MÓNG VUỐT THỜI GIAN


Sau cái đám cưới cực kỳ xa hoa và tốn kém cuối mùa thảo quả năm 1940, với sự có mặt đủ hết các quan đầu tỉnh, từ quan công sứ Excaclat đến quan chánh mật thám Delmat người Tây, cùng tất cả quan tri châu, châu úy, bạn đồng liêu và các sĩ quan chỉ huy đạo quân binh thuộc địa thứ tư, thổ ty Sề Sào Lỉn, tri châu xứ Giáy tự trị miền Tây tỉnh K đã có chín người vợ.

Chín người vợ, trừ bà cả, con gái quan châu bên miền Đông, kết thân theo kiểu hôn nhân môn đăng hộ đối, song phương ràng buộc cổ truyền, theo dư luận là để giải tỏa một mối thâm thù, nay đã năm mươi cái xuân xanh, hiện thân như một mụ quản gia nô cực kỳ nanh ác, còn tất cả đều là tám cái nõn nường mơn mởn đào tơ, trong đó phu nhân trẻ nhất mới có mười sáu tuổi, người Mán Đỏ, quan lấy sau buổi đi rừng thị sát vùng thảo quả. Chín người vợ, lấy trong chín hoàn cảnh khác nhau, nhưng kể cả trường hợp đệ nhất phu nhân thì cùng giống nhau ở chỗ: chúng là hệ quả một cơn đam mê thú rừng, một cuộc cưỡng bức thô lỗ, man rợ. Lỉn là một sinh lực căng tràn, đầy dương tính. Nhưng tuy thế y vẫn là viên thổ quan có học nhất, tính từ đời tổ tiên y vốn là dư đảng của lũ giặc Cờ Vàng hèn nhát, nhờ đầu hàng quân Pháp mà nên công danh, phú quý. Sắc dục tẩm chút hương hoa văn hóa cũng có dấu vết khác biệt thật. Chín người vợ của Lỉn là chín người đàn bà thuộc chín sắc tộc khác nhau: Hoa, Mèo, Tày, Giáy, Thái, Pa Dí… Y có chủ ý thưởng thức đủ hết hương vị riêng từng chủng loại, chứ đâu có phải chỉ là một kẻ thực bất tri kỳ vị, ngu si hùng hục hưởng lạc. Chín người vợ thuộc chín sắc tộc trong vùng Lỉn cai quản, với hàng ngàn mẫu ruộng được chia theo danh nghĩa: ruộng chức dịch, ruộng phu, ruộng lính nhưng thực chất chỉ thuộc sở hữu một ông chủ là Lỉn. Hơn một vạn dân, hàng trăm năm nay đã quen lệ bầy đàn, bị bóc lột bằng địa tô lao dịch, dưới hình thức công không, bằng địa tô hiện vật, dưới hình thức cống nạp thóc khách, gà khách cho Lỉn mà vẫn không mảy may ý thức về trạng thái nô lệ của mình và sự cổ quái của hình thức cai trị của Lỉn. Khôn ngoan, Lỉn cũng đã biết biến đổi theo luồng gió văn minh quốc ngoại. Làm chủ những khu rừng pơ mu và thảo quả đặc sản, y đã biết liên doanh khai thác buôn bán với người Tàu. Y đã giao tiếp với người nước ngoài. Năm 1936, dự đấu xảo ở Hà Nội, y còn đem theo cả một đội xòe con gái đi mua vui. ganh đua với đội xòe nổi tiếng, có truyền thống của quan tri châu họ Đèo bên xứ Thái.

Lỉn chịu khó hưởng thụ. Y đâu có phải chỉ là một viên quan lại bản xứ cổ lỗ già nua, khuôn bó, không dám tung mình vào các cuộc ăn chơi cho phỉ sức. Chín người vợ. Thú vui chăn gối như vậy, đâu có phải hạng tầm thường. Và không nói thì ai cũng hiểu. Lỉn đâu có chịu đóng khung cuộc giao lưu tình dục ở con số chín. Đám nữ tì hầu hạ chốn khuê phòng các phu nhân, tham gia các công việc nơi trang ấp, lũ con gái bốn, năm chục cô vóc tốt, mã đẹp, hát hay, múa dẻo được trưng tập đến nhà quan hằng tháng theo lệ để tập tành trong đội xòe thực chất cũng còn là cái kho dự trữ lạc thú Lỉn có thể sử dụng bất cứ lúc nào.

