I


Cô giáo Lẫm bị chồng bỏ!

Cái chuyện chồng bỏ, bỏ chồng trong cái thế giới hiện đại vận hành theo cơ chế thị trường thuận mua vừa bán, trong sự giải phóng tối đa con người về mọi tầm kích của dục vọng, thì có gì là lạ mà phải kháo nhau ầm ĩ? Ấy thế! Câu chuyện giản dị nọ sở dĩ ầm ĩ là bởi vì, người trong cuộc lại là một cô giáo. Cô giáo, dẫu là dạy ở cấp tiểu học, thu nhập thua xa người xé vé chợ thì cũng là cô giáo, theo truyền thống tôn sư trọng đạo của dân ta, vẫn là loại người được nể vì, trọng vọng.

Cô giáo Lẫm dạy lớp một trường tiểu học ở phố huyện Pho. Trong cái phố huyện chỉ gồm ba bốn dẫy phố nhỏ êm đềm hiền lành này, mỗi giáo chức là một nhân vật nhất cử nhất động đều được nhân lên theo quy luật khuếch đại của sự quan tâm. Cô giáo Lẫm lại thuộc loại phụ nữ đường nhan sắc hơi kém cỏi. Thói đời đàn bà bị chồng bỏ, mặt như bị vết chàm, nên người đời càng ái ngại cho cô. Thêm nữa, lời bàn càng xôn xao vì cái thằng nó bỏ cô, thằng chồng cô, xưa nay nó có ra cái gì, so với cô, nó là đứa thua kém tất cả mọi mặt. Khổ thế!

Ba mươi hai tuổi cô giáo Lẫm mới lấy chồng. Chồng cô là một gã thợ nề tên Mại, người ở xứ khác đến, tiếng nói líu ríu như tiếng chim. Thường người ở xứ quê Mại, khôn ngoan, ý chí hơn người nên họ hay làm cán bộ tổ chức, thuế vụ hoặc công an. Mại chắc không có vây cánh, học hành ít, ngô ngọng, cung mệnh tử vi rơi vào hãm địa. Hãm thật, kể từ vóc hình tới khuôn mặt. Đầu to, vai rộng, lưng dài, nhưng đít rúm, chân ngắn, nên hình dong cứ lủn củn còi cọc thế nào. Trên cái mặt choắt da thiết bì có hai con mắt thì một dán nhấm, một lồi, trẻ con gọi là lệch pha nhau. Cái miệng thì loe loe hai cái môi đỏ bầm, hở trọn hàm răng trên lởm khởm, sỉ cặn. Chân con người này mông mốc như có lớp bùn khô kinh niên. Còn những ngón tay hắn thì cóc cáy xù xì như là bị vôi vữa ăn gặm vậy.

Những ngón tay cóc cáy xù xì ấy đẩy quân cờ đánh soạt, trong khi cái miệng âm ư một câu hát tục tĩu, chẳng hạn: ông son mì vào con tôi rồi, cùng dắt nhau đi tù, thì hai con mắt lệch pha nhau của Mại đảo thiên đảo địa đến là gian! Gian lắm! Gian đến mức các nhà giáo mô phạm đồng nghiệp với vợ Mại, các kỳ thủ quen thuộc của Mại, nhiều bận uất quá cực chẳng đã phải hẩy cả bàn cờ đang chơi đi và văng tục: Tao đ chơi với mày nữa! Thằng Mại lừa! Quân cờ bạc bịp!

Mại đích nòi cờ bạc bịp, quen thói lừa người, gian dối đã ăn vào máu thịt không cải đổi được nữa. Nghĩa rằng là đã thắng đối phương đến chín ván rồi, hắn vẫn cứ tiếp tục ăn gian để thắng nốt ván thứ mười. Mại hơn người ở cái mặt thớt bì bì, không biết ngượng. Nên hôm trước bị rủa xả, mắng mỏ, hôm sau hắn lại loe loe cái miệng dẻo mỏ cười nịnh đến gạ hạ bàn cờ. Các thầy giáo, các cán bộ huyện tiếng thế cũng dễ tính. Riêng các vị chức sắc đứng đầu huyện lại có quá nhiều thời gian rỗi rãi. Vả chăng, trong cái món cờ gian bạc lận ẩn chứa cái gì đó hấp dẫn lắm. Nên ông Tư Vân, chủ tịch huyện, xuất thân thợ bẻ ghi xe lửa, đã có lúc oang oang nói rằng: Thằng cha Mại ăn gian ghê người. Nhưng, cờ bạc là phải thế. Có thế mới sướng! Không hiểu sướng vì lừa được người hay thế nào?

