Cô tôi thường gọi là Sẹc. Ấy là gọi theo tên chồng, một cái tên đọc theo thổ âm Vân Nam, nghe cục mịch, xấu xí. Còn con người cô tôi thì thực sự óng ả lắm. Khi tôi tìm, nhận được cô ở chốn tha phương thì cô đã góa chồng, đang ở tuổi ba mươi, những nét thanh xuân mơn mởn của một phụ nữ lao động có tâm hồn trong sáng và một thể chất lành mạnh còn rất đậm đà.
Như bao thân kiếp không may khác, cái đói, cái nghèo đã xua đuổi cô tôi ra khỏi chốn quê hương, bản quán; từ đồng đất Thái Bình bờ xôi ruộng mật, cô tôi phiêu dạt lên tận miền thượng du biên giới Lào Cai từ những năm còn ở độ tuổi thiếu nữ. Tháng Tám năm 1945, theo Hiệp nghị Quốc tế, quân đội của Tưởng thống chế vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng. Trong đội quân đông cả mấy chục vạn ấy có viên giám mã của đại tướng Tiêu Văn tên Lìu La Sẹc. Anh này đi cắt cỏ ngựa, gặp cô tôi liền mê tít. Tình yêu quả thật là cao hơn logic, cao hơn cả lịch sử. Kết quả của mối tình này là anh giữ ngựa của đại tướng bỏ cả quân tịch và quốc tịch, ở lại đất Việt, kết duyên cùng cô tôi.
Người Hoa ở biên giới Lào Cai đông lắm. Hiền lành, chăm chút làm ăn, họ ở thành từng khu phố, lập thành các bang, có tổ chức hội quán, trường học riêng, sống hòa thuận với người Việt, nhưng hiếm khi có quan hệ hôn nhân. Những người Hoa giàu có thường mở các đại lý vải vóc, tạp hóa hoặc là chủ các cửa hàng thuốc bắc lớn. Còn đa phần dân Hoa thì góp phần làm giàu thêm nghệ thuật ẩm thực ở xứ sở này, bằng việc chế tác các món ăn đặc hiệu Trung Hoa, như phở cuốn sủi, phở chua, bánh bao, sủi dìn, nước sâu, phá xa và món sực tắc, tức mía hấp, những món ăn đã thâm nhập và định hình trong khẩu vị người nước ta.
Viên giám mã Lìu La Sẹc chồng cô tôi không gia nhập tiểu cộng đồng người Hoa nọ. Nói cho đúng, cuộc hôn thú đã đi đến một sự nhất thể hóa, ông tự đi làm thuê một mình, ông hòa nhập với cuộc sống của vợ. Ngoại trừ một việc, ông giữ được nghề gia truyền: chế tác món xôi lạp xường và bánh bao. Rồi ông cùng cô tôi, như hầu hết những người lương thiện, khi quân Pháp trở lại xâm lược nước ta, lập tức gia nhập đội ngũ những người kháng chiến. Cô tôi làm cấp dưỡng ở Hội Phụ nữ tỉnh. Còn ông chồng thì nấu ăn ở bếp tỉnh ủy.
Rất nhiều lúc tôi nhãng quên hẳn đi nguồn gốc dân tộc của ông chú rể tôi. Vì ông nói tiếng Việt, viết chữ Việt, sống theo phong tục Việt, như một người thuần Việt, một cách thật tự nhiên, thật dễ dàng. Cả vóc người, gương mặt ông, kỳ lạ, cũng tịnh không một nét vọng ngoại. Đến nỗi, có lúc tôi nảy ra một ý nghĩ thú vị: có khi ông là một hạt máu Việt lưu lạc tha hương cũng nên. Tôi nhớ, có một lần chuyện vãn, ông bảo: Này, có một người Cao Ly đóng đến chức bài trưởng ở dinh tôi, lân la hỏi chuyện hóa ra là người An Nam ta. Ông ấy hỏi tôi: Ông có biết ở An Nam bây giờ ai làm vua không?. Sau này tôi có đem chuyện đó hỏi lại cô tôi, mục đích là để truy tìm cội nguồn dân tộc của ông chú rể thì cô tôi đáp là không để ý nên không nhớ. Một cái mộng đã khít rịt, chẳng còn ai để ý tới dấu vết đục chạm nữa. Sự hòa hợp tuyệt hảo đã khiến cô tôi không bao giờ nghĩ tới sự phân cách giống nòi. Âu cũng là chuyện thường tình.
Người tốt thường có số phận không may. Cô chú tôi không có con. Ngoài bốn mươi một chút, chú rể tôi bị tai nạn, đột ngột qua đời.
Ba mươi tuổi, cô Sẹc mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, thắt đáy lưng ong, thần thái cao sang như rồng, như phượng. Có một anh tiểu đoàn trưởng trẻ trai ở tỉnh đội tên Thông đánh tiếng hỏi cô tôi. Cô tìm ông Thống Đồng ở Bến Đền, qua sông bỏ xuống hai xu tiền đò, nhờ ông gọi hồn chú rể tôi để hỏi ý kiến việc này. Chú rể tôi, qua ông Thống Đồng, đáp rằng: Đời em còn dài, lại chưa có con cái, anh bằng lòng để em đi bước nữa.