Dự đám cưới đệ cửu phu nhân của Lỉn, các chính khách cỡ tỉnh và các ông quan nhà binh người Tây một lần nữa phát ghen về quyền lực và sức hưởng thụ khoái lạc trần gian của Lỉn. Bỗng thấy lưu luyến cái thời vua chúa mà ông cha họ đã hò nhau lật đổ, họ ngẩn người, ngẫm ra cái thứ văn minh thành thị đã buông thả hết mức của họ, còn kém cỏi lắm, so với một tên chúa đất ở xứ mông muội này. Các ngài còn kinh ngạc hơn về sức bền bỉ, dẻo dai của Lỉn. Bảy mươi mà sinh lực y sao còn chan chứa thế! Chả lẽ y được cấu tạo bằng chất liệu khác với mọi người? Hay là ở với rừng nên y hấp thụ được sức sống của sư tử, gấu, lợn rừng và dê đực?

Trong bữa tiệc cưới thực đơn nửa Tây nửa Tàu, vừa liếc mắt tống tình các cô gái Giáy hầu rượu, quan chánh mật thám Delmat nâng cốc rượu, nhìn gương mặt phương phi, khí lực tràn trề của quan thổ ty họ Sề, hạ một câu vui đùa và đầy hàm ý khinh miệt:

– Ngài có thể noi gương vua Minh Mạng được chăng, ngài Sề Sào Lỉn? Nhất dạ ngũ giao, tam hữu dụng. Một đêm ngủ với năm bà, ba bà có mang.

Lỉn xoay cốc rượu trong tay, lắc đầu:

– Thưa quan lớn, tôi không có chủ trương như vậy ạ.

Đó là một câu trả lời có vẻ tối nghĩa. Và chỉ có quan công sứ Excaclat vốn là chỗ giao du thân mật nhiều năm với dòng họ Sề mới có thể hiểu được. Ngài vỗ vai quan chánh mật thám, cố sức bằng ánh mắt và giọng nói để ông này giảm thiểu tối đa thói ganh ghét với đời sống đa dục của các quan lại bản xứ địa phương.

– Theo tôi,. quan công sứ nói,. nền văn hóa hôn nhân ở xứ này có những đặc điểm riêng. Trong đời một ông quan, họ không kết hôn một lần. Mà thường là… ít nhất ba lần chính thức.

– Ba lần… ít nhất?

– Đúng thế. Lần thứ nhất là thuở hàn vi. Lúc này họ cần một người đàn bà tần tảo, chịu thương chịu khó, ngõ hầu có thể giúp họ lập thân, lập nghiệp bằng con đường học hành, khoa cử. Khi công thành danh toại, họ kết thân lần thứ hai với một người đàn bà môn đăng hộ đối. Và lần thứ ba, khi đã về già, họ cần một người bạn tâm giao trẻ tuổi. Theo nguyên lý sinh học, một cơ thể đã già lão có thể thanh xuân hóa khi gần gũi một thể chất non tơ.

– Nhưng… ở đây…

– Tôi hiểu… ở đây có sự quá đà. Nhưng ngài thông cảm cho… cánh đàn ông chúng ta một khi có quyền lực vô biên trong tay…

Hơ hơ hơ… Lỉn cười, vô cùng khâm phục sự hiểu biết sâu sắc của đức quan lớn đầu tỉnh. Nhưng y khước từ ngay khi vận vào mình.

– Riêng tôi… thì tôi không áp dụng lý thuyết trên.. Lỉn nói.. Ngay từ hồi còn trẻ, tôi thích cái gì tôi làm cái đó.

Quan chánh mật thám ngả hai cánh tay, vẫn chưa cởi bỏ vẻ mặt khinh bỉ:

– Nghĩa rằng là… lấy nhu cầu làm ông thầy dẫn lộ! Quan công sứ gật đầu, mặt dãn nở, đầy vẻ bao dung:

– Nói dễ hiểu hơn là… con người về căn bản vẫn hành động theo cảm xúc, sở thích của mình.

– Tức thị nó chỉ là súc vật.

– Chưa hẳn. Nhưng thật tình, lý tính có chỉ đạo hành động của ta đâu. Ta ngủ với người đàn bà nào mà ta thích. Có đúng không, quý vị?

Lỉn cười hềnh hệch:

– Có điều kẻ ngu này muốn nói thêm là thế này. Các ngài quả là những người thuộc trình độ văn minh cao hơn hẳn xứ Giáy man dại này, nhưng thông thường các ngài thường dùng cái bên ngoài đưa vào để làm cho con người mình sung sướng. Ví dụ: các ngài ăn, các ngài nghe đàn, các ngài xem tranh. Còn quả nhân hèn mọn này kém cỏi lắm, chỉ biết cái khoái thú ở ngay thân thể mình.

– Há!

Tất cả những vị tai to mặt lớn, các phu nhân đài các và tiểu thư quyền quý ngồi quanh bàn tiệc dõi theo cuộc nói chuyện có tính phiếm luận nọ cùng nhất loạt há hốc mồm kinh ngạc kêu to. Thật là một ý tưởng lớn lao, một phát hiện vĩ đại! Thật là quá bất ngờ! Vì thật không thể tưởng tượng được ở xứ sở núi rừng bán khai này, ở một viên quan lại bản xứ thô phàm này lại có thể xuất hiện một mệnh đề triết lý nhân sinh hiển nhiên mà lý thú đến vậy!