Cách đây hơn chục năm, hồi còn đói kém, một hôm Mại đi đến từng căn buồng của mỗi cô giáo thầy giáo trong trường của vợ, trịnh trọng thông báo: Ai muốn mua gạo miền Nam trắng, ngon năm ngàn đồng một ký thì nộp tiền ngay!

Những kẻ nghèo khó truyền kiếp là các thầy cô dậy ở cấp sơ tiểu thấy giá gạo hời như thế thì kinh ngạc đến ngơ ngẩn. Ở đâu mà giá gạo rẻ như cho không thế! Chỉ bằng một phần tư giá thị trường! Mà cái thằng Mại tài cán gì ngoài cái gian trá và lợi khẩu lại có được cái mối lời ấy rồi lại còn đem ban phát cho mọi người? Mại, xuất thân là thằng quăng gạch ở công trường thủy lợi, ai còn lạ. Vậy mà hắn cứ xưng xưng khoe là thợ tột bậc, là thợ xây đền. Chơi cờ cũng như khi uống rượu, chơi gái là lúc con người không giấu mình được, Mại là kẻ tư cách ra sao ai mà còn không biết!

Cảnh giác là đức tính thường trực của kẻ yểu nhược. Nhưng, nhạy cảm với các mối lời cũng là ưu điểm nổi bật của kẻ nghèo khó. Vả chăng, suy xét cho công bằng thì Mại lúc này đã khác trước nhiều lắm rồi. Mại đâu còn là Mại quanh năm suốt tháng đánh cái áo xanh bạc dính đầy vôi vữa và cái mũ lưỡi trai sùm sụp trên đầu. Mại mặc cái áo sơ mi xanh nõn chuối, đơm khuy hồng đào. Tay Mại lúc nào cũng cặp điếu thuốc Dunhill ngún khói. Hắn che hai con mắt chửi nhau bằng cặp kính râm đen đặc như hai giọt mực. Buổi tối, ngày chủ nhật không ít đàn bà, con gái thập thò ở ngoài cổng nhà trường: Dạ, em xin gặp anh Mại làm ở ban quản lý công trường có chút việc riêng ạ. Thì ra Mại đã từ bỏ cái nghề quăng gạch, con dao xây. Mại đã lên văn phòng công ty và khối kẻ đã phải cầy cục nhờ vả hắn.

Nghèo khổ thì một xu lợi cũng là quý! Huống hồ cái lợi to thế: vùng này, giá gạo lên xuống thất thường và cao hơn hẳn mọi nơi. Vậy nên gần hai chục nhà tri thức cấp sơ học phố huyện nằm trong giai tầng nghèo khốn nhất xã hội lập tức tranh thủ cơ hội; người dốc hết tiền dành dụm, kẻ bán đi cái nhẫn hồi môn, người ít nhất cũng đăng ký mua một tạ, cứ năm ngàn đồng một cân nhân lên thành tiền đem đến nộp cho Mại. Trong số này có ông giáo Phụng. Ông giáo Phụng tiếng là dạy cấp một, nhưng tri thức Hán học tinh thông uyên bác đến các nhà Hán học có tiếng ở nước ta cũng trọng nể. Ông giáo Phụng học chữ nho lúc sáu tuổi. Giờ, thì ông dịch được cả cuốn Văn tâm điêu long, công trình mỹ học có từ thế kỷ thứ năm của nước Trung Hoa cổ. Ông giáo Phụng khẩu hoạt, vận dụng kinh sách tân cổ làu làu, nay đã ngoại lục tuần, goá vợ, một mình gà trống nuôi một đàn con nhỏ lốc nhốc năm đứa chưa đứa nào tự lập nổi, ngày thường bữa cơm bữa bí đỏ, và đứt bữa là chuyện thường. Giờ, cái bộ lạc nghèo khổ này như nhìn thấy viễn cảnh bồng lai. Sung sướng quá, họ hò nhau hạ cả chiếc xe đạp Thống nhất cũ kỹ bấy lâu sợ mòn lốp không đi, treo trên xà nhà, phát mại đi, góp thêm tiền vào để gửi Mại đong gạo. Cái đói là ẩn ức truyền kiếp. No bụng là ước vọng ngàn đời của dân mình nó là vậy!

