giọng nói run run, anh hỏi một câu chứa đầy sự lo lắng:
“Ông Tám mất rồi… Thế rồi chùa sẽ ra sao? Liệu có ai giữ chùa không ông Ba?”
Nghe Vũ hỏi vậy, ông Ba hít một hơi dài để lấy lại bình tĩnh, rồi cứng rắn trả lời:
“Bà con cứ yên tâm! Tôi sẽ tiếp tục nghĩa vụ của cha. Kể từ nay, tôi sẽ gắn bó với nơi này!”
Tiếng vỗ tay lúc đầu còn nhỏ rồi từ từ lớn dần, lớn dần lên. Một chú chim sẻ từ đâu bay đến, đậu ngay trên đầu thằng em Tí. Tuy chưa thể hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng thằng nhỏ vỗ tay rất nhiệt liệt, và cười to đến nỗi làm mẹ nó phải ngạc nhiên, cười theo.
Ánh mắt Tí chăm chú nhìn vào hai cánh cửa chùa mở toang. Phải lâu lắm rồi, chùa mới mở cửa vào dịp không phải Tết. Sau đó, nó hướng sang hai ngôi miếu nhỏ được xây hai bên góc chùa. Miệng tí khẽ cong lên. Nó nhớ hồi xưa, mỗi lần nghịch ngợm, lỡ chơi trò gì mà văng đồ vào miếu, là cả đám liền quỳ xuống lạy mấy bức tượng nhỏ bên trong.
Trong một thoáng, Tí nhớ lại mẹ nó từng kể một vụ việc diễn ra rất lâu khiến chùa đóng cửa quanh năm, đến dịp Tết mới mở. Đó là vào một buổi tối nọ, mưa tầm tã, có hai kẻ lạ mặt đến xin ngủ nhờ. Ông Tám vốn là người tốt bụng nên sẵn sàng cho hai kẻ đó vào mà không nghi ngờ gì. Hai cái tay đó chỉ chờ đến tối khuya, lúc ông Tám đi ngủ, để ăn cắp bức tượng nhỏ bằng vàng rồi nhanh chân chạy trốn ngay trong đêm. Kể từ hôm đó, ngôi chùa vốn mở cửa thường ngày lại trở nên khép kín. Mẹ Tí từng thở dài khi kể tới đoạn ấy. “Từ bữa đó, ổng khắt khe hơn, nhưng cũng buồn hơn.” Mẹ nói. Lúc ấy Tí còn nhỏ, chưa hiểu “buồn” là gì. Giờ nghĩ lại, nó mới thấy cái buồn ấy giống như lớp rêu bám trên tường chùa dai dẳng theo thời gian. Càng nghĩ về câu chuyện ấy, nó càng thấy thương và quý ông Tám vô cùng.
Có mấy lần, nó và đám bạn vào chùa bằng cánh cửa nhỏ phía bên hông để đưa đồ cho ông Tám. Ông chăm chú ngồi đọc sách dưới ánh đèn vàng mờ ảo. Hàm râu và bộ tóc bạc dài được búi gọn. Nghe tiếng bọn nó bước vào, ông đóng sách lại, ngước mắt nhìn lên rồi cười hiền hậu. Tí hồi nhỏ vốn là thằng nhát gan, nên đứng lẳng lặng nhìn đám bạn trò chuyện với ông Tám. Chỉ khi nào được ông hỏi thì nó mới mở miệng trả lời. Giờ Tí thấy hối hận vô cùng, nó ước gì có thể ngồi xuống, nói chuyện với ông về những điều nó thắc mắc hay về những chuyện giản dị nhất.
Trái cây đặt trên bàn chưa vơi đi, vì mọi người từ nãy đến giờ không có hứng ăn. Phải đến lúc ông Ba đảm đương công việc giữ chùa, thì mẹ Tí mới với tay lấy trái cam, bóc vỏ, vừa ăn vừa quệt đôi mắt đỏ hoe của mình.