Người nhận ra ngay giá trị triết học của câu nói tùy hứng của Sề Sào Lỉn tất nhiên là quan công sứ uyên bác. Đã chừa chưa cái thói huênh hoang, dị hợm của những kẻ vỗ ngực khen mình là kẻ khai hóa và chuyên đi áp đặt sự cai trị lên kẻ khác? Chưa biết kẻ nào khai sáng cho kẻ nào đâu nhé! Học vấn đâu đã hẳn là tiếp cận chân lý hơn trực giác! Nền văn minh chưa hẳn có tính chất tuyến tính, ở phía trước đâu. Không kiềm chế được những ý nghĩ ùn ùn như mối xông trong đầu, quan công sứ nghiêng mình, đưa cốc chúc mừng về phía Lỉn, rưng rưng cảm động và khâm phục, đoạn ngửa cổ đổ cả cốc rượu nặng vào miệng.

Chà! Ran lên trong cõi sâu thẳm ngài ngay lập tức một cơn sôi cuồng. Chao ôi! Ý tưởng gì mà trần trụi, mà thiêng liêng như nhuốm mùi vị tôn giáo vậy. Cái khoái thú tìm thấy ngay ở nơi ta! Mẹ kiếp! Thì ra là vậy. Thân xác ta, cái lục địa, cái tiểu vũ trụ tưởng là có kích tấc cụ thể, thâu tóm được mà hóa ra còn mênh mông, xa lắc. Đã tưởng là mảnh đất đã cày đi bừa lại nhẵn như chùi cả rồi mà hóa ra còn rất hoang vu. Đã tưởng là soi tỏ hết mọi ngóc ngách, ngọn nguồn mà hóa ra còn rất lơ mơ. Bản thể người, cái vùng rừng nguyên sinh mãi mãi còn huyền ẩn trong trạng thái mù mờ. Và ta, tưởng là một gã sành sỏi lõi đời trong làng chơi hóa ra vẫn còn là một chú học trò nhóc cần luôn luôn nhận được bài học khai tâm.

Tuy nhiên trong khi lâng lâng vì bài học được tiếp nhận bất ngờ, quan công sứ thông tuệ vừa nhận ra cái sinh thể người thật là một hang ổ tối mò, lại cũng nhận ra trò chơi chữ nghĩa của Lỉn. Lỉn chơi trò láu cá mà tự y không biết! Hưởng lạc bằng chính thân xác mình! Cứ làm như rằng y không cần một đối tượng nào khác để tác động. Y nhầm hay cố tình lờ đi, khi chính y tìm cái khoái lạc không chỉ ở bản thân y mà ở cái mặt đối lập với y. người đàn bà?

– Ông khôn lắm, ông Lỉn! Ông đánh lạc sự chú ý của chúng tôi.

Quan công sứ nhấp nháy hai con mắt xanh lơ. Lỉn cười đắc ý. Thật tình y không biết trò thò lò ngôn ngữ. Y không cao siêu. Y hướng về sự vui thú nơi trần gian. Đời y là một cuộc chơi phàm tục. Một cuộc chơi sinh thú, đầy ham mê. Quan công sứ đọc được ý nghĩ trong ánh mắt Lỉn. Ngài lại nhó nháy hai con mắt đa tình. Ngài đã đứng trên đỉnh cao, đã nhìn thấy toàn cảnh xung quanh mình toàn là sự phàm tục. Ôi, phàm tục, cũng lại là một cách chơi chữ. Chữ nghĩa vốn là cái cách biện luận ma mãnh của con người. Làm gì có sự phàm tục và không phàm tục! Tất cả đều là hiện thực, là đời sống. Phân ngôi vị chỉ là trò bày đặt của con người.

Vào tuổi bảy mươi, sau khi đã ăn muối nhiều hơn kẻ khác ăn cơm, như câu thành ngữ Giáy quen thuộc, ngay cả khi quăng thân mình vào thú vui nhục dục, Lỉn, kẻ có trực giác nguyên sơ bén nhạy hơn người, bỗng nhận ra tính chất độc đáo của đời mỗi con người: Con người ai cũng như ai, từ bậc đế vương đến tên đánh giậm, gã mã phu chỉ được sống có một lần và chỉ một lần mà thôi. Con người đi trên con đường của mình, đi thẳng, đã qua là thôi, không quay trở lại. Ấy thế, trên là trời, dưới là đất, xung quanh là sông núi, là hiện thực trường cửu, vô thủy vô chung, trong khi đó, trớ trêu quá, cái sinh vật tinh khôn nhất, là vưu vật của tạo hóa là con người thì đời sống lại hữu hạn và vô cùng ngắn ngủi. Vì hữu hạn và ngắn ngủi như thế nên con người mới bày ra Thiên đường, Thiên giới, Thiên thai, Niết bàn, Cực lạc, toàn những cõi huyền hoặc, hư không để an ủi mình.