Người chồng thứ hai của cô tôi trước Cách mạng là diễn viên cải lương ở Hà thành. Đẹp trai, lắm tài vặt, can trường và phong tình nên ở đâu ông cũng có lắm cô mê mệt. Có vợ rồi, ông sĩ quan vốn xuất thân nghệ sĩ vẫn lằng nhằng trong vòng tình ái với một cô bán hàng giải khát ở Phố Lu. Lẽ ra cứ lặng lẽ thì chắc cũng chẳng xảy ra đổ vỡ gì ghê gớm. Vì cô tôi sắc diện lồng lộng mà tính tình thì hiền lành, cả đời chỉ biết nhường nhịn, không ưa ganh ghét, tị hiềm. Nhưng ả nhân tình của chồng cô tôi lại có thói ghen ngược. Ngoại tình đã không biết đường giấu giếm, lại lồng lộn đòi thay bậc, đổi ngôi. Ả đến gặp cô tôi, trơ trẽn sưng sỉa đòi cô tôi trả lại anh ấy cho ả, vì cô tôi không xứng đáng với anh ấy, anh ấy phải là của ả kia. Cô tôi chỉ cười nhạt, không đáp. Thấy dơ dáng quá, ả nọ gào: Cô buông anh ấy ra cho tôi, và giở võ lực định ăn hiếp cô tôi. Cực chẳng đã, cô tôi phải tự vệ. Hóa ra cô tôi có võ. Ả nọ ngã đánh oạch, thành trò cười và để tiếng nhơ nhuốc với cả phố phường. Viên tiểu đoàn trưởng lộ mặt là kẻ đồng lõa vở kịch nọ, bị kỷ luật, ân hận quá, xin lỗi vợ và tình nguyện ra một mặt trận ác liệt để lập công chuộc tội. Khốn khổ! Sự trừng phạt thường khi là quá tay, ông hy sinh ngay ở trận đầu!
Cô tôi cả đời thiệt thòi nhưng luôn nín nhịn, hỉ xả, trọn vẹn nghĩa tình. Cô chăm chỉ, chịu thương chịu khó, việc thổ mộc, nhỏ như cắt cỏ, đánh gianh, lớn như cuốc cày, trồng tỉa, chăn nuôi, thảy đầu thông thuộc, giỏi giang. Cô sống với ai cũng được người ta yêu mến, kính mộ, vì chính cô luôn mến mộ, cưu mang họ.
Buồn thay, cuộc sống chẳng khi nào không có khuyết tật! Ả nhân tình chồng sau của cô là người vô liêm sỉ. Ả thù hằn cô. Ả rêu rao khắp nơi rằng cô là người gây ra cái chết cho anh tiểu đoàn trưởng nọ. Ả xông đến nhà, cướp ảnh thờ chồng cô đem về và ngang ngược tuyên bố, chỉ ả mới có quyền thờ anh ta, chỉ ả mới được hưởng tiêu chuẩn vợ liệt sĩ vì ả là vợ chính thức của anh chàng.
Cô tôi ít lời, không sao lấp được miệng lưỡi con người nanh nọc nọ, đành chịu tiếng oan, lặng lẽ ra khỏi biên chế cơ quan. Cũng chẳng có gì quan trọng. Chít cái khăn mỏ quạ lên đầu, buộc sợi lạt giang ra ngoài chiếc áo nâu, đặt đòn gánh lên vai, cô tôi lập tức trở thành người phụ nữ lao động đảm lược, tháo vát. Xã hội với những năm đó được quan niệm như một tổ chức chặt chẽ, mỗi cá thể đều được ghép vào một cơ ngũ, được bù trì và bị kiểm soát từ đồng bạc thu nhập được tới dòng ý nghĩ có ở trong đầu. Thế là mấy người đàn bà dựa vào sức lao động chân tay chủ yếu cùng họp lại lập hợp tác xã. Thoạt đầu họ vỡ đất trồng rau. Sau họ nuôi lợn. Sau nữa, họ mở thêm ngành nghề làm bún, làm đậu phụ. Ý định tốt đẹp được những người lao động lương thiện hợp quần nghiêm túc thực hiện cuối cùng cũng tạo nên một thực cảnh tốt đẹp. Thị xã biên giới có thêm sản phẩm rau, thịt, bún, đậu. Con người và công việc trong cái cơ chế hợp đoàn ấy thật sự tốt lành chứ không đổ đốn và bị chê cười như sau này, ấy cũng vì cô tôi liên tục được bầu làm chủ nhiệm của cái cơ sở sản xuất này.
