III. ĐẠI HỌC CHẢ CÓ GÌ NẶNG NHỌC


Việc đầu tiên khi vào đại học là giải quyết mối nợ quá khứ. Nỗi ám ảnh và giấc mơ về cô Trang không dứt. Tôi có hận cô ấy không? Sao lại không? Nếu nhìn ở khía cạnh công bằng, cô không có quyền gì để mắng nhiếc tôi thậm tệ, dài đằng đẵng và kinh khiếp đến thế. Đẻ tôi ra, nuôi nấng, chăm bẵm, bố mẹ tôi còn chả bao giờ mắng kiểu ấy. Họ luôn lấy tình yêu thương, niềm tự hào gia đình để giáo dục, chứ không phải sự nhiếc móc, nhục mạ. Các cô giáo cấp một, cấp hai thì nâng niu, tôn trọng vì tôi luôn đem lại niềm tự hào cho họ, chứ có gây phiền toái gì? Họ nói lời hay lẽ phải để tôi nhận thức đúng sai, tâm phục khẩu phục mà nghe theo. Khi ở trường chuyên, tôi cũng đâu phải biến thành con người khác. Người ta nên “phê bình việc làm chứ không phê bình người”. Trong khi việc chưa đáng, chưa tìm hiểu thấu đáo, cô Trang đã mắng tôi đến thui chột, hoảng loạn, khiếp đảm. Nếu không có cô Mai khuyến khích, động viên, liệu tôi có còn nhuệ khí mà “chiến đấu” với núi kiến thức khổng lồ, có còn biết đường mà đi hay không? Nghĩa là học tập có thể sau này góp phần xây dựng đất nước, có ích cho xã hội. Chúng tôi nỗ lực cùng tuổi trẻ, đôi khi không hẳn chỉ cho riêng mình.

Tôi viết một bức thư dài cho cô Trang, với giọng điệu thân thiết, ngọt ngào nhất có thể. Để thông báo rằng tôi đã đỗ đại học với số điểm cao thứ nhì – Á khoa, coi đó là công lao trời biển của cô. Đồng thời, xin lỗi vì suốt thời cấp ba đã khiến cô nhiều phen bất bình, cáu giận. Nếu không có bài học làm người sâu sắc của cô, chắc ra đời tôi sẽ vấp ngã khi cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng. Không có thư trả lời của cô. Nhưng qua cô Hoài (người quen) dạy ở đó kể lại, thì cô cầm bức thư của tôi khóc vì xúc động, rồi đưa vào phòng hội đồng khoe: “Cái Huyền Anh – học sinh cá biệt mà ân tình quá. Nó viết thư cho tôi xúc động thế này đây”.

Và tôi hiểu, đôi khi con người ta cũng không cần lên giọng đao to búa lớn mà đối phương cũng tự hiểu, tự ngẫm mà rút ra bài học đắt giá cho mình.

Trường Nghệ thuật – nơi tôi theo học khác hoàn toàn với nhiều trường đại học ở giáo viên, cách dạy và đặc biệt là lối sống của sinh viên. Nhiều thầy giáo thân mật như người nhà. Sinh viên cứ gọi thầy xưng “con” suồng sã. Mỗi kì nghỉ, thiếu tiền về quê, nhiều đứa tỉnh lẻ lại còn không ngần ngại đến xin thầy mà chẳng giữ kẽ hay xấu hổ. Có môn học, thầy chỉ cho xem phim, không giảng gì hết, mặc sinh viên tự tìm hiểu, suy nghĩ theo cách của mình. Tôi nhớ nhất câu thầy Lư nói: “Chả ai dạy ai thành nhân tài hết”. Nghĩa là các bạn phải tự học, tự tìm tài liệu mà học.

Sinh viên chia thành nhiều nhóm. “Dân” nội thành, con ông cháu cha thì luôn thể hiện sự sang chảnh, tự tin, tự phụ, chơi theo nhóm riêng. “Dân” quê trông chân chất, ngu ngơ sán lại với nhau thì thầm to nhỏ. Tôi thường ngồi riêng một góc quan sát. Sau này thân với vài người, nhưng cũng chẳng bền lâu. Các bạn không có vẻ sàn sàn như kiểu ở trường chuyên. Trường, lớp phân ra hai cực rõ rệt: sao sáng và “làng nhàng”. “Sao sáng” có việc làm và nổi tiếng ngay từ trong trường. Nhiều đứa tự mua nhà, sắm xe sang ngay khi còn là sinh viên. Có khi bị scandal tràn mặt báo và tai tiếng rùm beng. Nhóm “làng nhàng” có một số học đòi, gia nhập với nhóm “sao sáng”, số khác lặng lẽ xây đắp ước mơ theo cách riêng. Các bạn mang muôn mặt nổi bật. Người thì xinh như tiên. Bạn lại xinh đẹp theo style hiện đại: tóc vàng hoe, mỗi hôm một kiểu. Thời trang thì dân trường chuyên gọi bằng cụ. Nhiều bạn đã xinh còn vi vu trên những chiếc xe máy đầu bảng như @, Spacy… Dân tỉnh lẻ lác mắt và khá tự ti.