“Mấy trái này…không ngon bằng mấy trái ổng hay đem qua cho.” Ăn xong một miếng, mẹ Tí nói.
Bà Thu cất giọng khàn khàn, đồng tính với mẹ Tí:
“Ừ! Ổng cho trái nào là ngon trái đấy. Tui đi chợ lựa trái cây mà có được như ổng đâu.”
Dì Năm hưởng ứng:
“Bữa tui ăn trái lê, tui nghĩ lần này mình mua đã ngon lắm rồi. Ai ngờ ổng đem qua cho một trái khác, tui ăn thử mới thấy trái của mình còn dở chán.”
Cha Tí nghe ba người phụ nữ nói vậy, vẻ không tin, liền nói:
“Mấy bà nói quá. Chứ trái cây ở đây là hàng xịn đàng hoàng, tui đi mua chung với ông Thành, ông Nam nên biết rõ.”
“Vậy ông ăn thử xem.” Mẹ Tí đưa một miếng cam qua cho chồng.
Cha Tí cầm lấy, bỏ vào miệng, nhai, nuốt.
“Ừ… công nhận dở hơn thật.”
Cả bàn đồng thanh cười lớn. Riêng em Tí thì đang bận mãi chơi với chú chim sẻ.
Quan tài ông Tám bấy giờ được bốn người khiêng ra. Bộ đồ vải nâu, cái khăn rằn ông thường quấn quanh cổ, đều được gửi đi cùng với người chủ nhân đáng kính. Con chim sẻ vỗ cánh, tạm biệt em Tí, bay đến đậu trên một góc quan tài, lặng lẽ đứng đó như canh giấc ngủ cho người nằm bên trong.
Theo lời ông Ba, tang lễ diễn ra trong vòng một ngày, từ sáng đến chiều. Ông không muốn làm phiền bà con, cũng như lúc cha ông còn sống đã dặn dò sẵn như vậy. Mộ của ông Tám được chuẩn bị sẵn tại một khu đất sạch sẽ, bình yên, đầy hoa lá. Ông hiểu rõ tính cách cha mình, một người không thích phô trương và luôn làm hết sức mình, giúp đỡ bà con bằng cái tâm. Đó là lý do vì sao tang lễ không ồn ào, chỉ có tiếng trống ban đầu, tiếng bà con và thiên nhiên.
Ông Ba đứng lặng lẽ nhìn bà con. Ánh mắt họ bấy giờ đã không còn buồn bã như lúc đầu. Thay vào đó là sự hoài niệm và biết ơn sâu sắc. Thời niên thiếu, ông nghĩ cha mình toàn làm những việc vô ích. Nhưng giờ đây, ông lại là người giữ chùa tiếp theo, và thấy rất tự hào về cha mình. Ông liếc nhìn qua chùa rồi bất giác bật cười thành tiếng.
***
Hôm nay, từ nhỏ tới già, từ đàn ông tới phụ nữ đều bỏ công việc của mình để ở lại ngồi tâm sự với nhau. Nếu sáng sớm còn là sự u ám, ngột ngạt của mây trời và khói hương, thì buổi trưa như thay lớp áo mới. Bà con đã thấu hiểu nỗi lòng ông Tám, nên tâm trạng bớt buồn đi phần nào. Mọi người cùng nhau tâm sự về những chuyện khi xưa ở xóm, đôi lúc có vài chuyện khiến ai nấy đều bật cười. Nhịp sống hối hả, cơm, áo, gạo, tiền làm cho bà con quên mất đi những thứ giản dị, những cuộc chuyện trò, và lúc này đây bà con chợt nhớ ra rằng đã rất lâu rồi họ mới có thể ngồi lại với nhau lâu đến vậy, không phải vội vã nhìn đồng hồ, không bồn chồn nghĩ tới việc mưu sinh.