Nhưng, tiền đã nạp đầy đủ cho Mại, lại nghe nói đã gửi vào Nam cả tháng nay rồi, mà chưa thấy hạt gạo nào về. Cô giáo Lẫm không hiểu là có cùng chồng tham gia sự vụ này không hay chỉ đứng ở vòng ngoài, nhưng cũng đứng ra khất hộ Mại năm lần bẩy lượt rồi. Ba tháng qua, cái Tết qua, giá gạo ngoài thị trường vọt tăng, vẫn chưa thấy tăm hơi hạt gạo giá năm ngàn đồng đâu. Thế là không chịu nổi nữa, công đoàn nhà trường liền cử đại diện đến nhà Mại, nói rất gắt:

– Anh Mại, anh định bao giờ trả gạo cho chúng tôi thì cho một lời dứt khoát đi. Anh cũng biết mọi người đã định danh anh là gì rồi chứ. Cơm chim của chúng tôi chả lẽ anh cũng giật nốt sao!

Mặt Mại không hề biến sắc, cứ bì bì, lạnh rợi. Đợi cho ba đại diện tập thể xổ hết một tràng, hắn mới điềm nhiên tay gõ bàn, thong thả nhả từng câu một:

– Nói đi thì phải nói lại nhé. Vài triệu bạc của các vị đã là cái đinh gỉ gì nào! Thằng này đã lừa là lừa bạc tỷ chứ không thèm cơm chim đâu. Rồi đây sẽ trả! Trả cả vốn lẫn lãi. Phải, coi như tôi vay của các vị. Lãi xuất hai chục phần trăm. Nhân lên rồi tính ra gạo. Hừ, nay mai gạo về, lúc ấy nói lại với nhau thế nào nhỉ?

Ôi chao! Cái thằng lợi khẩu ăn nói mới cả quyết làm sao! Phải như thế nào nó mới dám lên cái giọng tự tin mạnh mẽ như thế chứ! Các vị công đoàn đờ mặt dại. Viễn cảnh lại kích thích tính chịu đựng và hy vọng lại thắp lên ngọn lửa xua đi bóng đen u ám buồn bực của mọi người.

Tuy nhiên chờ đợi thêm một tháng ba chục ngày nữa thì sức chịu đựng cũng vẫn bị xói mòn hoàn toàn. Của đau con xót, lần này công đoàn lập hẳn một nhóm trung kiên với hạt nhân là ông giáo Phụng nghèo, giỏi giang đường lý luận, biện bác. Họ bàn bạc kế hoạch và ông giáo Phụng cho biết nếu lần này Mại chầy bửa nữa thì hắn đúng là loại mặt dầy, tim đen, loại này vừa gian ác vừa trơ trẽn mà Trung Quốc đã lập cả một môn phái nghiên cứu, gọi là Hậu hắc học để nghiên cứu.

Sửa soạn tư thế, lý lẽ đầy đủ, nhóm trung kiên chọn giờ lành, kéo đến nhà Mại. Nhưng, họ vừa bước qua cửa nhà Mại, chưa kịp khai hỏa, thì Mại từ buồng trong đi ra, đã giơ tay bắt tay từng người, tươi hơn hớn:

– Xong rồi đây! Xong rồi đây! May quá, đang định gặp các vị để thông báo. Mai tôi bay Đà Nẵng. Vé khứ hồi để sẵn trong cặp này rồi. Tuần sau, thứ hai, đúng mười giờ năm phút, tầu Thống Nhất T.S.1 tới ga Pho, cảm phiền các vị có mặt tại đó, tôi giao gạo ngay tại cửa toa. Xin mang đầy đủ bao tải, dây rợ và xe thồ. Ôi dào, gạo cho công trường hàng ngàn thợ, mấy trăm tấn, đầy cả chục toa! Của các vị bất quá bằng số tôi để vãi.

Cô giáo Lẫm được lời như cởi tấm lòng, phụ họa theo chồng, cười khí khí: Rõ sốt ruột chưa! Các vị chắc bị kẻ nào nó kích động hẳn!

Ngày hôm sau Mại bay Đà Nẵng thật. Ô tô công trường đón Mại ra sân bay bấm còi inh ỏi ngoài cổng trường. Và từ lúc chiếc ô tô nọ lăn bánh đi là con tim của mấy chục thầy cô giáo trường tiểu học phố huyện nghèo nàn này, bắt đầu nhịp đập nghẹn ngào. Họ đếm từng ngày, chỉ mong thời gian là chàng lực sĩ chạy nước rút.

Ông giáo Phụng bảo các con: Gạo về, thầy sẽ cho các con ăn cơm không độn thật no cả tuần liền. Trong mơ, lũ trẻ ngửi thấy mùi cơm mới thơm lừng.