Sâm sẩm tối Tư mới thủng thẳng đạp xe về tới nhà.
Hè này, ba đứa con Tư về quê ở với bà nội, Tư trở nên một kẻ rỗi rãi. Chậm chạp đẩy xe lên gác, Tư mở cửa buồng, đưa xe đạp vào bếp, rồi đi vào buồng trong, vì thấy ở buồng ngoài vợ mình đang tiếp khách.
Nhà có hai buồng thật tiện. Khách vợ, khách chồng tha hồ mà trò chuyện, chẳng ảnh hưởng đến ai. Giữ phép lịch sự, Tư chỉ cần ló đầu ra cửa buồng, chào khách của vợ một câu, rồi tự do trong căn buồng của mình. Thông thường là vậy. Nhưng lần này, ló ra định chào khách của vợ như thường lệ, Tư đã chỉ khẽ gật đầu, thì nhận ra , khách chỉ là một chú bộ trạc mười ba, mười bốn tuổi và cuộc trò chuyện của chú ta với vợ Tư bên mâm cơm chiều dọn sẵn đã khiến Tư phải chú ý lắng nghe.
– Cháu ăn đi., Tiếng vợ Tư ân cần với chú khách nhỏ., Ăn đi, rồi bác xới tiếp nữa cho.
– Vâng, bác cho thì cháu ăn., Chú bé đáp thật thà., Nói thật với bác, cháu ăn khỏe lắm. Hồi trước, mỗi bữa cháu ăn bảy bát cơ.
– Nói trạng! Hồi trước là hồi nào?
– Hồi trước là hồi mẹ cháu còn ở với bố cháu ấy. Mẹ cháu tốt lắm cơ, bác ạ. Không phải mẹ hát con khen hay đâu. Hàng xóm cũng phải công nhận mẹ cháu là người ăn ở có đức độ, biết điều. Ai có khó khăn gì mà mẹ cháu giúp được là mẹ cháu không bao giờ từ chối. Tính mẹ cháu hay thương người lắm.
Một lần nữa, Tư lại nhìn ra buồng ngoài. Thằng bé con nhà ai, ở đâu mà ăn nói già dặn thế? Vợ Tư đón bát, xới một bát cơm đầy ụ cho nó. Nó đưa cả hai tay cung kính đón nhận, miệng nhỏ nhẻ: Cháu cám ơn bác nghe rất thương và và miếng cơm rất gọn, rất ý tứ.
– Ăn trứng rán đi cháu.
– Cháu không thích trứng. Cháu ăn cà thôi. Mẹ cháu muối cà sổi ngon lắm kia, bác ạ. Ướp cả tỏi, cả riềng nữa. Nhưng mà mẹ cháu không cho cháu ăn thả cửa đâu. Mẹ cháu bảo cà độc. Còn bây giờ thì… lắm hôm cà cũng chả có mà ăn.
Vợ Tư chép miệng:
– Bây giờ hoàn cảnh khó khăn quá. Một đồng có hôm chỉ mua được dăm quả cà pháo. Bố cháu, dì cháu lại đông em. Cháu thông cảm.
Thằng bé nhoai cái cổ gầy, nuốt miếng cơm, mở mắt to:
– Cháu biết chứ. Cháu còn biết nhiều điều khác nữa cơ. Như bố cháu ấy, thật ra không phải là con người độc ác, nhưng hay a dua, xu thời và hèn.
– Sao cháu lại nói thế?
Thằng bé cúi xuống, cảm thấy đã lỡ lời, liền chuyển sang chuyện khác:
– Cháu biết suy nghĩ chứ, bác. Không nên đòi hỏi cái gì quá. Công bằng cũng phải dựa trên sự hợp lý. Đến bữa cơm, dì cháu chia thịt, trứng cho hai em cháu. Cháu chỉ được một bát rau. Cháu thấy thế là phải. Vì hai em cháu, một đứa lên ba, một đứa lên sáu, chúng còn bé, chả lẽ cháu tướng, sĩ, tượng thế này lại ăn tranh phần của chúng.
Thằng bé chành miệng cười nhạt, rồi tiếp:
– Nhưng mà cũng có những điều quá đáng, bác ạ. Hôm qua bố cháu đi làm, đem về một hộp sữa Con chim. Bố cháu pha cho cháu một cốc. Phải đến năm sáu năm nay cháu không biết sữa là gì. Nhưng, cháu chưa kịp cầm cốc sữa uống, thì mụ ấy nhấc ngay cốc sữa, hất toẹt ra sân.
– Chết!
– Cháu chẳng bịa tẹo nào đâu. Mụ phù thủy ấy càng ngày càng độc ác, bác ạ. Mụ ấy ra hẹn với cháu: hôm nào mà không lấy đủ rau thỏ thì sẽ cắt cơm cháu. Cũng không cho ngủ ở trong nhà nữa. Ra hiên mà ngủ. Có hôm cháu đói quá, bố cháu mới lén đưa ra cho cháu một bát cơm nguội. Thế mà mụ ấy biết. Mụ ấy chạy ra, giằng bát cơm từ tay bố cháu, đổ ngay xuống đất, nói là cho chó ăn còn hơn cho cháu ăn. Giờ thì cháu tự giác rồi: không được phép mụ ấy là cháu không ăn. Bác ạ, hồi con mụ ấy còn bé tí, cháu phải bế ẵm chúng, chẳng bao giờ mụ ấy cắt cơm cháu, nhưng cứ rít lên: Mày mà đánh ngã nó thì tao giết mày! Nghe mà còn sợ đến bây giờ. Nhưng, chẳng bao giờ cháu đánh ngã chúng cả. Cháu quý hai đứa em cháu lắm kia. Chúng ốm đau quặt quẹo luôn ấy. Vì chúng mà cháu phải đúp lớp sáu. Thành ra, bây giờ to bự thế này mới học lớp bảy, nghĩ lắm lúc cháu chẳng muốn đi học nữa.