Có người nhắc lại chuyện xưa, chuyện sân chùa bị ngập nước và cả xóm rủ nhau ra tắm. Chuyện cả xóm bất đồng, gây gổ, sau đó được ông Tám giảng hoà. Những câu chuyện vụn vặt, chìm rất sâu trong ký ức, tưởng như chẳng có gì đáng kể, nhưng khi ghép lại với nhau thì thành một quãng đời dài của xóm Chùa.
Tí ngồi nghe, không xen vào. Nó nhìn những gương mặt xung quanh, thấy ai cũng quen mà cũng như lạ. Có lẽ vì hôm nay, họ không còn là những người mà nó chỉ gặp thoáng qua mỗi sáng, mà là những người cùng chia sẻ một mất mát chung. Nó chợt hiểu ra, thứ ông Tám giữ vừa là ngôi chùa, vừa là một chỗ để bà con trong xóm quay về.
Một người chợt hỏi:
“Đám tang gì mà lạ vậy bà con?”
Chú Thành mập mạp, mất một bên răng cửa, ngồi xỉa răng trả lời rằng:
“Mình mà buồn hiu là ông Tám ổng quay về giữ chùa tiếp giờ. Ai chứ ổng còn khoẻ re dám chừng.
Nói rồi chú cười lớn, để lộ hàm răng sún, nhưng trong giọng cười có gì đó như thắt lại.
Trong khi những giọng cười vang lên trước câu đùa của chú Thành, thì chị My bỗng đứng dậy, đi đến quan tài ông Tám và đặt tay lên đó. Chị là thành viên trong nhóm quậy phá của Tí khi xưa và là người được ông Tám cưng chiều nhất. Bằng giọng ngọt dịu, nhẹ nhàng, chị nói:
“Con là My… con cảm ơn ông vì mọi thứ.”
Dứt câu, mặt chỉ ửng đỏ lên. Chị quay đầu, ngạc nhiên ra mặt khi thấy chú chim sẻ vẫn đứng canh gác quan tài. Xong, chị thu tay, đi về chỗ ngồi của mình.
Những hành động của chị My diễn ra rất nhanh. Mọi người quan sát cảnh ấy với ánh mắt trìu mến, thân thương. Lúc quay về chỗ ngồi, cha chị xoa đầu con gái mình, bảo rằng:
“Mẹ và ông Tám tự hào về con lắm…” Rồi ông lấy tay, lau nhẹ giọt nước mắt đang lăn dài.
Hưởng ứng hành động của chị My, gia đình Tí cũng như toàn thể bà con, từng người tiến đến quan tài, xưng tên của mình và cảm ơn ông Tám vì tất cả những điều tuyệt vời mà ông đã cống hiến cho xóm Chùa.
“Con cảm ơn ông vì đã cho nhà con trái cây.” Mẹ Tí nói.
“Cảm ơn ông vì phụ con sửa cái mái nhà.” Cha Tí nói.
“Con cảm ơn ông!” Thằng em Tí dù chẳng hiểu mọi người làm gì, nhưng khi mẹ dặn dò thì vâng lời ngay.
Cuối cùng đến lượt Tí, nó nói rất dài và bằng hết tâm tư của mình:
“Con cảm ơn ông Tám vì mọi thứ. Cũng như xin lỗi ông vì hồi đó con lỡ đá trái banh vào miếu. Con ngưỡng mộ ông lắm. Giá như hồi đó con dám nói chuyện với ông nhiều hơn…”
Sau đó, tới chú Thành, chú cảm ơn bằng điệu bộ và câu cú rất hài hước nhưng đầy chân thật. Chú còn sẵn tay chào đồng chí chim sẻ một cái rồi mới quay về chỗ ngồi.