Người đàn bà đẹp lấp nỗi trống trải không chồng, không con bằng công việc vất vả hiến dâng cho tập thể, được quan niệm như một thực thể thiêng liêng hơn cá nhân bà gấp bội. Khi thất cơ lỡ vận, lúc bất trắc rủi ro, đức hy sinh tận tụy ở thời điểm này nhiều khi có ý nghĩa quyết định để khắc phục, thậm chí cả những yểu nhược của hệ thống tổ chức là vậy.
Nhớ một lần vào mùa ngập lụt, nước sông Hồng thượng nguồn dâng cao bất thường. Cầu Cốc Lếu năm nhịp thường ngày cao cách mặt sông hơn chục thước mà lúc đó đứng trên mặt cầu có thể thò chân xuống khoắng được nước. Bên hữu ngạn, nước từ sông đổ vào như thác, ngập trắng băng đồng điền, bến bãi, thôn xóm, phố phường, chỉ còn trơ lại mấy mỏm đồi xanh hoẻn. Phần mình vốn là cái phần ai cũng phải tự lo toan trước hết. Sự thật ấy thể hiện thật rõ ở những ngày này. Cả hợp tác xã mấy trăm con người rốt cuộc chỉ còn lại có mỗi cô tôi một mình lo toan chống đỡ cơn hồng thủy. Vậy mà không hiểu nhờ phép lạ gì mà bà lại là người chiến thắng. Một mình bà cứu sống cả một đàn lợn hơn trăm con. Tài sản, tiền bạc, lương thực của chung nhờ bà đều được gìn giữ vẹn toàn. Không có bà thì cái cơ sở sản xuất này tan vỡ từ lâu rồi! Nhiều người nói vậy và nhớ đến cuộc hỏa hoạn xuất kỳ bất ý năm nào thiêu trụi hơn phân nửa nhà cửa phân xưởng sản xuất bún đậu; bà là người đi nhặt nhạnh từng mảnh vụn tâm hồn con người đang buồn nản, gom lại, thổi vào họ một nguồn sinh lực mới. Bà dốc đến lai vàng cuối cùng vào vốn liếng cuộc vui vầy mới của tập thể. Tận tâm tận lực với mọi người, không tơ hào một xu một kẽm công của, không đòi hỏi một ưu đãi dù là cỏn con, chứ đừng nói là lạm dụng quyền hành, bà là nhân chứng sinh động của một luận đề càng ngày càng khó chứng minh: quyền lực có thể làm cho con người tốt đẹp thêm lên! Bà được tuyên dương là chủ nhiệm hợp tác xã gương mẫu. Bà là phụ nữ xuất sắc hằng năm. Bà có chân trong Hội đồng Nhân dân tỉnh các khóa. Bà đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua liên tục. Bà được nhận các bằng khen, huy hiệu và cả Huân chương Lao động. Bà là sự gặp gỡ kỳ diệu giữa sự hồn nhiên trong bản tính con người và tính lý tưởng của thời đại.
Tôi lên Lào Cai làm giáo viên, gặp cô tôi lúc mọi sự làm ăn còn đang thuận chiều. Thân quyến họ hàng nội ngoại tôi chẳng còn ai, ngoài tôi và cô tôi. Vì vậy tìm được tôi, cô tôi càng quý mến tôi bội phần.
Cô là người mẹ của vợ chồng tôi. Cô tỏa vào gia đình tôi một tình thương mến mẫu tử thật sự với một phong cách riêng: chuộng việc, chuộng tình, không chuộng lời. Thời ấy, một chiếc xe đạp Thống Nhất là cả một cơ nghiệp cán bộ. Thế mà cô cho tôi hẳn một chiếc Piaggio cá vàng. Cô cho vợ chồng tôi một đôi hoa tai hai đồng cân. Còn hai cháu nhỏ, đứa thì được chiếc lắc, đứa thì được cái vòng. Những khi chúng tôi dựng nhà làm cửa, lúc lũ trẻ sài đẹn ốm đau, hoặc khi cơ nhỡ thiếu thốn, cô tôi là người thường trực sẵn sàng bảo trợ và săn sóc, chia sẻ hết mình.
Khi đã ngoài năm mươi, theo nằn nì của tôi, cô tôi bằng lòng về ở với gia đình tôi. Tuổi mỗi ngày một cao, sức mỗi ngày một yếu, tôi nghĩ hẳn là cô tôi cần sự nương tựa, cậy nhờ vào con cháu. Vậy mà trên thực tế, bà chẳng bao giờ tỏ ra như vậy. Bà cho chúng tôi rất nhiều và chẳng bao giờ nhờ vả lại chúng tôi. Vẫn là phong thái một người lao động, quen sống tự lập, lắm khi bà cứ như một người khách lạ trong nhà, có một sự cách bức tế nhị, rất ngại phiền hà vợ chồng tôi. Năm năm mươi nhăm tuổi, bà thôi làm chủ nhiệm. Nhưng ngày ngày bà lại đi cắt gianh, lấy củi bán. Bảo bà ở nhà nghỉ ngơi, chơi với con cháu bà chỉ ừ hữ. Một hôm, bà thuê hai người khiêng về một cỗ hậu sự gỗ vàng tâm. Vợ tôi rất thương quý bà và là người nhạy cảm, phàn nàn rằng bà làm thế hóa ra coi vợ chồng, con cái chúng tôi là người dưng nước lã ư? Bà cười nhè nhẹ: Cứ để cô tự lo. Khi không lo được thì cô nhờ anh chị.