Thằng bé dừng, môi phảng phất một ánh cười hóm hỉnh và hiểu biết, rồi hạ giọng thủ thỉ:
– Bác ạ, cháu ấy mà, cháu không độc ác được đâu. Thật đấy, bác ạ. Thấy người tàn tật, cháu thương lắm. Đi tàu điện lần nào có tiền cháu cũng cho bố con ông xẩm mù. Một bận, cháu cho hai mẹ con người đến ăn xin hai bát cơm, dì cháu dộng đầu cháu vào tường sưng vếu lên đấy. Hôm nọ đi ra ga, một bà cụ gánh gạo nặng quá, cháu gánh hộ bà cụ. Tới ga, bà cụ cho cháu mười đồng, cháu nhất định không lấy. Mình phải biết thương người chứ, bác nhỉ?
Không đừng được nữa, câu chuyện của cháu bé cuốn hút Tư, Tư bước ra buồng ngoài. Và bây giờ Tư mới nhìn được thật rõ cái chú bé tự coi mình là to bự, là tướng sĩ tượng. Thật ra, chú ta hơi còi cọc, vẻ còi cọc diễn đạt trung thành sự thiếu ăn. Khuôn mặt chú ta choắt, sạm nắng, nhưng vẻ lam lũ chỉ thoáng qua rồi bị lu mờ ngay vì khuôn mặt như đúng khung trong làn tóc đen mềm mại, với đôi mắt to, sáng ngời ngợi và hai cái tai lá mít tròn đều, đậm đà nỗi hồn hậu, thơ ngây. Chú ta là sự hòa trộn cân bằng giữa hai tính cách đối lập, vừa già dặn khôn ngoan vì khốn khổ, tủi cực, vừa lấp lánh tình yêu thương và niềm vui bất ngờ.
Tư rũ cái áo mưa, mắc lên cái mắc áo sau cánh cửa:
– Để mâm lên bàn cho cháu nó ăn uống đàng hoàng chứ, bà.
Thằng bé thấy Tư bước ra, khe khẽ chào, đặt cái bát đã sạch bong xuống rìa mâm, chập đôi đũa gạt qua mép, điệu bộ tự nhiên và thành thạo, rồi đứng dậy, lễ phép:
– Cháu xin phép hai bác, cháu no rồi ạ.
– Cháu đừng làm khách đấy nhé!
Tư vui vẻ. Nhưng, chú bé cười, lắc lắc đầu, rồi từ chối chén nước chè vợ Tư đưa, chào vợ chồng Tư, lui ra cửa.
Tư bưng mâm cơm đặt lên bàn. Vợ Tư cầm khăn chấm kẽ mắt:
– Đã bưng lên bàn rồi đấy chứ, nhưng nó đòi hạ xuống.
– Bà gặp nó ở đâu?
– Tôi xuống tầng một gánh nước. Đang ì ạch leo lên gác, thì nó xin gánh đỡ. Rồi nó vào nhà, xa xẩn chơi với con búp-bê, cái ô-tô, chiếc xe tăng của thằng Bình, con Mận, thằng Sơn nhà mình. Hỏi chuyện, thì ra nó ở dãy nhà đằng sau, con ông Thống cán bộ thương nghiệp và bà Sim mậu dịch viên, bán ở quầy thịt của phường. Ông Thống bỏ vợ, lấy bà Sim này. Thằng Kiểm là con riêng với vợ cũ của ông Thống. Khổ! Người lớn làm tội trẻ con là thế!
Tư gai gai cả người vì câu nói cuối cùng của vợ. Và, suốt bữa cơm, hai vợ chồng Tư cùng im lặng, chẳng ai nói thêm một lời nào
Từ hôm ấy Kiểm trở thành khách quen của vợ chồng Tư. Chú bé thiếu người để thổ lộ tâm sự. Vợ Tư lại đang thời kỳ sửa soạn nghỉ hưu, con cái về quê nghỉ hè, vả, bà cũng là người thích trò chuyện và quý mến con trẻ. Xuất thân nơi đồng ruộng, nét cũ kĩ còn in dấu trên khuôn mặt, còn trong thâm tâm bà, cách cảm nghĩ thì rất thật thà, đôn hậu.
Chú bé hay đến nhà Tư vào các buổi chiều. Có hôm nó ăn cơm cùng vợ chồng Tư, có hôm không, thường là không. Lại có hôm ôm đến cho vợ chồng Tư một bó rau muống to tướng, nói là tự mình trồng được, nhà ăn không hết. Nhiều hôm nó ngồi buồn xỉu, mặt có vết tím bầm, người bơ phờ mệt mỏi, nói không ra hơi. Thường nó hay tha thẩn chơi các đồ chơi của con Tư. Cũng nhiều hôm vừa kể chuyện vừa bóc lạc, sảy gạo, lau nhà với vợ Tư. Nó thật là một đứa trẻ do hoàn cảnh thúc ép mà sớm phải biết mọi chuyện đời. Nó kể: một cô gái ở cạnh nhà nó vừa tự tử vì bà dì ghẻ cưỡng ép phải lấy một ông mà cô ấy không yêu. Nó bảo, công an vừa xích tay một nhân viên cùng làm ở cửa hàng thịt dì nó. Nó vanh vách kể tên những đứa chuyên nghề móc túi, trấn lột và các thủ đoạn, mánh lới lừa lọc của bọn chỉ trỏ, đầu cơ, phe phẩy. Nó nói cà- phê ở hiệu A chỉ là hạt muồng trộn với bột nếp. Nó biết rất nhiều tệ lậu còn rơi rớt ở xã hội, kể cả chuyện hối lộ tiền để đi nước ngoài và xin vào các cơ quan thương nghiệp. Nó đọc ca dao, hò vè, và kể làu làu chuyện tiếu lâm mới. Thấy Tư có quyển truyện thiếu nhi nào là nó xin mượn về đọc.
Chú bé ấy có một khả năng tự biểu hiện sâu sắc. Nhưng, nó không làm cho Tư kinh sợ vì sự khôn ngoan, lọc lõi. Nó không chai lì, không tàn nhẫn. Bị vùi dập và dồn vào cảnh sống thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm, nó vẫn còn giữ được một khoảng cách, chưa đồng hóa với cái xấu, chưa mặc nhiên công nhận cái xấu như là một tất nhiên, bước tha hóa cuối cùng của nhân cách. Ngược lại, nó tràn đầy lòng thương yêu. Nó nói, nó rất quý, rất yêu thằng Chí, cái Oanh, hai đứa con cùng cha khác mẹ, mặc dầu hai đứa ấy nhiều khi là cái duyên cớ để dì nó hành hạ nó. Dì nó vốn cưng chiều con mình và để thỏa mãn tình thương yêu ấy, bà phải hành hạ nó, trút cái vất vả, khổ cực lên đầu nó. Và hai đứa trẻ cùng sớm bị ảnh hưởng cái thói cay nghiệt, cái đặc quyền được đày đọa con chồng của mẹ, đành hanh ghê người, nhiều khi quái ác, bịa tạc đổ tội lên đầu thằng anh, để nó hứng chịu đòn oan của bà dì.
Một lần mang sách đến trả Tư, chú bé kể những lần bị đòn oan, rồi cười nhẹ tênh:
– Nhưng mà cháu không thể ghét chúng nó được, bác ạ. Xa chúng nó một ngày cháu cũng nhớ cơ. Cả hai đứa cháu bế ẵm từ lúc chúng còn đỏ hỏn. Cháu giặt giũ, tắm rửa, quấy bột, bón cháo bón cơm cho chúng nó nữa. Hồi ấy, dì cháu còn nghèo lắm. Công nhân làm đường giao thông ấy mà. Về ở với bố cháu chỉ có mỗi cái ba-lô rách thôi. Sau, bố cháu xin cho chân bán hàng ở cửa hàng thịt, rồi dần dần mới khá lên như bây giờ. Nhưng khá lên thì lại ki bo, độc địa lên, bác ạ. Cháu có đồng nào trong túi không tiêu cháu thấy ngứa ngáy lắm. Mà tiêu thì cũng chỉ là mua quà cho hai đứa bé thôi. Thế mà một lần cháu mua kẹo gôm cho chúng ăn, dì cháu bắt cả hai đứa phải nhè ra, không cho chúng ăn. Thế là bằng tát vào mặt cháu rồi còn gì! Nhưng cháu kệ. Ai ác nghiệt với cháu thì cháu không biết, còn cháu, thấy đứa trẻ nào cũng bé bỏng, cũng muốn ẵm bế, mua quà cho chúng ăn thôi. Bác ạ, cháu thấy ở trong sách truyện ấy mà, người tốt nhiều hơn kẻ xấu, mà như thế là phải chứ.
Dần dần vợ chồng Tư càng mến chú bé Kiểm. Tư hay trò chuyện với nó, trong thâm tâm muốn đóng vai người hướng dẫn tinh thần cho nó. Nó, một đứa trẻ không may rơi vào cảnh ngộ éo le này, rất dễ trở nên cằn cỗi, thui chột hết các mầm nhân bản, hết khả năng yêu thương, lạnh lùng nhẫn tâm với đồng loại. Tất nhiên Tư và vợ Tư cũng hết sức giúp đỡ nó về mặt vật chất trong phạm vi có thể. Cho nó cái áo len, cái quần, chiếc mũ, cây bút máy, chiếc khăn tay. Mời nó ăn những khi nó bị bà dì cắt cơm… Nhưng, nó tỏ ra một đứa trẻ tự trọng, hãn hữu lắm mới nhận.
Bẵng đến nửa tháng, thằng bé Kiểm không thấy đến nhà Tư. Tư bồn chồn. Vợ Tư nói: thằng bé bỏ học rồi, dì nó bắt nó thôi học để tìm việc làm. Tư càng nôn nao. Thằng Kiểm thôi học, từ giã tuổi niên thiếu, gia nhập vào dòng đời nào ngoài xã hội kia?
Nhưng, đột ngột chủ nhật ấy, Tư đang lau xe đạp thì thằng Kiểm đến. Nó vẫn quắt người như thế, nhưng trông như cao lớn đến dăm bảy phân. Có lẽ vì bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình. Đã thế cái đầu lại húi móng lừa, trông vừa nghịch vừa ngang.
Tư mừng rỡ, bỏ cái xe đạp đang lau, theo nó vào nhà:
– Lâu lắm mới lại thấy cháu. Vừa rồi chau đi đâu đấy? Ngồi xuống uống nước đi, cháu!
Kiểm ngồi xuống ghế, nhe răng cười, nhẹ nhõm:
– Cháu sắp lấy vợ đấy, hai bác ạ.
Vợ Tư đang sàng gạo, đặt mạnh cái sàng ngồi xuống, ngẩng lên sửng sốt còn hơn Tư. Tư kêu ngắc ngứ:
– Sao, cháu mà lấy vợ à?
– Cháu nói đùa thế thôi. Ý nghĩ ấy cháu vừa mới nảy ra khi bước lên cầu thang nhà bác. Nhưng, cháu mà lấy vợ thì hai vợ chồng cháu sẽ yêu thương nhau suốt đời, hai bác ạ. Như là… hai vợ chồng bác ấy.
Tư thấy nhói trong lòng. Chưa bao giờ Tư nghe thấy từ miệng đứa trẻ những dự định, ý tưởng như thế; những dự định, ý tưởng như thế vừa đẹp vừa đáng sợ, vì đó là điều nó rút ra sau bao nhiêu ngẫm nghĩ từ cuộc sống buồn thảm của nó.
Vợ Tư vừa lắc cái sàng vừa cười:
– Ranh con đã nói chuyện vợ chồng. Mày biết gì về vợ chồng bác nào?
– Cháu biết chứ. Thoáng qua cái là cháu hiểu ngay.
– Xem tướng mặt chắc?
Tư đùa. Thẳng Kiểm tủm tỉm.
– Cháu biết chứ., Rồi quay sang Tư., Cháu hỏi bác một câu nhé: Có phải khi người ta nghèo thì người ta hay thương yêu nhau không? Ngược lại, giàu có thì ki bo cả đồng tiền lẫn tình cảm.
– Chẳng cứ!
– Cháu nghĩ thế này, ki bo cho nên mới giàu. Giàu rồi lại muốn giàu nữa, nên càng ki bo.
Câu chuyện từ miệng đứa trẻ mà chẳng trẻ con tí nào. Tư gật đầu:
– Giàu có mà như thế dứt khoát là xấu rồi. Còn nghèo thì cũng không nên tự hào cháu ạ, nhất là nghèo do lười biếng, ngu dốt và ăn tiêu bừa bãi. Còn tình thương yêu, theo bác, nó thuộc bản tính từng người và do giáo dục.
– Thế cháu hỏi bác: Khi người ta làm điều ác, người ta có biết đó là điều ác không?
– Nếu là người bình thường thì họ biết chứ. Còn…
Thằng bé cắt ngang lời Tư:
– Biết cả đấy, bác ạ. Bác có thấy bọn phe, bọn trộm cắp chúng hay cúng bái không? Chúng sợ bị trừng phạt đấy. Dì cháu ấy mà, chăm đi lễ chùa lắm cơ. Vừa rồi bà ấy đi lễ Đền Xanh tận Tuyên Quang đấy. Hừ, người thật là một giống kì lạ, bác ạ. Nó vừa hăng hái tự bảo tồn, vừa lại hăng hái tiêu diệt lẫn nhau.
Tư quay phắt lại, nhìn chú bé, lòng dấy lên một nỗi kinh hoàng đến run rẩy. Thằng Kiểm đã nghe ở đâu, đã nhập tâm từ đâu những ý nghĩ ghê gớm ấy. Đã xuất hiện một bước ngoặt lớn trong nhận thức của nó rồi chăng?
Nhưng, hình như cũng đoán được thái độ lo lắng của Tư, thằng Kiểm liền quay về phía vợ Tư:
– Cháu nói lăng quăng vậy thôi. Tuần vừa rồi, nhân lúc dì cháu đi lễ, cháu về nhà mẹ cháu, hai bác ạ.
– Mẹ cháu ở đâu?
– Ở tít tịt tận ga Giáp Bát cơ., Thằng Kiểm vừa nói vừa đưa tay mở khuy áo túi ngực trái., Cháu có ba chục đồng, mẹ cháu mới cho, cháu gửi bác giữ hộ, không cháu lại ngứa tay tiêu mất. Mẹ cháu cho cháu cả cái bánh dẻo nữa. Nhưng, không cho cháu mang về, bắt cháu phải ăn ngay tại chỗ. Hình như sợ cháu đem về lại cho hai em cháu thì phải. .
– Mẹ cháu thì nhất định phải yêu quý cháu hơn đứa khác chứ.
Vợ Tư giảng giải. Thằng Kiểm lắc đầu:
– Nhưng mà cháu cũng quý hai đứa em cháu chứ.
Đứng dậy, đổ gạo vào thùng, vợ Tư dè dặt:
– Kiểm này, mẹ cháu quý cháu thế, sao cháu không về ở với mẹ cháu?
– Về sao được, hở bác?, Như giật thót mình, thằng Kiểm trợn trừng, Cho cháu tiền, bánh cũng là cho giấu thôi. Ông chồng mẹ cháu ấy giàu, nhưng cũng chi li tính toát chắt bóp lắm. Dân lái xe tải mà. Nhất téc, nhì ca, thứ ba xe tải, lải nhải xe con mà. Cháu đến mẹ cháu cũng còn phải giấu ông ấy cơ. Hai vợ chồng, tức là ông ấy với mẹ cháu, khi lấy nhau đã quy ước là phải cắt đứt mọi quan hệ với con riêng mà! Hừ, người lớn quái quỷ thế đấy! Cháu đến là vì cháu nhớ mẹ cháu, chứ có phải cháu đến để xin xỏ gì đâu, mà hễ thấy cháu là ông ấy hầm hầm cái mặt. Nhưng, lần này cháu đến lại hóa may. Cháu gặp chị Hòa, con riêng của ông ấy. Chị Hòa mười chín tuổi, đang học Trung cấp Hóa chất, chị ấy bảo cháu: Kiểm ơi, chúng mình cùng chung một số phận. Chị rất thương em. Sắp tới chị tốt nghiệp, đi nhận công tác, có lương chị sẽ giúp em ăn học.