Oái oăm quá, con người chẳng có cách nào thoát khỏi được móng vuốt thời gian. Cái chết là bất khả kháng. Vàng bạc, châu báu, thậm chí cả tính mệnh kẻ khác nữa cũng chẳng có thể chống chọi lại hoặc thay đổi được cái chết. Cũng như phát hiện vĩ đại của Lỉn về cái khoái thú xác thịt, tinh thần ở ngay thân thể, viên thổ quan cũng nhận ra: cái chết nằm ngay ở bản thân mình. Kinh khủng, đó là một sự thực khốc liệt khiến bao giấc mơ vạn thọ vô cương của bao tiên liệt tan tành thành mây khói.

Liên tiếp một tháng trời, đêm nào Lỉn cũng mê thấy chuyện dữ. Mời thầy mo Dẩn Ráu đến, Lỉn hỏi:

– Đêm nào ta cũng mơ thấy một đám tang lớn. Lớn lắm. Vì rợp trời cờ phướn, cành phan. Lại có võng mục, lọng che, linh xa, kiệu rước. Có cả phường bát âm. Tất cả đều phải đi qua một đống than hồng dài hơn chín thước. Bên cạnh có mười hai cái đầu trâu. Có một cầu vải dẫn linh hồn người chết lên trời, theo đúng phong tục người xứ ta. Xưa rày chưa thấy đám ma nào to thế. Ta bèn quát hỏi: Đám ma ai to vậy?, thì được các bà lão lần tràng hạt đồng thanh đáp: Chúng tôi đưa ông thổ ty Sề Sào Lỉn về nơi yên nghỉ cuối cùng. Bậy quá thể! Ta vẫn còn đây cơ mà!

Thầy mo Dẩn Ráu nổi tiếng trong xứ về tài đoán định vận số và giao tiếp được với thần thánh, ma quỷ chính là kẻ đứng làm chủ tế đám tang ông cụ thân sinh Lỉn cách đây ba mươi năm. Đám ấy có việc giết hai con trâu, có việc đám đi qua đống than lửa. Riêng Dẩn Ráu còn đi qua hơn chục cái lưỡi cày nung đỏ để dẫn linh hồn người chết qua địa ngục.

Thầy mo Dẩn Ráu đáp:

– Bẩm, mê sảng là mê sảng nhưng cũng là điềm báo chẳng lành.

Lỉn toát mồ hôi:

– Sao lại tin thế được?

– Bẩm, cứ theo gia phả đằng bên nội quan lớn thì thấy rất có thể là ứng nghiệm. Ông nội quan lớn, phụ thân quan lớn đều không vượt khỏi tuổi bảy mươi ba. Còn quan lớn sao Thái Âm cư ở mệnh, tức thị tuổi trời cho, tức thiên tuế là bảy mươi ba.

– Trời!

– Trong lá số của bà cả, dạ, chỉ tính ngôi chính thất, sang năm nữa có sao Cô Thần chiếu mệnh, xấu lắm. Còn tử vi các công tử và quý nương…

Không để thầy mo Dẩn Ráu nói hết câu, Lỉn đập bàn, quát: Thôi, rồi ôm mặt, ngửa lên trời:

– Có cách gì trường sinh bất tử không?

– Bẩm, có thể…

– Cách gì?

– Không chống lại hoàn toàn được, nhưng cải được.

– Nói tiếp đi.

– Bẩm. Một mặt giải hạn, yểm bùa trừ thần dịch. Một mặt tăng cường nội sinh nội lực. Xưa nay, các bậc vương quyền đều đã có làm và thu được hiệu nghiệm.

Ngay tuần đó, theo chỉ dẫn của thầy mo Dẩn Ráu, công việc giải hạn được lập tức xúc tiến. Hai đầu tòa biệt thự được hai hiệp thợ cùng lúc xây cất hai bể nước hình bán nguyệt, vì nghi địa thế có nguy cơ bị con hỏa tàn hại. Con suối ở mặt tiền trang ấp xẻ thêm một dòng chia nước về bên hữu, không cho xối hoàn toàn về bên tả như trước. Rừng núi, ruộng đồng xung quanh, hễ có chỗ nào nghi có huyệt hiểm đều yểm bùa và hình nhân. Rồi lễ dâng sao, đội bát nhang, làm sớ, đốt hình nhân thế mạng ở các đền miếu trong châu. Sau hết, cùng với việc hạ lãi cho vay từ lệ cha pửi, một ăn một, xuống một nửa, Lỉn sức cho dân khắp vùng gần xa ai có bài thuốc trường sinh bất lão đem dâng thì sẽ được trọng thưởng. Đâu có lợi, người kéo đến. Liên tiếp hết ngày này đến ngày khác, người đến xếp hàng trước cổng xin được dâng trình thần dược, đông còn hơn cảnh phát chẩn dân nghèo.