Chiến tranh Biên giới xảy ra tháng Hai năm 1979 hóa ra là cái vạch cách chia gia đình tôi và cô. Ấy là vì tình cờ, dịp đó chúng tôi đưa cả hai con về thăm quê ngoại, trở lên đến Hà Nội thì biết tin Lào Cai đang trong vòng chiến sự. Ở nhờ họ hàng bên ngoại ở Thủ đô, nghĩ đến cô tôi già yếu vẫn còn trong cảnh bom đạn, chúng tôi lo lắng đứng ngồi không yên.
Tôi tìm đường lên Lào Cai ngay khi ấy. Đường sắt không còn. Tôi đi xe đạp, rồi lần mò đường rừng, hỏi thăm, phán đoán nơi cô tôi đang ở. Nghe dân thị xã kể, sáng ấy nghe pháo nổ còn tưởng sấm, đến khi thấy xe xítđờca của ông cán bộ lãnh đạo thị xã phụt khói chạy vào mạn Cam Đường mới bảo nhau chạy theo, tôi liền theo hướng đó kiếm tìm. Nhưng lên tới Cam Đường thì được biết, dân chúng ở nơi này đã qua sông sang Phố Lu. Tới Phố Lu, tôi chỉ còn thấy di thể hai dãy phố xưa là hai vệt than cháy đen sì và nhận được tin đồn rụng rời: Cô tôi bị phía bên kia bắt. Chưa kịp hỏi số phận ra sao thì đã có người thêm: Giả vờ bắt thôi. Họ đưa bà ta về doanh trại, phong cho hàm thượng úy! Ôi trời! Phong hàm thượng úy cho một bà già gần sáu chục tuổi! Có chuyện nào nực cười hơn thế nữa không? Nhưng tôi chưa kịp cười, người nọ đã ra cái điều rất hiểu biết, thêm: Họ là thâm lắm. Họ cấy bà ấy lấy tay giám mã từ hồi nảo hồi nào cơ. Tôi thật sự kinh hoàng và tối tăm cả mặt mũi.
– Họ còn đặt điều dựng chuyện gì nữa?. Vợ tôi không nao núng, gay gắt gạn hỏi tôi, khi tôi từ vùng chiến sự phờ phạc trở về.
– Họ bảo chính cô là gián điệp nên đã mưu sát người chồng sau của cô.
– Rõ miệng lưỡi rắn độc chưa! Sao không vả vào đứa nào ăn không nói có thế!
– Họ nhắc lại chuyện từ thời cô làm chủ nhiệm hợp tác xã. Năm nào chết dịch hai mươi con lợn phải đem chôn. Hồi xảy ra vụ hỏa hoạn cháy xưởng chế biến đậu phụ. Họ bảo: Tất cả là có bàn tay của cô!
Vợ tôi nghiến răng, trào nước mắt, đập tay xuống bàn, thề sẽ lên Lào Cai, lấy tư cách là người cư ngụ lâu đời ở đó, để làm rõ trắng đen mọi sự. Y ngược Lào Cai ngay khi chiến sự vừa chấm dứt. Một tuần sau, y trở về, cũng lôi thôi, phờ phạc, mệt nhọc như tôi. Không kịp tắm rửa, y bổ nhoài ra giường ngủ một mạch mười tiếng đồng hồ liền, rồi ngồi dậy, toang toang:
– Tôi lên Cam Đường, sang Phố Lu, lên Phố Ràng, ngược Bản Phiệt. Tôi tìm thị ủy, tôi lên công an…
Tôi sốt ruột, ngắt lời y:
– Thế hư thực ra sao? Vợ tôi thở đánh rầm:
– Láo! Theo em là láo!
Câu thứ nhất là quả quyết khẳng định. Câu thứ hai đã giảm thiểu vẻ hăng hái. Ngáp một cái, vợ tôi tiếp:
– Bà có bị bên kia bắt. Bắt nhiều người chứ không phải chỉ có bà, vì bị vây, chạy không kịp. Nhưng sau họ lại thả cả.
– Vớ vẩn! Thế sao không bảo bà về dưới này?
– Sao lại không!
– Ý bà ra sao?
– Bà không về.
– Sao lại không về?
– Không về là không về chứ sao nữa. Ông giỏi ông lên mà kéo bà về!
– Phải nói quyết liệt vào chứ!