***
Hoàng hôn buông xuống. Chân trời rực rỡ những đám mây hồng, cam. Gió thổi nhè nhẹ, lướt qua tán cây. Chim sáo bay lượn trên trời, đi về nơi cư ngụ. Ngoài đường, xe chở quan tài ông Tám phát ra tiếng rì rầm. Ông Ba, anh Vũ, thằng Tí và mẹ Tí ngồi trên xe. Phía sau, hàng xe máy, xe đạp của bà con trong xóm đã sẵn sàng tiễn đưa ông Tám đoạn đường cuối cùng. Đặc biệt là đoàn lân sư rồng ở xóm sau cũng đến tiễn đưa. Họ vẫn không quên những năm tháng múa lân vào đêm giao thừa ở chùa.
Trong tiếng xe lăn bánh chậm rãi, xóm Chùa lùi dần về phía sau, nhỏ lại trong ánh hoàng hôn. Những mái nhà quen thuộc, quán mì dì Út, con hẻm hẹp nơi Tí thường chạy lon ton mỗi sáng… tất cả như được phủ một lớp màu trầm, dịu xuống, lặng lẽ tiễn một người đi xa.
Tí ngồi trong xe, tay để trên đầu gối. Gió chiều lùa vào mang theo mùi sông nước, mùi đất và cỏ dại. Quay đầu ra sau, nó nhìn dòng người mà mắt rưng rưng. Bấy lâu, nó cứ nghĩ rằng cuộc đời phải sống xa hoa, khoe khoang mới là sung sướng và hãnh diện. Nhưng lúc này đây, nhìn ông Tám đang yên giấc ngàn thu trong chiếc hòm gỗ, nó mới thấy rằng chỉ cần cống hiến những điều bé nhỏ cũng đáng là một cuộc đời. Tí cũng thấy ngạc nhiên với bản thân khi chính nó cũng có những ý nghĩ ấy. Nó nhìn qua ông Ba đang ngồi đối diện. Ông cũng nhìn nó và miệng khẽ cười.
***
Đến bãi đất được đào sẵn mộ, quan tài ông Tám được bê xuống xe, chuẩn bị chôn cất. Ông Ba một lần nữa cảm ơn bà con vì đã góp mặt, ngoài ra ông còn nói đùa khiến mọi người bất ngờ mà cười to thành tiếng vì ông giống cha ông, rất nghiêm túc và hiếm khi đùa.
“Cha tôi ghét ồn ào lắm. Nếu cha mà thấy bà con đi đông như này… chắc ổng đánh đòn tôi quá.”
Quan tài gỗ được hạ xuống, mọi người đều lặng lẽ nhìn theo từng giây phút cuối cùng như không nỡ rời xa. Thằng Tí đứng một bên gần đó, lấy tay dụi dụi hai con mắt dính đầy nước. Nó không hiểu bản thân vì sao lại khóc. Ông Tám chẳng phải người trong gia đình nó, và rất ít tiếp xúc với nó. Nhưng nó vẫn rơi nước mắt vì sự trống vắng vừa kịp hình thành trong lòng.
Anh Bo thấy Tí khóc thì liền vỗ vai nó. Bo lớn hơn Tí bốn tuổi, những câu mà anh nói ra đều chững chạc và nghiêm túc đến lạ. Bo nhìn qua những bông hoa mọc gần khu mộ, nói không nhìn Tí, giọng rắn rỏi như thường ngày:
“Hơn hai mươi năm giữ chùa. Một cuộc đời vĩ đại là vậy đấy!”
Không khí xung quanh chìm trong im ả như buổi sáng nhưng không còn sự đau buồn, khóc thương. Tiếng lấp đất dồn dập từng giây, bà con lặng lẽ đứng xung quanh nhìn từng nhịp xẻng. Khi đã hoàn thành xong và đặt bia mộ, ai nấy đều nhìn vào dòng chữ khắc trên bia. Không một tiếng nói, không một lời khóc thương, chỉ còn lại những ánh mắt biết ơn. Con chim sẻ luôn dõi theo tang lễ đã bay sang đậu trên cành cây gần đó, cất lên tiếng hót trong buổi chiều tà.