Sau lời phi lộ như đúc một khuôn, các thần dân bày tỏ nguyện vọng được thấy Sề đại quan tráng cường bất tử, để hoàn thành vĩ nghiệp đưa xứ Giáy tự trị đến tột đỉnh phồn vinh, lần lượt các bài thuốc và y lý được trình bày.

Lang y và lang vườn, bậc trí giả và kẻ chữ nghĩa không đầy vốc tay. Thuyết lý sâu xa và kinh nghiệm dân dã, thảy đều được bày tỏ. Dài dòng nhất phải kể đến việc thuyết trình đầy tính học thuật về thuyết trường sinh cửu thọ, về phép tĩnh toan, chủ trương chân không điều hòa hô hấp để hòa khí và tụ vào đan điền, về thuật dưỡng sinh mà thực chất là dưỡng tâm, không để cho lòng vọng động, vì thân và tâm chỉ là một. Tiếp đó là cả một bộ sưu tập khổng lồ về các bài thuốc kỳ lạ, có tác dụng cường dương tráng khí, từ món thịt chuột sao tẩm các vị thuốc bắc, đến các lá lẩu dê đực hay ăn mà kẻ sưu tầm đã bỏ công cả năm trời theo dõi, gạn lọc. Có bô lão dâng cả một chóe rượu ngâm chục con tắc kè, bảy loại rắn độc, cùng tinh hoàn chó, hươu và một ngàn ba trăm sáu mươi tám vị thuốc từ cây cỏ trên núi cao lại đã hạ thổ một trăm năm mươi ngày đêm.

Chưa hết, có thầy dựa trên sở cứ rằng bí quyết sống lâu là phải tinh luyện khí phách, thanh lọc khí huyết, bởi vậy thực đơn hằng ngày phải gạt bỏ ngũ cốc, vì nó làm vẩn đục tinh, khí, thần… Rượu, do đó sẽ là món ăn chính, nhưng chỉ nên say chếnh choáng để gần với phiêu diêu, thoát tục. Có cả một tờ trình chủ trương tính toán quân bình âm dương kỹ lưỡng trong từng bữa ăn, sao cho không quá hàn, quá nhiệt và phải hấp thụ sao cho hết các kết thể âm dương, trong ánh sáng mặt trời, sương sớm, móc khuya.

Những bài thuốc này được thầy lang riêng của quan lớn họ Sề và chính quan lớn gạt bỏ, vì tính chất tầm thường, quá quen thuộc của nó.

Đã tưởng hết hy vọng thì họ nhận ra tri thức nhân loại quả là một đại dương vô tận mênh mông, sâu thẳm. Một người đàn bà lưu lạc từ xứ Tây Trúc sang kính dâng bài thuốc cực kỳ đặc sắc của danh y Ấn Độ Sushruta, sống cách đây năm nghìn năm. Vị danh y này chủ trương cho ăn tinh hoàn hổ lớn và tủy tươi của sư tử, đồng thời tiêm vào người chất lọc của tinh hoàn dê và mỗi sáng lúc đói phải nuốt một phôi gà mới ấp được bảy, tám ngày.

Thật là quá ư cầu kỳ và tốn kém! Nhưng cả hai nhược điểm trên và thói sùng ngoại quá đáng đã tỏ ra là có lý. Sau nửa tháng sử dụng đơn thuốc bổ nọ, Lỉn thấy trong người phơi phới như có gió xuân thổi vào. Nhưng lao vào cuộc truy hoan gấp gáp, tận lực với đám đàn bà thuộc quyền, chẳng bao lâu, y thấy đơn thuốc thiếu hẳn tác dụng gây trường lực. Y bắt đầu thấy mỏi gối, chồn chân, mắt hoa, đầu váng và người cứ thỉu dần như cái cây rễ không hút được nước. Mỗi ngày y một hao kiệt, héo mòn.

May mắn, đến năm Lỉn bảy mươi hai tuổi, những tưởng mệnh đã tận, thấy đàn bà như mèo ốm thấy mỡ thì Lỉn gặp thầy gặp thuốc. Từ bên kia biên giới, có một phương sĩ tìm đến xin được diện kiến và phô bày linh dược của mình.