– Còn nói thế nào nữa! Bà ơi, bà về ở với chúng con. Bà gí đít vào mặt chúng nó, lũ bạc như vôi, quân đểu giả, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, ăn xong quệt mỏ, chỉ tài dựng chuyện, vu oan giá họa người khác.
– Nhà cửa còn gì không?
– Cháy trụi cả rồi. Cả cỗ hậu sự cũng ra tro rồi.
– Không về thì sống thế nào?
– Ở với một bà già nữa cùng cảnh ngộ. Không cắt cỏ đánh gianh nữa. Hai bà góp vốn buôn bán lặt vặt, chủ yếu là hàng khô, ở chợ Cam Đường. Ngày ăn cơm ở chợ. Tối về hai bà dúi dụi vào với nhau trong một cái túp ở làng Nhớn, bị lũ bạc ác hắt hủi đến tội nghiệp.
Không dám hỏi thêm, tôi thở hắt ra, buồn thương không thể nói thành lời.
Ngày tháng trôi đi, hễ chợt nghĩ tới bà cô tôi, một bóng già lủi thủi trên vùng núi xa xăm heo hút, lại nhoi nhói trong lòng một món nợ canh cánh xót xa. Thương bà tuổi già còn vất vả trong cuộc mưu sinh là một chuyện, nhưng cũng không phải là điều day dứt nhất. Chiến tranh như mưa rào, ào ào rồi tạnh. Vốn quen việc, lại chịu thương chịu khó, dẫu buôn đầu chợ, bán cuối chợ, trồng rau nuôi lợn, kỳ cùng thì bán sức cho người ta, để có được ngày hai bữa, với bà cô tôi không phải là khó. Đã từng là ân nhân của bao người, nay lẽ nào chẳng còn ai cứu giúp? Nhưng khốn nạn quá là cái đời sống tinh thần luôn tập nhiễm các độc tố này, nó chính là cái môi trường thuận tiện, để nuôi dưỡng tính đố kỵ, lòng ganh ghét, thói vụ lợi thâm căn của con người. Biến động xã hội lớn đã chi phối tất cả, nhào nặn lại tất cả, không chừa một ai. Đau buồn quá thể khi người lại là nạn nhân của chính người. Mà cô tôi sau một chặng đường dài sống xứng đáng, lúc này khi tuổi đã cao đang rất cần được sống thanh thản trong không khí trong sạch, thuần khiết và yên hòa. Một niềm an lạc vĩnh hằng là hết sức cần thiết với cái tuổi mãn chiều xế bóng của cô tôi.
Có lẽ phải có một mưu mẹo gì đây để đón được cô tôi về ở với gia đình tôi hiện đã chuyển cư về Hà Nội. Thế là, thư từ tôi gửi đi liên tục. Lời lẽ thật thống thiết. Lý tình thật phân minh. Phụ họa còn có thêm lời trẻ thơ thỏ thẻ mong mỏi có bà của hai đứa con tôi. Nhưng hiệu quả vẫn không thấy đâu. Đúng lúc ấy, chớm vào tuổi bốn chín, tôi bị cái hạn nặng quá. Đang đi xe đạp thì bị một thiếu niên phóng xe máy ẩu tông phải, xe bẹp rúm, người bắn lên hè, may không chết, chỉ gãy cẳng, phải nằm viện bó bột.
Vợ tôi khẩn cấp đánh điện lên cô tôi. Ngựa tái ông họa phúc biết về đâu, quả là một chân lý muôn đời. Cô tôi nhận được điện, ngày hôm sau đã có mặt bên giường tôi nằm.
Ghé xuống tôi một gương mặt nhang nhác quen, nhưng xa xôi hun hút, khiến tôi đang đau cũng phải bật nửa người dậy kêu thảng thốt. Ôi! Còn đâu nữa bóng hình tươi mát lồng lộng người cô thân thiết đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ai trẻ mãi, đẹp mãi được! Tất nhiên. Nhưng đây không phải là một tuổi già đương nhiên. Đây là một tuổi già có gương mặt xám ngắt, ngác ngơ, đôi gò má bạc phếch, hai con mắt lờ ngờ ánh xạ một trạng thái tinh thần thường xuyên bị hành hạ, giày vò và bất an.
– Cô có khỏe không, cô?
– Cô khỏe. Chân anh liệu có sao không?
– Có thể liền được, cô ạ.
– Cô lấy một ít thuốc lá của một bà lang người Mán Tuyển cho anh đây. Cả mật gấu nữa. Nếu không khỏi thì…
Vợ tôi nghẹn ngào:
– Có bà thì con không còn phải lo gì nữa. Bà ạ, từ lúc nghe tin anh ấy bị tai nạn đến giờ, con chẳng còn hồn vía nào nữa. Con cứ cuống hết cả lên. Giờ, thú thật với bà, con mới thở phào.
Đó là những ngày sung sướng của vợ chồng tôi.