Dừng lời, chừng như xúc động, Kiểm quay ra cửa, giọng trầm hẳn xuống:
– Nói vậy thôi, chứ cháu chả trách họ đâu. Vì họ lấy nhau cũng là bất đắc dĩ, hai bác ạ. Bố cháu phải lòng mụ phù thủy, mẹ cháu chán nản, buồn bã đi lang thang, gặp ông lái xe này. Hừ, người lớn phức tạp quá! Rất ít người dám coi nhẹ đồng tiền, hai bác ạ.
Như bị choáng ngợp, Tư đi ra hiên, đứng cạnh cái xe đạp đang lau dở, tiễn đưa thằng Kiểm. Thằng Kiểm, những nhận xét trần trụi về con người, lòng căm ghét của nó với thói vị kỷ, toàn bộ những điều nó nói cùng những đồng tiền nó gửi, báo hiệu những điều gì?
Đang định chào Tư, thằng Kiểm bỗng cúi xuống, thuận tay quay cái bàn đạp chiếc xe, rồi ngẩng lên:
– Lốp xe bác mòn trơ rồi. Bác có mua líp chính hiệu cháu mách chỗ cho. Gin hẳn hoi. Chứ bọn bán líp ở phố toàn của rởm cả đấy, bác ạ. Chúng nó toàn bọn trên túm dưới tóe, gấu quần phải rộng băm hai phân là ít. Bọn này trơ tráo trắng trợn lắm. Nhưng cháu mặc bộ quần áo này,, Kéo cái ống quần rộng, Kiểm nhe răng cười – Mẹ cháu mua cho cháu đấy, đứa nào cũng phải gờm, bác ạ.
Quần áo gây cho con người ý thức về nhân cách, phẩm giá. Với bộ quần áo bộ đội quá khổ, biến thái của một thái độ tự khẳng định, một cái mốt thế tục, biểu hiện tư chất một con người trưởng thành và dày dạn, thằng Kiểm đi vào đời và nó sẽ trở thành một con người như thế nào?
Số phận của đứa trẻ và tính chất mờ ảo, bấp bênh của viễn cảnh của nó khiến Tư bứt rứt khôn nguôi.
Trẻ con, nỗi day dứt thường xuyên, vĩnh cửu của con người. Chúng là niềm vui hay là lỗi lầm của người lớn? Chúng là đóa hoa của cây đời hay gánh nặng của cuộc sống, là giấc mơ tiên hay ác mộng ma quỷ? Chú bé Kiểm là một nạn nhân, phản ánh tính phức tạp của cuộc sống con người. Nó là hậu quả của những va động dưới áp lực của những quan niệm đạo đức và dục vọng khác nhau. Thói mưu cầu lợi ích vị kỷ, sự thôi thúc của cái dạ dày và con tim, những lầm lỡ và cả những nỗ lực tái tạo, hồi sinh cần khích lệ, đã đảo lộn cơ tầng đời sống, các gia đình, làm nảy sinh những đứa trẻ bơ vơ, mất nơi nương tựa và bẽ bàng. Hoàn cảnh đó cho chúng thấy một sự thật trớ trêu: trong nhiều lúc, nhiều khi con người không còn có khả năng yêu thương ngoài kẻ ruột thịt, máu mủ của mình. Những đứa trẻ ấy sẽ thành người lớn, và buồn thay, nếu như chúng trở thành những kẻ tàn ác, tàn ác với đồng loại một cách mặc nhiên và trơ tráo, vì tự cho mình có cái quyền được ứng xử như mình đã từng hứng chịu. Tình yêu trai gái, tình mẹ con… những tình cảm tự nhiên ấy thật tình không hiếm những mẫu mực cao cả làm xúc động lòng người. Yêu thương kẻ ngoài quan hệ huyết thống, yêu thương con người với tính cách đồng loại, một tình yêu hoàn toàn hồn nhiên, không mảy may vụ lợi, tình yêu ấy lúc này mới thật hiếm hoi và cần vun đắp làm sao!
Tư thật sự lo sợ cho hoàn cảnh của thằng Kiểm và cuối cùng, nỗi lo sợ của Tư đó là sự thật.
Chiều ấy, Tư từ cơ quan về, chưa kịp dắt xe đạp vào nhà, vợ Tư đã hớt hải bước ra hiên:
– Thằng Kiểm nó bỏ đi rồi, ông ạ.
Chiếc xe đạp gần như bị buông, đập đánh kịch tay lái vào tường, choài choại cái bánh xe trước. Tư thở không ra hơi:
– Đi lúc nào?
– Trưa nay nó sang đây. Nó nói cho nó xin lại ba chục. Tôi gặng hỏi mãi, nó mới nói là nó đi lên mỏ Apatít Lao Cai.
Tư rơi mình xuống ghế:
– Sao nó đi đột ngột thế?
– Dì nó ác quá. Bây giờ nghe người ta nói, tôi mới biết., Mắt vợ Tư nhoèn nước., Khốn khổ, hôm kia nó lỡ tay đánh sứt cái quai chén, bà ấy ném cả cái chén vào mặt nó, suýt mù mắt thằng bé. Bà con ở tổ dân phố họ nói: có hôm bà ấy còn bắt nó quỳ, rồi nhét cả phân con bà ấy vào mồm nó. Hôm nọ, họp tổ dân phố, người ta phê bình bà ấy, bà ấy về nhà, bắt chồng trói nó vào chân giường đánh một trận thừa sống thiếu chết. Trời ơi! Sao lại có người quái ác thế. Mà thằng bé thì ngoan ngoãn, nết na, chứ có đến nỗi nào!
Tư cố giữ điềm tĩnh:
– Sao bà biết nó đi?
– Thì nó bảo thế. Nó nói nó định bỏ đi từ lâu rồi, nhưng chưa nỡ, vì nó còn thương hai đứa em. Dạo này, dì nó ốm đau luôn, hai đứa em không có nó chăm sóc thì sẽ rất khổ.
Tư nén thở trong lồng ngực:
– Sao bà không ngăn nó?
Vợ Tư quay lại, giọng cay xè:
– Sao lại không ngăn. Nhưng nó bảo nó nghĩ kĩ rồi. Tôi xúc cơm cho nó ăn. Rồi cho thêm nó hai chục ngàn nữa. Nó cảm ơn, gửi lời chào ông, rồi đi bộ ra ga.
Một cái gì đó rất quý giá vừa vuột khỏi tay Tư. Tư ngồi lặng, mỗi lúc một cay nhức trong tâm trí vì cảm thấy như mình có lỗi trong câu chuyện bi đát này. Tư chẳng có cách gì, chẳng có được một hành động nào để giúp đứa trẻ đỡ đau khổ, để con người trong cái gia đình ấy đối xử với nó hợp với lương tri hơn. Thật lòng thấy gì trái khoáy, Tư cứ áy náy không yên. Lâu nay, thân phận thằng Kiểm là một ám ảnh Tư. Nhiều đêm Tư không ngủ được vì nghĩ đến nó. Vợ chồng Tư là cán bộ, là thợ, không giàu có gì, nhưng vợ chồng Tư yêu thương nhau và ba đứa con tuy còn thiếu thốn về vật chất, nhưng lại được sống trong tình yêu thương ruột thịt thật sự; được lớn lên trong một môi trường tinh thần trong sáng, đảm bảo cho chúng phát triển thành những nhân cách xã hội tốt lành. Thằng Kiểm bỏ đi rồi! Nó đi đâu? Bọn buôn líp rởm, bọn đầu cơ, lũ phe phẩy… Những cái xấu đang nhâng nháo ở ngoài đời, liệu thằng Kiểm có bị rơi vào cạm bẫy, hay chính nó tự nguyện gia nhập trong thế bí bức. Chỉ số an toàn cho một con người vào đời lúc này đã trở nên quá mong manh, một khi kẻ đó lại là một con người kém bản lĩnh. Mà thằng Kiểm thì dẫu sao cũng vẫn còn non dại.
Tư đã giúp được gì cho nó, cho những hoàn cảnh bất bình thường như nó. Tư chỉ buồn, lo, bực bội, đau đớn và chia sẻ tình cảm với nó thôi ư? Tư dẫu thế nào cũng chỉ là một kẻ nhân từ trong nội tâm, mà thiếu hành động thực hiện lí tưởng. Tư phải bị kết tội là khách quan, là dửng dưng, vô tình.
Ngồi lặng một lúc, Tư mới cựa mình, rầu rầu:
– Tôi định nói với bà mà cứ ngại. Biết thế này mình nhận thằng Kiểm về nuôi, hoặc là đưa nó về quê, cho nó ăn học, rồi nó lớn lên thì kiếm công ăn việc làm cho nó , thế có được không?
Vợ Tư không quay lại, nhưng giọng nói thật nghẹn ngào:
– Chưa hỏi ý kiến ông, nhưng tôi đã nói với nó như thế rồi, ông ạ. Nhưng nó nói: Cháu cám ơn hai bác, nhưng như thế không được đâu. Mụ phù thủy ấy mà biết thì rắc rối rầy rà lắm. Hồi này, mụ ấy chửi khắp các gia đình hàng xóm. Những là xúi giục, chứa chấp cháu. Những là nối giáo cho giặc…
Tư đập tay vào thành ghế đứng dậy, đau đớn và phẫn uất:
– Rắc rối rầy rà là thế nào! Tôi có quyền yêu thương, có trách nhiệm bảo vệ trẻ nhỏ. Pháp luật cũng không cho phép đối xử tàn tệ với con chồng như thế. Tôi không để yên bà ấy đâu. Tôi sẽ viết báo tố cáo !
Vợ Tư chép miệng, ảo não:
– Đàn bà sao có kẻ lòng lang dạ thú thế!
Đàn bà sao có kẻ lòng lang dạ thú thế!
Câu thậm xưng, câu ngoa dụ phản ánh một khía cạnh chính xác về bà dì ghẻ này của Kiểm. Thật sự là , ở bà này thói độc ác đã biến thành một bản năng thú dữ và mù quáng. Bởi vì nếu dựa trên sự tính toán vụ lợi đơn thuần thì bà cũng không thể có những hành vi đối xử tàn tệ với chú bé Kiểm như vậy được. Kiểm là nhân tố đem lại quá nhiều lợi ích cho bà. Kiểm trông nom săn sóc hai đứa trẻ. Nó trồng rau, nuôi thỏ, nuôi gà, quán xuyến mọi việc cửa nhà, cơm nước. Nó là đứa biết điều. Nó sinh lợi cho bà nhiều hơn phần nó được hưởng từ bà. .
Do thôi thúc từ nội tâm, Tư đã đến quầy hàng thịt nọ để quan sát nhân vật tiêu cực này cho bài báo tố cáo của mình.
Nhân vật của bài báo Tư dự định viết là một phụ nữ trạc ba lăm tuổi, nhanh mồm nhanh miệng, rất linh lợi. Tay bà nhoang nhoáng cắt, xẻ, cân, xâu từng miếng thịt, trong khi mắt bà đảo liên hồi và cái miệng có đôi môi mỏng lợt không ngớt phát ra những âm tiết nhanh và gắt như súng liên thanh. Tiếng nói như là sản phẩm của một cơ thể dư thừa sức lực ấy, không ngờ lại là của một thân hình cá mắm. Nhan sắc một thời đã làm mê mệt bố Kiểm chỉ còn lại là đôi lông mày kẻ nhỏ, tô chì đen sẫm, một cặp mắt vàng đục và làn da ung ủng trên một gương mặt gầy da sát xương, in dấu một thể trạng ốm đau suy kiệt.
Tư đã chạnh lòng thương người đàn bà này, vì nghĩ: người này bị cơn túng quẫn và sự bất bình thường của thể chất chi phối. Và vì thế có thể thể tất cho tính tình quá quắt của bà chăng? Bài báo dự định viết đang ở trong quá trình hủy bỏ.
Nhưng vừa nghĩ vậy Tư liền châng hẩng. Lúc ấy, một mụ đàn bà to như cái cút vựa len qua mặt Tư, lén đi vào sau cái quầy thịt, quay ra với một làn thịt nặng, ngoảnh nhìn nhân vật đang còn đang trong giả định của Tư, cười nhon nhỏn:
– Thế nào, thằng ông mãnh cuốn gói đi rồi, hả?
Bà dì ghẻ, nữ nhân viên bán thịt, cầm cái dùi chọc vào cái sỏ lợn trên bàn thịt, trề môi:
– Cho nhẹ cái đũng quần.
– Nó có nẫng mất cái gì không?
– Vía bố nó cúng chẳng dám. Tôi thì tuốt xác cho ấy chứ!
Tư không còn một chút trắc ẩn nào nữa. Nhất là khi Tư đến ủy ban phường, xác minh tư cách người phụ nữ này, biết thêm rằng ngoài hành vi độc ác với con chồng, bà ta còn đeo thêm bao nhiêu điều dị nghị về phẩm chất của một nhân viên Nhà nước.
Bài báo đã hoàn thành với tốc độ của cơn sốt tình cảm. Và nửa tháng sau nó được in trên tờ báo của thành phố dưới một đầu đề đầy phẫn nộ: Ngăn chặn ngay hành vi đối xử tệ bạc với con chồng, với tên nhân vật và địa chỉ viết tắt, tên tác giả mang bút danh chung của đề mục Người xây dựng.
Hai hôm sau khi bài báo ra mắt bạn đọc, Tư đang ngồi trong nhà, bỗng nghe thấy huyên náo ở dưới sân. Nhìn xuống, Tư nhận ra ngay nhân vật của mình.
Vẫn là cái nhân dạng gầy còm ấy thôi, nhưng thoát ra khỏi cương vị người mậu dịch viên, bà bộc lộ một cách công khai sự chua ngoa, nanh ác và Tư ngay lúc ấy đó thấy ngay rằng, toàn bộ nỗi thống khổ của chú bé Kiểm là có thật hoàn toàn.
Mặt nổi tàn nhang, bà ta đứng chạng chân, vắt hai tay lên mạng sườn, đầu ngỏng, thả ra phía sau lọn tóc cặp vống đuôi gà, vừa ngoen ngoẻn cất tiếng vừa dận đôi guốc cao bảy phân rào rào trên nền cát sỏi:
– Cha tên sư thằng nào, con nào đặt điều vu khống cho tao nhé. Cha cao tằng tổ phụ, ông bà ông vải đứa nào xúi giục thằng Kiểm nhớ. Cái đứa ăn ở bất nhân kia, mày vu oan giá họa, mày chia uyên rẽ thúy, mày là thằng đế quốc, thằng Việt gian, thằng Bành trướng, thằng Pôn Pốt, trời không dung, đất không tha mày. Bà nuôi nó từ khi còn trứng nước. Con bà đẻ ra, bà cho nó ăn một thì nó ăn hai. Nó không biết ơn thì chớ, lại còn cuỗm đi của bà cái nhẫn ba đồng cân, năm trăm đồng tiền mặt…
Một suối ngôn từ tục tằn và cơn phẫn uất xổ lồng theo những câu chửi tai quái túi bụi ném vào mặt tiền ngôi nhà Tư ở, rõ ràng là có ý định nhằm vào Tư.
Không hiểu rồi câu chuyện sẽ kết thúc thế nào, nếu lúc ấy không xuất hiện một người đàn ông. Ông này chắc là chồng bà, một người đàn ông râu rậm, mắt sâu, to lớn kềnh càng, lờ đờ đi đến sau lưng bà ta, nói lí nhí cái gì đó. Lập tức, người đàn bà quay ngay lại, xỉa luôn vào mặt ông ta:
– Tôi có oan thì tôi phải giải. Không việc gì đến cái mặt mày nhé. A, con này tranh vợ cướp chồng, đầy ải con chồng à. Đứa nào thối mồm ra cái điều thương xót nó, có giỏi thì ra ngay trước mặt bà đây mà tranh luận thử xem nào. Bằng không thì chui vào hố xí mà nói nhé!
Cả mấy dãy nhà ồn ồn ào ào, người đứng đầy các tầng hành lang cười à à như đang xem một tiết mục hề.
Vợ Tư quay vào, bực bội:
– Đàn bà gì mà lăng loàn thế. Không sợ ác giả ác báo à!
Ác giả ác báo! Luật nhân quả có thế ư?
Tư không tin về sự chi phối con người của một lực lượng siêu nhiên thần bí. Nhưng, sự thật quả là quá kinh hoàng, đến mức Tư ngất ngư mất một lúc như thất lạc ý thức. Cuối tuần ấy, một chiều Tư đi làm về thì thấy một chiếc xe hồng thập tự vừa đậu ở dãy nhà sau. Xôn xao một lúc thì ô tô chạy. Hỏi mới biết: Bà dì ghẻ Kiểm đang đi lên gác bỗng thấy nhói đau ở ngực và lăn ra bất tỉnh. Điều suy cảm của Tư về căn bệnh ấp ủ trong người phụ nữ ấy đã là một sự thật phũ phàng.
Tư lặng đi. Mạch nghĩ về chủ đề số phận một con người dường như bị cắt đứt. Dây tư tưởng có lúc như bặt tiếng. Tư vẫn đi làm đều, nhưng trong câu chuyện, cả hai vợ chồng Tư gần như không muốn nhắc lại chuyện người dì ghẻ của chú bé Kiểm nữa.
Lặng lẽ như vô tình, thời gian trôi.
Thì hôm ấy, Tư đang ở nhà bỗng có tiếng gõ cửa. Mở cửa, Tư bị bất ngờ. Kiểm, chú bé khốn khổ, vẫn cái vóc dáng loắt choắt, hai con mắt thông minh và già dặn trước tuổi. Hai tay dắt hai đứa, một gái, một trai, thấy Tư Kiểm liền cúi xuống, nhắc hai đứa em:
– Em Chí, em Oanh chào bác đi! Cháu chào bác ạ!
Vợ Tư từ trong nhà chạy ra, mừng rỡ:
– Cháu Kiểm đấy à? Cháu ở đâu về thế? Về từ lúc nào?
Tư vồn vã:
– Vào trong nhà đi đã, Kiểm và hai cháu .
Chú bé Kiểm ngước lên, hai con mắt có ánh lửa thiêng của lòng nhân ái và tư duy thoáng ánh nước:
– Cháu về hôm qua. Cháu đến chào hai bác, rồi còn phải vào bệnh viện thăm dì cháu.
Vợ Tư bồn chồn:
– Thế hồi này cháu ở đâu?
Chú bé lại ngước lên:
– Chị Hòa mà cháu có lần kể bác nghe đấy, chị ấy tốt nghiệp trường Trung cấp Hóa chất, được cử lên công tác ở mỏ Apatit Cam Đường, Lao Cai. Chị ấy đưa cháu lên đấy, xin cho cháu vào học trường dành cho con em công nhân mỏ. Cháu vừa làm vừa học. Lớn lên cháu sẽ xin vào trường dạy nghề trên đó. Người tốt còn nhiều lắm, hai bác ạ. Nhưng cháu mới nghe tin dì cháu bị bệnh nặng, cháu vội về xem thế nào. Khổ! Từ hôm dì cháu nằm bệnh viện, hai đứa trẻ đâm ra bơ vơ, chẳng có ai trông nom cả. Bố cháu thì suốt ngày rầu rĩ, cắn rứt chẳng muốn làm gì cả. Dì cháu bây giờ nằm đấy. Chả ai người ta vào thăm cả. Suốt đời làm người khác khổ, mà mình có sung sướng gì đâu. Bây giờ, chắc gì sẽ qua khỏi được.
Vậy là chú bé Kiểm đã trở về để chia sẻ, gánh chịu cơn tai họa đột ngột của bà dì, trong khi nó hoàn toàn có thể vắng mặt mà không sợ bị chê trách, vì đó không phải chỉ là sự đáp trả hợp lí, là tính chấp vặt thông thường, nếu gọi là chấp vặt, mà còn là cách xử sự công bằng theo luật nhân gian vẫn thường thấy trong các cổ tích và ngoài đời.
Kiểm đã tự nguyện trở về. Và hoàn toàn không một chút hả hê hay ngấm ngầm thích thú trước rủi ro của kẻ đã gây ra bao khốn khổ cho đời mình. Cũng không một vẻ dửng dưng xa cách, mà tràn đầy trong từng âm tiết, ngữ điệu câu nói và thái độ bộc lộ, một tình thương xót vừa non tơ vừa quảng đại và quả cảm trước cơn tai biến của những người ruột thịt thân thương.
Kiểm, cái mầm non mạnh mẽ, hình tượng biểu trưng cho bản chất nhân hậu vốn có ở cuộc đời, tồn tại một cách gần như hồn nhiên, không cần giải thích và đang cần được bồi đắp ở cuộc đời mới này.
Tư ngồi rất lâu không động cựa trong cái ghế bành khi chú bé Kiểm và hai đứa nhỏ đã đi. Hồi lâu Tư mới làm chủ được những ý nghĩ và tình cảm mới nảy sinh đã tràn ngập trong lòng Tư. Tư yêu và vô cùng tin tưởng ở con người bé nhỏ nọ. Đau khổ cũng có thể làm nảy sinh những nhân cách và tâm hồn đẹp đẽ phi thường là thế đó. Kiểm – Chú bé – Con người.
Thành Công 23/8/1984
.Đã in trong Tập TRUYỆN NGẮN Bà ngoại. NHÀ XUẤT BẢN Kim Đồng 2005.