Một số bạn là con của đạo diễn, biên kịch, diễn viên nổi tiếng, vênh váo ra mặt, nhìn đời bằng nửa con mắt, không bao giờ nói chuyện với bọn tỉnh lẻ vô danh. Trong lớp, thầy cô cứ giảng. Mấy đứa yêu nhau ngồi bàn dưới xoắn xuýt như chốn không người.

Một số đứa dị hợm, trông như ở hành tinh khác lạc đến. Ăn mặc không rách rưới giống hành khất thì cũng dở đàn ông dở đàn bà, nửa Tây, nửa Tàu, hoặc hở hang như… không mặc gì. Có đứa trông tựa phường du côn, đeo dây chuyền bạc to đoành, mặt gắn nanh hổ giữa ngực đầy vẻ bặm trợn. Đứa xăm trổ, đứa trọc đầu, đứa để râu như vượn, đứa bện hàng chục lọn tóc nhỏ xíu như hot girl châu Phi, đứa đi dép tổ ong, mặt ngây dại giống Tỏa Nhị Kiều, đứa lại là người mẫu thời thượng… Nói chung, không gian ấy toàn những nhân vật bắt mắt, sinh động! Dù nói cười ha hả, khả ố hay chỉ lầm lũi lặng lẽ cũng đều ấn tượng đặc biệt, không lẫn được. Có lẽ mờ nhạt nhất là tôi. Nhưng biết đâu… điều ấy lại tạo thành thứ nổi bật riêng!

Ở lớp biên kịch toàn con gái. Hai năm đầu học chung kiến thức với đạo diễn, quay phim, lý luận. Lớp lý luận con gái cũng chiếm đa số, lại cơ bản là mĩ nhân. Lớp quay phim thì ba mươi nam, chỉ có một nữ. Nên tỉ lệ yêu đương trong lớp khá nhiều, chủ yếu sinh viên lớp quay phim yêu biên kịch và lý luận. Chúng đèo nhau, nắm tay, ôm hôn tự nhiên, tạo ra một thứ văn hóa kiểu “Nghệ thuật điện giật!”. Về đến phòng ở kí túc xá, còn nhức mắt hơn. Phòng tôi có bốn người, sau tăng dần. Bạn trai của các chị sang ăn nằm tại giường điềm nhiên như ở nhà. Đôi yêu nhau âu yếm nồng nàn có khi chỉ che cái tủ vải chặn bên ngoài. Họ sống với nhau như vợ chồng: ăn uống chung, ngủ chung. Đêm khuya, ban quản lý lên đuổi, các anh mới về. Họ âu yếm, đánh chửi… đủ cả. Nó khiến tôi lạc lõng và thấy ghê tởm. Cái cảm giác đã hình thành khi gặp cảnh tương tự xảy ra ở nhà mình thời gian cho chị Thanh thuê làm karaoke. Càng xa lạ với lối sống xung quanh, tôi càng cô độc. Tôi không thích yêu kiểu sống sượng thế. Nó chẳng có gì thiêng liêng, hấp dẫn nữa.

Tôi dồn thời gian vào đọc sách và nhớ nhung mối tình đơn phương với anh Nam. Nhưng mỗi lần trở về, gặp lại người ấy lại thêm một nỗi thất vọng. Tôi thường gọi điện hỏi thăm. Anh rủ đi chơi và sẽ đến đón sau giờ cơm tối. Nhưng chẳng bao giờ anh vào nhà mà cứ đứng cách cổng vài trăm mét đợi. Dường như anh ngại giáp mặt bố mẹ hay chị tôi. Tôi bảo “anh vào xin phép bố mẹ em nhé”. Anh sẵng giọng “Em không có mồm à?”. Tôi “tắt điện”, thất vọng. Sao anh có thể ăn nói như vậy với bạn gái mình? Bạn trai chị tôi muốn đưa chị đi chơi đều vào nhà uống nước, hỏi han bố mẹ và xin phép đàng hoàng. Phải chăng anh biết tôi thích anh nên anh õng ẹo thế?