Trạng thái rối ren đã được cởi bỏ. Trong nhà như có phép lạ, bầu không khí trở lại điềm tĩnh, tin cậy. Bà cô tôi là cả một kho báu kinh nghiệm săn sóc người ốm đau. Thuốc thang nồi lớn, siêu nhỏ suốt ngày đỏ lửa. Cơm nước, giặt giũ, quét quáy, chăm sóc lợn gà. Việc nọ gối lên việc kia, vậy mà lúc nào công việc cũng phân miêng, hòa hợp. Cô tôi tỏa ra một trường lực đủ để làm yên lòng kẻ rủi ro, yếu đuối. Chả mấy lúc trong nhà, mọi việc đều đã trở lại trạng thái cân bằng. Có cảm giác đã qua được cơn mê hoảng, đã đạt tới sự trọn vẹn và tâm thái mọi người, được hình dung như một quả cầu tròn. Đạt được kết quả ấy, có lẽ còn do từ phía tôi. Tôi đã trả được một món nợ. Tôi đã kéo được cô tôi về với gia đình tôi. Tôi mãn nguyện thật sự còn bởi vì, sau tai nạn xe cộ thiệt thòi, tôi bỗng như kẻ được đền bù mà đền bù còn quá cả lòng mong mỏi. Vợ tôi và tôi được nhận vào làm việc ở một cơ quan tại Hà Nội. Riêng vợ tôi bỗng dưng được hưởng một phần gia tài của bên ngoại từ nước ngoài gửi về. Nhà tôi giờ là một biệt thự ba tầng lầu, gồm mười hai căn phòng lớn nhỏ, đầy đủ tiện nghi sang trọng. Chúng tôi bước ra khỏi thời kỳ thiếu thốn. Xe máy, ti vi màu, máy điều hòa, máy giặt, tủ tường, sofa… bộ đồ trang bị cao cấp, thượng lưu không thiếu một thứ. Và vàng, và tiền, và những bữa cơm thường ngày thịnh soạn chẳng kém những bữa tiệc hồi nào, cùng cảnh sum họp, quần tụ ba thế hệ: bà, bố mẹ, con cháu trong tâm thế tĩnh tại, thư nhàn. Ôi, còn ao ước gì hơn bức tranh hạnh phúc hiện thực trong tầm tay này!
– Bà ơi, thế bà ở trên ấy có một mình thôi à?
– Ừ, bà ở một mình.
– Thế bà ăn cũng một mình à?
– Ừ, bà nấu ăn cùng một bà nữa.
– Thế trên ấy có ti vi không, bà?
– Không có. Nhà bà chưa mắc điện.
– Thế thứ Bảy bà có xem kịch, xem phim không?
– Khi nào rỗi thì bà đi xem nhờ.
– Thế thì chán lắm, bà nhỉ?
Vợ tôi đang đứng chải đầu trước gương, nghe các con ríu ran trò chuyện với bà, quay lại:
– Các cháu lớn cả rồi. Bà ở đây để chúng phục vụ bà. Hơi đâu mà bà lên cái đất đồng rừng bạc bẽo ấy.
Hai đứa trẻ bíu lấy bà. Một đứa giật tay bà:
– Bà ở hẳn đây với chúng cháu nhớ! Sáng cháu nấu cơm.
Chiều đến lân chị Thu. Bà không phải làm gì sất!
– Bà ừ đi, bà!. Một đứa giục.
Và cả hai đứa cười tít mắt khi thấy bà cô tôi gật gật đầu.
Cái chân bị giập đã đỡ. Tôi đã nhúc nhắc đi lại được. Nhưng tôi đã cố tình làm biếng, cố tình kéo dài thời gian hồi phục, vì còn đang rất e ngại, nếu tôi trở lại bình thường thì rất có thể, bà cô tôi sẽ từ biệt gia đình tôi liền. Thời gian chưa đủ để bà hòa nhập với nếp sống đô thị. Trong sâu xa, bà vẫn chỉ là một khách vãng lai. Bà vẫn là một tế bào xa lạ ghép vào một cơ thể khác chưa qua miễn dịch. Tôi nghĩ như thế vì nhận ra, rõ ràng là bà không mặn mà tiếp nhận sự săn đón mừng rỡ của chúng tôi. Tôi đưa tiền để bà tiêu vặt, bà lại dùng ngay số tiền đó để mua sắm, quà bánh cho bọn trẻ, mà nhiều khi số chi còn lớn hơn số bà nhận từ tay tôi. Bà ăn uống dè dặt. Đêm lạnh, bà vẫn chỉ đắp một múi dù xanh, kỷ vật từ hồi kháng chiến chống Pháp của ông chồng thứ hai của bà. Hay là đã thành cái nếp sống tự trọng ở bà? Ừ thì vẫn yêu quý nhau đấy, nhưng lại không bao giờ chịu xin xỏ, nhờ cậy nhau? Nhẫn nại, chịu đựng và cô đơn triệt để dường như là tập tính đã hằn sâu vào đời sống tâm hồn không thể cải biến được của bà. Có phải thế chăng? Hay đời sống tinh thần vốn rất bí nhiệm cũng thể hiện ở chính bà? Bà còn đang bối rối? Bà còn đang ở trong những ám ảnh, còn chưa được giải tỏa khỏi điều thị phi để thật sự thanh tâm?