Phương sĩ nói:

– Trước hết xin đại nhân hãy tin rằng, có thể cải lão hoàn đồng được. Và từ thời viễn cổ đã có thứ thần dược, tiên đan đó rồi. Đời xưa, con vua Chu Linh Vương là Vương Tử Kiều đã đạt được sự sống vĩnh viễn đó. Mà không phải là ở cõi Niết bàn nhà Phật đâu. Nghĩa là vẫn ở lại cõi trần, ngự phong nhi hành, chu du khắp hoàn vũ.

Lỉn mừng rỡ, nhưng sốt ruột, giục:

– Xin nói ngay kẻo chậm trễ quá rồi. Kiếm được thần dược

đó liệu có khó không? Phương sĩ dập đầu:

– Dạ, đâu có khó kiếm như tinh hoàn hổ lớn, tủy tươi sư tử. Xin được nói ngay, tiên đan này được chế tạo trên nguyên lý: sinh lực bắt nguồn từ hỏa khí của mặt trời. Nhưng làm sao mà có thể ăn uống được chính hỏa khí của mặt trời? May mắn thay đã có một vật phẩm có khả năng hấp thụ được hỏa khí đó. Vật phẩm đó chính là vàng.

– Ôi! Vàng thì ta có vô số! Nhưng chẳng lẽ ông bảo ta ăn vàng, nuốt vàng ư?

– Bẩm, không. Không ai có thể tiêu hóa được vàng khối và cả khi làm vụn nó ra cả. Bẩm, hoàng hậu chính cung vua Tần Huệ Đế đã chết vì uống rượu ngâm vàng vụn đó. Vậy cho nên phải điều chế, tinh luyện và do đó phát sinh ra bí thuật luyện đan, luyện kim.

Lỉn sướng rơn, giục phương sĩ nọ cho biết ngay bí thuật đó thì phương sĩ chắp tay:

– Bẩm, phải chính tay tôi điều khiển mọi việc từ đầu. Bởi liệu pháp này đã tồn tại hơn một ngàn năm trong Trung y, nhưng lâu nay ít được nhắc nhở, sợ thất truyền, sai lạc.

Sân lớn được dọn quang.

Chậu hoa, cây cảnh, bể nuôi cá vàng, hòn non bộ, cùng các đôn sứ, ghế đá, ngựa voi bằng sứ Tàu đều bưng bê đi nơi khác, sạch làu.

Phương pháp luyện đan là hỏa chế, có từ thời Chiến Quốc, 480. 221 trước Công nguyên, phải mất hơn tháng trời sau mới thực hiện được, vì phải có thời gian tuyển thợ chế tạo các công cụ.

Cuối cùng, giữa sân bắc một bếp lò cổ đại.

Trên lò đặt một đỉnh đồng đỏ hình cầu, lớn bằng chiếc vành bánh xe ngựa. Nối với đỉnh là bốn ống sắt nhỏ như cái xe điếu một, uốn cong, để thông hơi và dẫn thuốc.

Chính tay phương sĩ nọ pha trộn các vật phẩm quý, gồm tám chục lượng vàng vụn, tám lượng thủy ngân, một chỉ hùng hoàng và một chỉ thư hoàng. Pha trộn xong, cũng chính tay phương sĩ đặt hỗn hợp đó ở giữa lòng đỉnh, rồi khoen một lỗ trũng đổ thủy ngân vào. Tiếp đó, đậy chặt, gắn mép đỉnh bằng hợp kim thiếc và bắt đầu nổi lửa. Lửa lò cháy thâu đêm suốt sáng!

Không một phút ngưng nghỉ, ngày này qua ngày khác, lòng lò lúc nào cũng rừng rực đỏ khè. Toàn bộ số người trong ấp, từ bọn lính dõng đến đám gái xòe, lũ tôi tớ chăn dê, chăn ngựa, hầu hạ trong nhà, thảy đều được huy động phục dịch cho việc bào chế thần dược, dựng lều đặt sạp ăn ngủ la liệt trên sân.

Củi than dự trữ cho mấy mùa đông đốt sạch mà vẫn chưa đủ độ tinh luyện. Miệng lò như miệng con quái vật tham lam vô độ. Lại còn phải huy động than củi của dân quanh vùng. Chưa đủ! Dỡ cả hàng rào chống cướp vây quanh các làng Giáy cổ, cũng vẫn còn thiếu. Cực chẳng đã, phải ngả cây lớn trong rừng thờ thần Đoong Xía, tức vùng rừng cấm, xưa nay hễ ai động dao là bị thần quở phạt nặng nề. Cũng lại chưa đủ. Cả một vùng đồng thấp đã trơ trụi, nay lại sức lên dân các bản Mán Đỏ, U Ní Đen trên rẻo núi cao, góp cây củi. Củi khô từng chữa dự phòng mùa đông giá hết, lại hạ cả cây tươi trên rừng cao kiệt nước để đốt được ngay, rồi chất lên lưng người lưng ngựa ròng ròng chảy về, kịp thời tiếp lửa.

Cả một vùng núi non trên cao dưới thấp giờ đây trụi trọc, hoang tàn, nhìn thấy cả bóng chim ở chân núi xa.

Khói từ lò nấu bốc lên ngày một đen đặc, u mờ cả trang ấp, hư ám cả nhật nguyệt. Không hiểu khói có chứa tà khí gì mà không sao cất mình lên được, cứ tụ lại thành từng đám phủ âm u cả một vùng sơn địa, u ẩn cả mặt người.

Mới được bốn mươi ngày. Còn bốn mốt ngày nữa mới hoàn thành chu kỳ nấu luyện!

Những ngày mong đợi là những phút cực lạc của Lỉn. Thật chẳng khác gì cái thống khoái khi y vờn người đàn bà mà y vừa tóm được trước khi khởi sự.

Nghêu ngao Lỉn hát:

Anh đây mười một tuổi đã phải lo

Mười hai tuổi rời bản mường

Mười ba tuổi đi ở cho trưởng giáp

Mười bốn tuổi đi ở cho nhà quan

Anh phải chờ vịt kêu, gà gáy để ăn sáng

Hứng giọt mưa sương để rửa mặt

Lau mồ hôi đến bỏng mặt

Leo núi đến rát chân.

Bài dân ca quen thuộc vận vào đời Lỉn chỉ có ý nghĩa bóng gió xa xôi.

Chiều ấy, Lỉn mời phương sĩ lên lầu, ngồi đối ẩm. Sau cái vui bồng bột, nhìn xuống cái đỉnh đồng đang đỏ rực như mắt quỷ trên sân, Lỉn bỗng ngước lên phương sĩ như dò hỏi:

– Ông là người Tàu, hẳn biết nhiều kinh truyện cổ của nước Tàu. Ông có biết truyện Tử Sản tướng quốc nước Trịnh nghe tiếng người đàn bà khóc chồng chưa?

Phương sĩ nghiêng đầu:

– Bẩm, đọc sách kinh sử đã lâu, lại chuyên tâm theo dõi việc chế ngự thời gian nên cũng khuấy quên mất rồi.

Lỉn nhướng hai con mắt:

– Việc chế ngự thời gian là việc gì vậy? Phương sĩ cười:

– Là việc chắp cánh thêm cho hổ đó!

– Thế thì ta hiểu rồi.. Lỉn gật gù.. Vậy ta kể ông nghe, vì thoáng qua là ta biết ông cùng ta ý hợp tâm đầu. Tử Sản là tướng quốc nước Trịnh. Một hôm nghe tiếng khóc chồng của một người đàn bà, liền hạ lệnh bắt ngay người đó giam lại. Khảo tra một hồi, người đó phải nhận đã tự tay thắt cổ chồng. Các quan thấy vậy, hỏi Tử Sản. Tử Sản đáp: Ta nghe trong tiếng khóc thấy có điều gian.

– Chà!

– Nay, ta không bằng được Tử Sản nhưng ta cũng không đến nỗi có tai như điếc, có mắt như mù. Chỉ khác Tử Sản ở chỗ, ta nghe trong tiếng cười chứ không phải tiếng khóc của đàn bà mà nhận ra điều gian.

Ngừng một lát nhìn thẳng vào mặt phương sĩ, Lỉn bỗng hạ giọng:

– Ông đã từng chung chăn gối với đàn bà nhiều rồi chứ? Không đợi phương sĩ đáp, Lỉn tiếp luôn:

– Ngay trong cơn hoan lạc ngây ngất của ta và bọn họ, ta vẫn nhận ra sự dối trá của bọn họ. Ngay trong phút cuồng hứng của cuộc vần vũ, ta vẫn nhận ra sự phản trắc ngấm ngầm. Tưởng như họ tình nguyện đồng hành vào cuộc mộng du với ta, mà thực tình họ thầm mong ta chóng về nơi thiên cổ. Bụng dạ đàn bà thật khó hiểu. Nhưng cũng từ đó ta suy ra… Kìa, sao ông lại vái lạy ta?

Phương sĩ vừa sụp xuống đất, nghe Lỉn hỏi, liền chống tay vào đầu gối đứng dậy, thản nhiên:

– Bậc quân tử là người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người.

Lỉn đứng lên theo người nọ, ngập ngừng một vài giây, thần mặt, rồi hạ giọng:

– Ta muốn nói thật lòng một điều, không hiểu ông có tin ta không?

Nghe trong giọng nói của Lỉn thấy như có điều ăn năn, phương sĩ liền ngẩng lên. Lỉn tiếp:

– Sự hưởng thụ xác thịt thật tình không phải là cái thú vui vô biên đâu. Ta muốn cải chính điều đó. Nếu trước nay, cái quá khứ đó là tà dâm thì ta sẽ xin cải đổi. Ta muốn trở lại đời sống chánh đạo. Xưa có câu nói: sau bốn mươi tuổi không nên có phong độ của dân Do Thái mà nên như người Tàu.

Phương sĩ vòng tay, cung kính:

– Xin được trả lời ngài lần lượt. Bậc quân tử và kẻ tiểu nhân thường đối mặt nhau. Nhưng cả hai đều đối mặt với thời gian. Cùng chạy đua với thời gian. Tôi ở phía với ngài. Có điều xin được nói rõ: Thú đàn bà, thú làm quan cai trị cũng là thú thân xác, nhục dục, thú muốn chiếm đoạt ở ngay trong bản thân, như có lần ngài nói, không bỏ được. Xin nhắc lại: Không bỏ được, không cải đổi được!

Nói xong, phương sĩ cúi đầu xin cáo biệt rồi lững thững đi theo bậc thang xuống sân, điệu bộ thật ung dung, ngạo mạn. Lỉn ngây người lo sợ như ở giữa hoang mê.

Ngày thứ sáu mươi qua.

Ngày thứ bảy mươi, miệng lò đỏ ngòm.

Ngày thứ tám mốt, hạn cuối cùng của việc hỏa chế đã tới. Củi đốt đến chũa cuối cùng. Than vạc dần. Đỉnh đồng đỏ lừ, rồi ngả màu xám hồng, xám tro.

Đợi đến sương xuống, đúng giờ Tý, lúc trời mở, phương sĩ nọ mới bắc thang leo lên nóc đỉnh, thận trọng mở nắp. Hắt hơi liên tục một tràng và xây xẩm mặt mày, y tụt xuống thang xuống đất, lăn ra bất tỉnh. Gần sáng, hồi tỉnh, y mới tiếp tục công việc thu hồi linh dược.

Kết quả thu được không phụ công sức bỏ ra.

Trong lòng Đỉnh giờ đây, sau gần ba tháng trời liên tục nung nấu, trải tương phối, giao hòa, biến hóa, chọn tuyển, kết tinh, còn lại một vũng nhỏ chất lỏng vàng óng ánh, sánh lạnh.

Chất lỏng nọ được múc vào cốc bạc, trịnh trọng đưa lên phòng riêng của quan lớn họ Sề. Đựng trong cốc bạc, chất nọ càng có vẻ biến huyền kỳ lạ, như một phép màu tự hóa của vạn vật. Lỉn sung sướng, rền rã, nhấc cốc tiên dược, nhìn chín phu nhân quây quần, ánh mắt không giấu nổi sự đắc thắng.

– Các nàng, ta trông thấy linh đan này giống như chất sinh khí vĩnh tồn của ta. Nào, đêm nay… sau đó là cuộc đổi đời của ta…

Nói xong, Lỉn ghé môi, nâng đít cốc, uống một hơi, cạn cốc thuốc tiên.

Đám ma Lỉn thật to! Mười hai con trâu bị giết thịt là mười hai cái mũ che nắng cho linh hồn Lỉn đi dưới cõi âm. Thầy mo Dẩn Ráu đi trên mấy chục cái lưỡi cày nung đỏ, rồi dẫn chín người vợ của Lỉn đi qua đống than hồng dài chín mét, tiễn đưa Lỉn xuống suối vàng.

Lỉn chết sau một đêm ói mửa, rên la quằn quại, ỉa đái dầm dề, đau khắp mình mẩy, rồi bại xuội tứ chi, mặt đen tím dần. Y chết sớm hơn tuổi trời cho một năm. Mấy kẻ thuộc hạ trung thành sau đám tang Lỉn, ngồi với nhau, cùng sửng sốt kêu trời: Sao bậc vương quyền lại có lúc nhiễu tâm, mê muội ngông cuồng đến thế! Sực nhớ, hỏi thì không còn thấy phương sĩ, kẻ chế ngự thời gian, gã chống trời nọ đâu nữa. Có người nói y là thuộc hạ của ông thổ ty bên miền Đông, kẻ thâm thù không đội trời chung của cha con họ Sề. Đôi bên đã có lần đào mồ cuốc mả tổ tiên nhau và bắt người trong họ của nhau đội đĩa đèn, tế sống.

Nhưng nhiều người nói: Làm gì có phương sĩ nào, chưa ai thấy, gặp bao giờ cả. Chưa một ai thấy y, gặp y bao giờ cả. Lại có người nói: Việc chế hỏa linh dược là do thầy mo Dẩn Ráu đảm nhiệm. Ông này vốn là nhân tình của bà tư quan lớn họ Sề!

15/11/1991