Anh đưa tôi đi vòng vèo trên xe máy từ nhà tôi đến bến phà, vòng tới đồi thông, qua khu cảng dầu. Có hôm lòng vòng sang hòn đảo Rồng. Một số buổi ngồi bờ kè hóng gió. Cũng có lúc vào quán nước uống sinh tố. Nhưng hầu như chẳng bao giờ có chuyện gì để nói. Anh không nói. Tôi cũng chẳng nói. Hoặc ấm ớ nhát gừng. Ngồi cạnh anh, sau xe anh, gần đấy mà vô cùng xa cách. Tôi không dám chủ động ngồi sát hay động chạm gì dù có lúc cũng thấy thinh thích. Nhưng tự nhiên cứ nghĩ mình tôi tỏ ra gần gũi thì thật vô duyên, lố bịch, nên thôi. Thành thử “ở cạnh sông mà vẫn khát”.

Nếu có hở lời hoặc thể hiện hành động thì anh luôn làm tôi bất ngờ bởi sự thô thiển hoặc lỗ mãng nào đó. Ví như ngồi uống nước với nhau tôi bị muỗi, dĩn đốt. Anh nhìn tôi gãi hay đập muỗi thì bảo: “Sau này, anh đốt còn đau hơn”. Tôi chả thấy cách nói ấy tế nhị hay gây cười, cũng đâu có chân thành. Nó ghê ghê. Có khi đi chơi với anh vào trời lạnh, tôi mặc hơi phong phanh. Anh cởi áo khoác của mình ra, nhưng không đưa cho tôi đàng hoàng, dịu dàng mà bất ngờ ném bịch một phát, trúng đầu. Cái áo to đoành, nặng trịch trùm lên mặt tôi tối sập. Tôi luống cuống gỡ ra, không hiểu thế nào, thì đồng thời nghe tiếng anh quát dữ tợn: “Mặc vào!”. Trong khi anh vẫn đứng cách tôi hàng mét như sợ hủi, khiến tôi chẳng thấy ấm áp hơn, dù vẫn ngoan ngoãn mặc áo anh suốt buổi ấy.

Tình cảm cứ giằng dai, vô hình, nhạt nhẽo và khuất lấp như vậy đến cả chục năm. Tới khi tôi lấy chồng, anh mới chịu đi lấy vợ. Chưa bao giờ anh nói yêu tôi, nhớ thương hay chủ động ôm hôn tôi. Cũng chẳng khi nào anh hỏi thăm tôi, gọi điện cho tôi.

Chẳng hiểu tôi nghĩ gì, gặp chuyện gì, có khó khăn, vui sướng gì. Mặc kệ thế gian dùng điện thoại di động hay email, yahoo, anh không bao giờ có, chỉ vì thích thế. Nếu không là hai vec tơ ngược chiều thì tôi và anh cũng chỉ là hai đường thẳng song song, chẳng bao giờ chạm nhau!

Chị Quỳ biết tôi có tình cảm với anh, bĩu môi nói: “Đàn bà yêu người không đáng là điều sỉ nhục”. Với chị, đàn ông không học cao, không giỏi giang lẫy lừng thì phải nhiều tiền hoặc có tài gì đặc biệt. Anh Nam ngoài giải đẹp trai ra, chẳng có gì. Tôi thấy lời chị phần nào có lý. Bởi đi chơi với tôi, câu chuyện anh nói luôn cố thể hiện kiến thức. Mà thứ kiến thức mang màu sắc triết học Trung Hoa mới lạ với con bé phổ thông chứ chả thú vị gì với đứa học đại học, là mọt sách như tôi. Nhưng vì sự chung thủy với cảm xúc quá khứ nên tôi vẫn đi bên anh lặng lẽ. Xa cách mà vẫn liên quan. Không ràng buộc nhưng lại chả thể buông bỏ.

Không ngờ đường đến ước mơ mà tuổi thơ thiết lập lại lãng xẹt như vậy. Vài đứa ở kí túc xá đến tán tỉnh, tôi đều tránh mặt. Thật vô bổ, chán chết nếu phải yêu và sống như bọn bạn cùng lớp, cùng phòng. Thà để tâm sức đọc sách, chăm sóc bản thân và mơ tưởng tới ngày mai huy hoàng còn thú hơn.

Tủ sách của bố bây giờ mới có giá trị với tôi. Bố cũng từng học trường tôi cách đó bốn mươi năm, nên bao nhiêu sách quý về nghệ thuật tôi dành thời gian ngốn cả. Đợt thi hết kì, hết năm nào tôi mà cố thuộc bài, hay lo lắng như kiểu hồi học cấp ba thì thật ngu xuẩn. Vì cả lớp chẳng ai học. Vào thi, muốn giở sách chép kiểu gì cũng được. Điểm số chỉ là điều kiện để qua, chẳng hề quan trọng hay có gì vênh vang. Nhiều khi càng “sao sáng” càng điểm thấp và chúng càng thấy tự hào. Nhóm “làng nhàng” điểm cao, “sao sáng” cười khẩy, nói lời xách mé khó nghe. Trong “xã hội” nghệ thuật ấy, những quy phạm như ở trường chuyên bị cười cợt và coi thường. Họ hướng đến sự phá cách, khác biệt, sự sáng tạo và những phát kiến độc đáo. Thế nên những đứa được tôn vinh, được quý trọng nhất lại có những biệt danh quái chiêu, như: Đỗ – điên, Sang – bựa, Đại Tiện, Du – sát thủ, 117 Khá – gà, Hà – cười, Năm – nhàu, Khuê – cáy, Hằng – đao v.v… Còn kiểu ngoan ngoãn, tử tế, điểm cao, đi học đúng giờ, đủ tiết… bị nhóm “sao sáng” nhìn bằng con mắt khinh thị, và ngấm ngầm coi là hâm dở. Chúng quan niệm những đứa như thế sau này không thể làm được nghệ thuật, kiểu gì cũng “vứt”! Học nghệ thuật một là đội sổ, hai là giỏi xuất chúng thì sau mới trụ được với nghề. Làng nhàng ở giữa sẽ không có đất sống.

Ở đây, tôi như chìm nghỉm bởi chẳng bao giờ phá cách. Nỗi sợ hãi hồi cấp ba đã hình thành thói trầm tĩnh, lặng lẽ có phần ba phải. Tôi chả ngồi quán nước đàn đúm, không túm năm tụm ba đi ăn cơm quán cùng ai, chẳng yêu đương, ít bạn bè. Tôi tiếc thời gian và thấy không cùng kênh với bọn đó. Chúng cũng chẳng thấy tôi có gì thú vị.

Đêm đến, dãy tầng bốn nữ thường dồn lại vào phòng 408 để xem phim. Phòng này, mấy chị học mỹ thuật nên có máy tính làm đồ họa. Các kiểu phim đạt giải Oscar, phim nổi tiếng thế giới, kể cả một số phim hiếm đều được “chiếu” ở đây…

Lần đầu tiên tôi biết thế nào là stress khi đối diện với bài tốt nghiệp chuyên ngành. Để ra trường là chuyện không cần bàn nhiều, vì điểm số dễ đạt được như trên đã nói. Tôi vẫn thường xuyên trao đổi nghề nghiệp với bố. Chấp bút cho ông một số kịch bản và nghe đủ thứ chuyện mỗi lần gặp. Bố tôi là người chắc nghề và có chút thành công, được đồng nghiệp nể trọng. Nhưng những cốt truyện ông gợi ý để tôi nộp thầy đều bị phản bác. Thầy luôn phê “tư duy cũ”, không thể thế này, thế kia, dễ dãi trong suy nghĩ, v.v… Nói chung, tôi rơi vào thứ mê cung không nhận thức nổi đúng và sai trong sáng tác. Thầy không nói ý tưởng của tôi là sai, nhưng không hay, không mới, không chuyên nghiệp nhà nghề… Tôi càng cố gắng, thầy càng lắc. Năm thứ ba, chúng tôi dồn sức vào chuyên ngành và bị mắng rất nhiều. Thầy không mắng như cô Trang, không quan tâm đến việc nhỏ nhặt, không xúc phạm nhân cách, mà phản bác gay gắt tất cả các đề cương lớp đưa đến. Chúng tôi không biết lối mà đi, mà làm cho hay. Tôi tâm sự với người đi trước, giàu kinh nghiệm như bố. Bố cũng chịu. Sự hoang mang, lo lắng, tự ti xảy ra theo màu sắc khác.

Tôi bắt đầu mất ngủ. Không phải mơ về người yêu này nọ mà toàn mơ về thầy. Mấy đứa bạn ở lớp cũng có cùng tâm trạng và giấc mơ kiểu ấy. Nó bảo mơ thấy cái miệng thầy mỏng quẹt, với cái nốt ruồi ở môi to đoành, rất ghê. Chúng tôi không sợ thầy, chẳng sợ môn biên kịch, nhưng lại sợ mình là kẻ vứt đi. Bốn năm học ra không làm được việc. Nếu vậy, thì thật bi kịch. Việc mất ngủ triền miên càng cho cảm xúc tiêu cực. Tôi không biết làm thế nào để ngủ được dù đã phải dùng đến thuốc. Tới tận khi tập thiền bằng hình ảnh chiếc chong chóng, mới thoát được tình trạng ấy. Mỗi tối trước khi ngủ tôi nhắm mắt lại, hình dung mình cầm chiếc chong chóng nhỏ chạy dài trên thảm cỏ xanh. Chong chóng được gió quay tít, tạo thành thứ vũ điệu riêng, kì ảo sắc màu. Tôi chạy mãi, chạy mãi trong tưởng tượng và trôi vào giấc ngủ.
[Còn nữa…]