– Bà mua vàng hương, hả bà?
– Ừ, sắp đến ngày giỗ ông Sẹc rồi.
Một hôm, tình cờ vợ tôi phát hiện ra điều hệ trọng nọ, và lập tức y săn đón:
– Ngày mấy, hả bà? Cháu sơ ý quá.
– Ngày rằm tháng này.
– Còn hai ngày nữa. Chú mất ngày rằm là thiêng lắm. Xong kỳ giỗ này, cháu sẽ mời thầy làm lễ để chuyển bát hương chú về đây, bà ạ.
Vợ tôi rất khéo. Y đã làm một cái giỗ thật chu đáo. Và tôi đọc được sự mãn nguyện trên gương mặt bắt đầu hé lộ sự yên tĩnh của bà cô tôi. Tôi đã mừng mừng. Không nhiều thì ít, chứ chẳng lẽ những ngày sống ở khung cảnh mới này, với một quan hệ dễ chịu, đầm ấm như thế này lại không có tác động gì đến tâm tưởng bà, không giúp bà tách ra, quên dần đi những cảnh đời buồn tẻ và ghê rợn trong mê lú cạnh tranh sinh tồn, khi thói tráo trở và vu vạ được đề cao như một đạo lý đích thực.
Nhưng tôi đã nhầm.
Chân cẳng đã liền, tôi vừa đi lại bình thường được hai hôm thì ngày thứ ba, bà cô tôi đã kéo cái làn mây đựng quần áo từ trong gầm giường ra. Tôi kêu hốt hoảng:
– Bà định đi đâu?
– Tôi nghĩ… anh đã khỏe rồi.
Hai đứa con tôi nhao tới giữ tay bà:
– Ứ ừ, bà ở hẳn đây, bà không đi đâu cơ! Vợ tôi nức nưởi:
– Cô ơi! Bố mẹ cháu cũng không còn. Các cháu và nhà cháu chỉ còn có cô là ruột thịt thân thiết thôi.
Bà ngồi lên giường, nhẩn nha cố tình:
– Ừ thì cũng để tôi ngược lên trên ấy, có gì thì cũng phải bán nhà, thu xếp trả nợ, đòi nợ cho xong đã chứ!
– Bà không có nhà trên ấy! Bà nói dối!. Hai đứa trẻ la.
Bà cô tôi kéo hai cháu vào lòng, rơm rớm nước mắt:
– Hỏi mẹ các cháu xem nào. Ối người còn nợ bà. Với lại bà lên để chuyển bát hương ông Sẹc, ông Thông về dưới này. Có đúng thế không, mẹ Thu?
Vợ tôi khôn ngoan, lập tức vơ vào:
– Thế thì để con cùng đi với bà!
– Cháu cũng đi!. Hái đứa trẻ đồng thanh. Bà cười xòa:
– Gớm thôi, cứ làm như bà chạy mất được ngay ấy!
Cuối cùng, cái gì phải xảy ra đã xảy ra. Nghe tiếng còi tàu hú dài ở ngoài ga, tôi nhìn quanh căn buồng, bỗng thấy trống trải như nhà hoang. Hai đứa trẻ đi học về bỏ cơm, òa khóc trong cảm giác đơn côi hãi hùng.
Từ đó, cô Sẹc không bao giờ trở lại nhà tôi nữa. Biết là có đón rước, mời mọc bà, thậm chí lập mẹo đưa bà về, cũng vô ích, tôi chỉ còn biết tự hỏi mình trong âm thầm riêng tư, những mong khám phá phần nào cái bí ẩn ghê gớm ở con người bà. Chả lẽ cái cuộc sống lầm lụi kiếm ăn lần hồi lại có sức níu kéo bà, ở khía cạnh nó là biểu hiện của tính tự lập can đảm và lòng yêu thích tự do? Tình yêu thương con cháu cũng là một ràng buộc, nhưng vì cuộc đời bà quá nhiều rủi ro, bà chưa hề được nếm trải vị ngọt của nó nên bà chưa quen? Sống nơi nhà cao cửa rộng mấy ai đã quên được túp lều rách nát xuất thân của mình? Hay tâm linh vẫn là miền gắn bó ẩn mật ngàn đời? Bà không thể xa được nơi bà đã để ở đó cả cuộc đời vui buồn của bà, nơi có phần mộ của hai người chồng xấu số của bà?
Có người bạn tôi lên trên đó công tác. Theo địa chỉ tôi ghi và do tôi nhờ cậy, người này đến thăm bà cô tôi. Trở về, anh cho biết: Cứ theo như lời cô tôi thì bà không bao giờ về ở với gia đình tôi ở Hà Nội đâu! Không bao giờ! Lý do là: Vì bỏ đất này đi là bà chạy trốn, là bà thua cuộc, là bà phản bội lại vong linh hai người chồng, là bà hèn nhát. Bà phải ở lại, sống hằng ngày ở đó, đối mặt với cái đảo điên, bỉ tiện, để nó phải xấu hổ, phải uất ức, phải nhục nhã. Bà là sự sống nhẫn nại, bền bỉ, ngay thẳng. Bà thách thức tất!
Ôi! Bà cô của tôi! Bà ơi, bà là một nhân cách cao thượng, đàng hoàng. Nhưng bà ạ, thừa hơi phí sức mà bà phải dàn mặt với cái lố lăng, đê hèn, dẫu nó đang mỗi lúc một đông đảo thêm vì sự thịnh đạt của thói xu thời? Vẫy vùng làm chi nữa bà ơi, gia đình con đây, một niềm an lạc vĩnh hằng xin dang tay đón bà về! Tôi đã thầm kêu như vậy và vội vã viết thư lên cho bà cô tôi, sau khi nghe bạn kể.
Nhưng sự việc đã không chỉ dừng ở đó. Và tôi đã thật sự kinh hoàng khi cuối năm ấy vợ tôi khăn gói lên thăm bà, trở về cho biết: Bà đã đi tu. Bà đã cắt tóc, thành tâm quy y ở ngôi chùa Thượng mới trùng tu sau chiến tranh. Bà mang pháp danh là Diệu Hoa. Bà bảo, bà mang vạ không phải do miệng thế chênh lệch, lòng người nham hiểm mà là do nghiệp căn bà còn nặng. Bây giờ suốt ngày bà đọc kinh sám hối. Kinh kệ vốn là phương tiện, là bè mảng để bà đi qua sông mê, tới miền an lạc.
Tôi trào nước mắt, đau đến tận xương tủy. Nhưng chợt như bóc tách được một lớp màng che kín cặp mắt mình bấy lâu, tôi đã nhận ra rằng cô tôi, một đời người bình dị mà quả cảm vô song, cô tôi đã dám sống hết chiều kích, tự lập, tự chống trả, và bây giờ bà đang tự giải thoát! Một đời cô tôi thế là đã mãn!
Nghĩ đến cái chung cuộc một kiếp người, tôi nghĩ tới cái kết thúc của thiên truyện ngắn buồn nhiều hơn vui này. Nhưng một lần nữa tôi lại nhầm. Truyện ngắn này chỉ kết thúc thật sự cùng cái chết của bà cô tôi, sư cô Diệu Hoa.
Cô tôi mất đúng ngày rằm tháng Sáu năm ngoái. Vợ chồng tôi theo điện báo, vội vã lên thọ tang bà đúng lúc tang lễ đã cử hành. Lần đầu tiên tôi được biết các nghi thức lễ tang nhà chùa. Tôi nhớ từng chi tiết đám tang. Cái Phật đình đi sau hàng cờ Phật, vuông vức, uy nghiêm, trong đặt tượng Phật, lư hương, mâm bồng, oản quả. Sau Phật đình là sư ông đội mũ hoàng liên, chân đi dép dừa, khoác áo cà sa màu vàng chươi chưởi, tay trái cầm cây tích trượng, tay phải dựng thẳng trước ngực, dáng điệu vừa thanh thản vừa tôn nghiêm. Sau sư ông là đoàn chư già hơn trăm vãi, xếp thành hàng ba, đồng loạt áo nâu buộc dải, đội nón tu lờ, bên trên nón trải cầu vải mang hình mây bay ngũ sắc.
In sâu vào trí nhớ tôi còn là hình ảnh một người đàn ông nhà chùa ăn mặc nâu sồng, chốc chốc lại thấy len lỏi vào đám người đi sau cùng của cuộc đưa tiễn. Không phải để mời trầu thuốc hay phát băng tang, người này chỉ làm mỗi việc là thi thoảng lại đưa mắt dò xét, rồi sau đó là len lách tới, ghé tai một người nào đó trong đám người nọ. Không hiểu ông nói những gì mà người nghe bỗng đỏ dừ mặt, rồi cúi đầu, gằm mặt xuống đất, lặng lẽ tách ra khỏi đám tang, ra về. Về sau, hỏi mới biết, đó là những người không được phép dự cuộc tống tiễn người quá cố, theo di chúc của cô tôi.
Số người này có đến gần chục. Toàn những người sống cùng thời với cô tôi, tên tuổi đã một thời lừng lẫy. Ôi, người cô ruột thịt vô cùng kính quý của tôi, sau bao nhiêu nỗ lực, cuối cùng tu vẫn không chót, bà vẫn chưa qua được sông mê, chưa tới được miền an lạc vĩnh hằng.
12/1994
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương MIỀN AN LẠC VĨNH HẰNG. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
Chú thích 1. Sidecar, mô tô thuyền.
Chú thích 2. Ngựa tái ông họa phúc biết về đâu là Câu thơ trong Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng.