Ông Bằng cắn môi dưới, đưa tay lên bóp thái dương. Không hề hay biết ông bố chồng đang khó chịu về cách ăn nói của mình, Lý càng hăng hái:
– Tức điên lên cơ, ông ạ. Hôm nó tiếp con, nó vừa lấy ráy tai vừa đọc đơn của con. Rồi nó đặt đơn của con xuống, giáng luôn một câu: Cô học lớp mấy rồi mà chữ viết thiên thẹo mẹo giậu thế này?.
Cả ông Bằng và Phượng cùng bật cười. Lý khôn ngoan vậy, khờ khạo vậy cũng bật cười theo.
Ông Bằng gõ ngón tay lên mặt bàn, chậm rãi:
– Thôi được rồi, họ nhận Phượng thế là may. Ba hỏi Phượng, mấy năm vừa rồi, ở Hoàng Liên Sơn, con làm công việc gì?
– Cô ấy làm quản lý nhà ăn ở trường sư phạm huyện, ông ạ. – Tranh lời Phượng, Lý đáp sỗ sàng.
Phượng vội chữa:
– Các anh ấy cũng cố bố trí, sắp xếp nhưng chưa được nên con đành phải làm việc ấy ba ạ.
– Họ muốn vòi tiền cô thì có! – Môi mim mím, mặt Lý vênh ra điều hiểu biết.
Ông Bằng nhìn cô con dâu đáo để, chép miệng:
– Nghĩ ngợi gì mà đen tối thế, Lý?
– Sự thật đấy, ông ạ. Ông nghỉ hưu rồi, ông ít tiếp xúc với thực tế, ông không hiểu, đời bây giờ tệ lắm, ông ạ. Có tiền là xong hết!
Ông Bằng lắc lắc đầu. Mặt Lý vẫn nghênh nghênh, ngạo mạn và tự tin. Lý ăn nói tợn tạo quá. Chẳng lẽ tổng kết toàn bộ cuộc sống chỉ cần một câu đơn giản như thế? Ông đưa mắt nhìn Phượng. Mặt Phượng thấp thoáng nỗi thơ dại nhưng hai con mắt Phượng dịu ấm, trong veo. Phượng không sắc cạnh, lém lỉnh, nổi trội như Lý nhưng mặt Phượng ánh lên tinh thần hài hòa, hợp lý, tin cậy hơn. Ấn tượng này có lẽ sẽ theo ông cho đến ngày ông rời bỏ cõi đời này.
– Ba hỏi vậy là muốn biết con còn nhớ nghiệp vụ kế toán không, Phượng ạ. – Ông Bằng giải thích, trở lại câu chuyện.
Phượng hiền hòa:
– Con còn nhớ ạ. Nhưng con cũng sẽ đi học hỏi thêm ở mấy xí nghiệp bạn.
– Ừ, thế là đúng. – Ông Bằng thở phào. – Dù thế nào thì thật thà, chân thành vẫn là hơn, con ạ. Ai thế nào, mặc. Mình tự quyết định lấy phẩm giá của mình, thế mới đúng. Còn việc gia đình, con có định đưa cháu Nga về ngay không? Bà ngoại cháu nữa, vẫn ở trên ấy hay chuyển về dưới này?
Không để Phượng kịp đáp, Lý chồm ngay sang phía ông Bằng, giọng thấp xuống nhưng vẫn hết sức sấn sổ:
– Ông ạ, dẫu sao nước cờ cao vẫn là nhún nhường. Con định thế này, để tạo điều kiện thuận lợi về công tác cho Phượng, tối Ba mươi Tết này, cả nhà sum họp, ta mời tay Tổ chức xí nghiệp Phượng tới, mời nó ăn, cho nó thấy gia đình ta. Mình đâu có phải loại hèn kém, muốn đè ép là được!
– Không được! Không được… Không nên như thế.
Thế này…
Ông Bằng xua xua tay. Nhưng ông chưa kịp nói hết ý, đã nghẹn lời, rũ xuống ho một hồi. Và ngoài sân có tiếng người, rồi ở cửa buồng có tiếng giày da bước lộp cộp vội vã.
– Ối! Cả nhà tụ họp ở đây, vui quá! Ba! Chào chị Lý, Phượng.
Người vừa bước vào cất tiếng reo hoan hỉ là Luận, chồng Phượng. Luận trắng trẻo, cao dong dỏng, mặc áo vét tuýt xi tím than, trạc bốn mươi, dáng thanh nhẹ, trẻ trung.
Theo sau Luận là Đông. Đông vừa tắm xong, hai tai to như tai Phật đỏ ửng, co ro, cúm rúm, lù rù bước vào, chúi ngay xuống ghế cạnh ông Bằng, xuýt xoa kêu rét quá, xin Phượng chén trà nóng.
Lý phắt đầu lại phía Luận, hất hàm:
– Tưởng tối mịt mới về! Đậu xanh gói bánh đâu?
Luận đứng sững, khuôn mặt trái xoan linh lợi đờ ra một giây, rồi chợt hiểu, dang rộng hai cánh tay, thở phù một hơi:
– Chẳng có gì cả! Bị tịch thu hết rồi!
Lý nhảy ra khỏi ghế, giậm chân, xỉa tay:
– Bịa! Bịa! Tịch thu! Nói dễ nghe nhỉ? Có hốc xì thì có! Tịch thu! Ai tịch thu? Thẻ nhà báo đâu, sao không chìa ra?
Luận nhệch miệng như cười như mếu:
– Ai tịch thu? Thuế vụ chứ ai nữa! Lệnh của nhà nước cấm vận chuyển lương thực, thực phẩm ngày Tết. Thế mà lại quên mất không xin cái giấy nhận thực của huyện.
– Há há!… Đẹp mặt chưa! – Vỗ tay đồm độp, Lý cười ha hả. – Chị em tôi mà tin ông thì có ngày rã họng. Phượng ơi, mày thấy chưa? Tao đã bảo rồi mà, các lão đàn ông nhà này toàn là hạng vô tích sự cả. Nhưng này thôi, để tôi kể một câu chuyện về bọn thuế vụ cho mà nghe…
Ồn ào, náo động cả căn buồng. Đầy ắp những chặp cười, những lời phiếm luận. Nổi lên giọng Lý chanh chua, những âm thanh, giọng điệu biến thái đột ngột và những thành ngữ, từ ngữ phi lý, lạ tai. Ông Bằng thấy đầu ù ù, có cảm giác mình vừa bị cuộn vào vừa bị đẩy ra, đứng ngoài rìa một vòng xoáy càng lúc tốc độ và sự ồn tạp càng tăng.
Phượng thu dọn những đồ sắm Tết vào hai cái làn xong, ý nhị tách ra khỏi cái vòng xoáy của những câu chuyện càng lúc càng trở nên tạp nhạp rối rít, đi đến bên ông Bằng, cúi xuống:
– Ông ạ, nước chắc đã nóng rồi, con mời ông đi tắm ạ. – Rồi Phượng ngẩng lên, nhẹ nhàng. – Các anh chị ơi, yên lặng để ông cho ý kiến về tổ chức Tết xem nên thế nào…
Ông Bằng đứng dậy, thấy như tròng trành, liền đưa tay xoa mặt, rồi mới thong thả:
– Thế này, các con ạ. Lúc nãy, ba chưa nói hết ý.
Đúng là việc Phượng chuyển công tác về dưới này là việc vui mừng của gia đình ta, có khách khứa, bè bạn tới thì càng vui. Nhưng ba muốn Tết là Tết riêng của gia đình. Khách, các con để khi khác. Mấy khi gia đình ta được sum họp thế này. Tết này đã vậy, còn Tết sau, biết thế nào…
Từ ngữ có giá trị tự thân và cùng với chúng là giọng nói, một giọng nói trầm trầm trong khung cảnh một chiều đông áp Tết đã khiến cho những câu nói của ông Bằng giống như một giai điệu buồn, để lại những vang hưởng bùi ngùi và xao xuyến trong căn buồng, do vậy không khí Tết nhất đang tíu tít, hào hứng bỗng như mất đi cái sinh khí hồ hởi, phấn chấn, kể cả khi ông Bằng đã đi tắm và hai người phụ nữ đã xách hai làn hàng Tết nặng xuống bếp.
Còn lại trong buồng là Đông và Luận.
Hai anh em cao bằng nhau, nét mặt, cử chỉ hao hao nhau nhưng vóc dáng và tính cách thì hoàn toàn khác nhau, như cái cây cùng gốc lại chẽ thành hai cành, hướng về hai ngả đối lập nhau.
Luận hoạt bát, nhạy bén, xông pha, vừa là tính nết bẩm sinh vừa là những đặc tính được hấp thụ từ nghề làm báo quen rộng biết nhiều. Đông, trái lại, chậm chạp, thản nhiên, ụ ị, mù mờ, dường như khách quan với tất cả mọi sự kiện, kể cả việc quan thiết đến mình.
– Uống nước đi. Cậu lại hút à, Luận?
– Em hút thử một điếu thôi. Vừa rồi gặp một ông sành thuốc, ông bảo cách thưởng thức thuốc lá ngon. Thế này, anh Đông. – Luận châm điếu thuốc, rít một hơi dài, rút điếu thuốc khỏi miệng, giơ lên. – Hút khoảng hai xăngtimét như thế này, lúc ấy mới thật là khói của nó. Thế! Hút tiếp, không thở ra, đưa khói lên mũi, vào chỗ này. – Luận chỉ vào đoạn sống mũi gần hai khóe mắt, thích thú như đối với một phát hiện lạ. – Khứu giác cảm nhận mùi vị tập trung ở đây.
Đông thì lì, không bị hấp dẫn:
– Thế cậu có dò tìm được tin tức thằng Cừ không? Luận dụi đầu điếu thuốc xuống nền nhà:
– Để em nói nốt về việc hút thuốc đã. Nghĩa là nhiều khi ta sống trong cuộc mà chẳng hiểu cho tới ngọn ngành nó là thế nào cả. – Thoáng một ánh cười tự giễu trên môi, Luận tiếp. – Còn việc thằng Cừ. Em đã hỏi nhiều nguồn tin. Đích xác là nó đã đi rồi.
– Đi rồi!
– Chắc chắn là thế!
– Hừ, chắc chắn là thế!
Luận có cảm giác Đông hơi thu mình nhỏ bớt lại khi chậm rãi lặp lại câu nói của mình. Mặt Đông lặng tờ, hàng ria lấm chấm có sợi bạc vẽ một nét trang trọng trên mặt Đông. Vẻ như Đông không dửng dưng trước sự kiện này. Nhưng khi Đông để mặc cả tấm thân đồ sộ đổ vào lưng chiếc đi văng, sau khi lừ lừ hai con mắt nhỏ tìm kiếm quanh quẩn một cái gì đó vu vơ và vô nghĩa, Đông lại trở lại vẻ hững hờ vốn có.
Với Luận, sự kiện này thật nghiêm trọng. Thằng Cừ, đứa con thứ tư trong gia đình, em của Đông, Luận, cái thằng được cả nhà quan tâm, lo lắng đã di tản, đã bỏ Tổ quốc, chạy ra nước ngoài rồi. Cái thằng hư đốn, mất dạy từ nhỏ. Không giống anh cả Tường, không giống Đông, Luận. Không bằng cả thằng Cần, em nó hiện đang học kỹ sư ở nước ngoài, sắp tốt nghiệp. Luận đã cứu nó khi nó bị bộ đội kỷ luật sa thải về vì tội ăn cắp quân trang. Nhục quá! Nhưng nghĩ nó là em, lại thương nó cũng đã bốn năm lặn lội Trường Sơn đánh Mỹ, xin cho nó học nghề ở một xí nghiệp lớn. Nó có vẻ tu tỉnh. Đùng cái nó được đi học lắp máy một năm ở Tiệp Khắc. Mừng quá, tưởng đây là dịp nó gây dựng lại tinh thần cho cuộc đời riêng vốn đã có vết nhơ. Nhưng một năm sau, từ nước ngoài về, gặp Luận nó nói thẳng thừng: Biết khổ thế này, tôi chẳng về nước nữa! Luận tức giận nhưng cố nén: Cậu hãy nhìn vào chỗ sáng đi. Nó cười khẩy: Có chứ, ông Đông đấy, hai mùa kháng chiến, giờ trung tá về hưu, tiều tụy, không hứng khởi, không vô vọng, chỉ một hoạt động là tổ tôm… Tôi chán! Cái thằng khốn nó xưng là tôi. Nó coi thường, coi khinh một trị giá là Đông. Rồi nó sẽ chà đạp lên mọi giá trị tinh thần khác nữa cho mà xem. Đông uất nhưng không thèm chấp, không thèm đáp, kệ Luận lăn lóc, bám sát nó, bảo ban, kiềm chế nó. Nó là cái mầm họa. Quả nhiên nó bảo Luận: Tôi quyết định bỏ vợ đấy, ông Luận ạ. Luận gào: Mày tồi quá! Mày thử hỏi ý kiến ba đi, rồi mày sẽ hiểu. Nó cười nhạt, đểu giả: Ôi, ba lạc hậu hàng thế kỷ. Luật lệ đạo đức gì mà cổ quá. Chán nhau rồi thì phải bỏ nhau thôi, ông ạ. Luận quát: Mày câm mồm đi! Lúc mày đóng quân ở Ninh Bình, mày tán tỉnh nó, mày có ý nghĩ đê mạt ấy không? Đông không nói, như kẻ đứng ngoài cuộc, chỉ nhìn nó lừ lừ, tưởng như thân hình hộ pháp của Đông sắp sửa lao vào nó mà đấm đá cho thỏa hận. Chỉ còn Luận rát cổ đấu khẩu với nó, lúc uất quá chửi nó là đồ vô giáo dục, thằng ăn cháo đái bát, tên phải bội. Luận sục xuống xí nghiệp nó làm, gặp Đảng ủy, giám đốc, Công đoàn, yêu cầu quản lý nó thật chặt. Êm được một tháng, đã mừng mừng. Nhưng đùng cái có công văn từ xí nghiệp nó gửi về: Truy nã Lê Ngọc Cừ về tội đào nhiệm.
– Từ lâu, em đã nghĩ vào mùa khô, biển lặng, có lẽ nó sẽ vượt biên. Em biết nó ngấm ngầm chuẩn bị. Thằng này hư hỏng quá nặng rồi.
– Sao cậu biết nó ngấm ngầm chuẩn bị? – Đông hỏi, không nhúc nhích.
– Chị Lý bảo thế! Nó bán dần đồ đạc đem từ Tiệp Khắc về. Nó cặp kè chơi bời với một đứa con gái rất hư ở phố này. Nghe nói, mỗi đứa đi phải nộp hai chục ngàn.
– Sao bà Lý không bảo tôi?
Luận châm lại điếu thuốc, rít một hơi:
– Cuộc sống thật hết sức phức tạp. Mỗi gia đình, mỗi con người thật không đơn giản.
– Có gì mà phức tạp hết sức?
– Như hiện tượng thằng Cừ, em nghĩ ngợi rất nhiều.
Đông nhăn trán:
– Có gì mà phức tạp. Nó nhiễm độc tư tưởng tư sản, hưởng lạc. Có vậy thôi!
– Cái đó có. Nhưng cụ thể? Và còn những mặt khác?
– Nó đánh mất lý tưởng!
– Nói thế thì ai chả nói được. Nhưng vì sao? Vì sao? Chứ chỉ một câu kết tội thế, giải quyết được gì! Đừng nên từ một khái niệm để xem xét con người. Phải tiếp cận nó, đặt nó trong các mối liên hệ mà xem xét một cách thực sự cầu thị. Có thể mới tìm được giải pháp đảm bảo cho nó không tha hóa, để nó phát triển lành mạnh.
– Thôi, cậu đừng có bênh che nó. – Đông chồm lên và thật bất ngờ, giáng nắm đấm xuống mặt bàn. – Tôi có súng, gặp nó, tôi bắn chết luôn!
Luận chùng người lại, có cảm giác nghe thấy tiếng súng nổ bên tai. Đông lừ mắt, như bồi thêm một phát đạn nữa cùng với một cú đập bàn nhỏ hơn:
– Nó là một thằng phản động!
– Về cái nghĩa…
– Theo nghĩa chính xác của từ đó. – Đông ngồi thẳng dậy. – Cậu hiểu không? Tháng Tư năm 1975, tôi gặp nó ở Xuân Lộc, lúc ấy ta đang bao vây Sài Gòn. Nó kêu với tôi: Đói, khổ lắm anh ơi. Lúc đó tôi đã muốn bắn chết mẹ nó đi cho rồi. Hừ, còn bây giờ, nó sẽ hại cả nhà. Nó sẽ hại cả nhà. Bà Lý bảo thế đấy!
Trong Luận có một cơn rung nhè nhẹ. Thằng Cừ sẽ hại cả nhà! Nghĩa là thế nào? Vì nó là một thằng phản bội Tổ quốc? Nó sẽ làm điêu đứng số phận thằng Cần, thằng Dư đang học ở nước ngoài và Phượng mới chuyển công tác về? Hay nó trực tiếp làm khổ vợ con nó? Và liệu ông cụ có chịu nổi vết đau này? Lý tinh nhạy lắm, đã nhìn ra những gì chưa xuất hiện. Còn Đông lại tiếp nhận ý kiến của vợ theo kiểu tư duy thô sơ, giản đơn, một chiều như Đông vốn có.
Ngửng lên, Luận cố rũ ra khỏi ám ảnh nặng nề:
– Anh Đông ạ. Chuyện thằng Cừ, nếu không phân tích rõ rành thì sẽ hoang mang. Mà lúc này lại rất cần tỉnh táo. Đặc biệt trong các bi kịch có dính líu đến gia đình, mình càng phải thật rành rẽ để khỏi cuống, để tìm được tận gốc mà chữa.
– Có gì là phức tạp lắm đâu! Cậu hay vòng vèo quá!
– Anh vừa nói, theo em, ý ấy chưa toàn diện. Quy kết như thế chẳng có ý nghĩa gì ngoài ý nghĩa chính trị của vấn đề.
Đông lụng bụng câu gì đó trong miệng, quay mặt nhìn ra cửa. Luận hơi cúi xuống:
– Anh ít ở nhà, ít quan tâm tới nó, không hiểu hết nó, từ những điều nhỏ nhất trong đời sống hàng ngày. Không kể nó hỗn láo từ lúc nhỏ, như đi học về mở mâm cơm ra, thấy thức ăn không vừa ý, chửi luôn: Nó cho bố nó ăn thế này đây. Không kể cái tính tắt mắt, ăn vụng từ miếng giò, quả trứng chị Lý mua cho thằng Dư hồi nhỏ. Không kể cái tồi tệ, đớn hèn của thằng con trai đi bộ đội mà viết thư về chỉ kêu đói, kêu khổ và xin tiền gia đình. Nó hư hỏng ở mặt khác kia. Em kể anh nghe. Một lần, bà cụ mắng nó, đại để là trách nó không biết đến công lao sinh dưỡng, mang nặng đẻ đau, nuôi nấng, bú mớm của cha mẹ. Anh có biết nó trả lời thế nào không? Thôi đừng đạo đức giả nữa. Tôi có khiến các người cho tôi ra đời đâu! Lúc ấy, em đang rút quai dép, em run cả hai bàn tay. Uất quá, em lẳng cả chiếc dép cao su vào người nó. Một lần khác, nó ở bộ đội về nghỉ phép, em hỏi nó: Nghe nói cậu lấy vợ có con rồi, sao không nói với ba, mẹ và dẫn cô ấy về nhà? Nó nhún vai: Ồi, chuyện ấy có gì mà quan trọng thế! Nghĩa là thế nào? Nó đủ các tính xấu của thói ích kỷ hèn nhát, vân vân và vân vân. Nhưng đáng sợ hơn đáng lưu tâm hơn ở chỗ này, rõ ràng là có một lối sống đang có nguy cơ hình thành: coi tất cả chuẩn mực đạo đức là giả trá, vô bổ, vô lý, coi tất cả các quan hệ tình cảm thiêng liêng với Tổ quốc, gia đình, bố mẹ, anh chị em là vô nghĩa.
Luận ngừng lời. Đông có nghe không mà mặt vẫn ngoảnh ra ngoài cửa sổ. Chắc chắn là Đông không tiếp nhận ý kiến của Luận đâu. Thấy Luận im, Đông từ từ quay lại:
– Cậu hay lý sự, phức tạp hóa các vấn đề quá! Luận cười, cố giấu vẻ chua chát:
– Thôi, bảo lưu mọi ý kiến đã. Bây giờ nó đi rồi. Hậu quả thế nào cũng có và phải giải quyết, anh ạ.
– Đến công an, nói: Chúng tôi từ nó. Thế thôi!
– Đơn giản thế thôi à? – Luận nhăn nhăn trán, ngẩng lên. – Thôi được. Còn việc này, có nên để ba biết sự thật không?
– Ý cậu thế nào?
– Không nên! Hiện nay, cụ mới chỉ biết là nó bỏ việc ở xí nghiệp mà cụ đã buồn lắm rồi. Cụ đã viết thư kể việc này với tất cả mọi người thân thích trong nhà, kể cả chị Hoài, vợ anh cả Tường ngày trước. Em sợ sức khỏe của cụ không chịu nổi… mặc dù em biết cụ luôn luôn tự chủ, muốn giữ thế cân bằng.
Trời, chị Lý, bàn tay chị là bàn tay vàng. Trông chị lọc thịt kìa! Lưỡi dao bài mảnh như cái lá lúa, sục vào tảng thịt, rạch rạch, tở từng lát dài gọn như xén, trông đã phát thèm. Miếng thịt gói bánh to bản, dày vừa độ, có cả mỡ, cả nạc, ướp muối tiêu, không ướp nước mắm sợ để lâu bánh thiu, xếp đầy ụ hai cái bát ô tô. Chỗ đỗ đồ vàng tơi nóng hổi. Mắt nhìn, miệng nói mà hai tay mềm mại thoăn thoắt vần chuyển, tăm tắp trong mọi động tác. Tấm lá bọc lau miết, sạch bóng. Hàm răng nhỏ trắng ngời tước cái cọng lá. Những ngón tay búp măng vặn cái lạt giang mềm óng ả. Một tiếng đồng hồ, gói gọn thon lỏn yến rưỡi gạo nếp. Tất cả vừa nãy còn ngổn ngang thúng, mẹt, nồi niêu, gạo, đỗ, lá, lạt, giờ đã chặt chịa ba chục cái bánh gói không khuôn mà chiếc nào cũng giống chiếc nào, cao thành, vuông góc, đều như đúc.
Một ngày ngắn ngủi qua, toàn bộ công việc chủ yếu của cái Tết lớn đã đâu vào đó. Phượng như cái bóng bám theo Lý, chịu sự điều hành, chi phối của Lý. Lúc nắm đỗ, khi bổ củi, lúc rửa rau, khi bóc tỏi. Phượng là cái tay cái chân của Lý, nhất nhất mọi việc đều thực hiện theo sự chỉ bảo của Lý. Cạnh Lý, Phượng càng lúc càng thấy mình lóng ngóng, tuềnh toàng, nhạt nhẽo thế nào.
Lý thật hoạt, thật vui, thật khéo, thật là người làm chủ công việc. Lý cười ha hả, cười hết cỡ và hoàn toàn tự nhiên, không bị ràng buộc, ăn nói thật bỗ bã, lắm khi thật bặm trợn mà nghe vẫn không chối tai.
– Mày có tin không, Phượng? Có lần tao cắt tiết trâu rồi đấy.
– Thật à, chị?
– Chẳng có khỉ khô gì cả. Ai làm được cái gì, tao cũng không chịu lép. Khắc làm, khắc quen. Lão Giám đốc bảo tao: Cô Lý, xem ra cô là người năng động, coi kho phí đi, tôi điều cô sang chạy vật tư, ưng không? Được, tao bảo: Ông làm quyết định đi. Thử tay nghề nhau một tháng nhé. Tốt, phải tăng lương đấy. Tao sang phòng Vật tư một tháng, bao nhiêu ách tắc lưu cữu cứ là bay. Bột nhẹ có rồi, kếp có rồi, sắp thép có rồi, nhưng nằm chết gí ở cảng đã nửa năm nay. Để tôi giải quyết. Đưa hai nghìn đây. Tao chỉ gióng một tiếng, năm ô tô tải đến, đích thân tao xuống cảng. Một tuần sau, kho xí nghiệp đếch còn chỗ nào mà nhét nữa.
– Chị tài quá!
– Tài cóc khô gì! Chẳng qua là vì lão Trưởng phòng không sai khiến nổi bọn con gái và mụ vợ lão Thứ trưởng bị thịt trong phòng. Lão này năm chục cái xuân xanh, chưa vợ, xấu như ma, giàu ghê gớm nhưng lại cứ hay ken két nguyên tắc rởm. Tao bảo lão: Ông ơi, ông phải biết nịnh nọt quân của ông, phải biết ra lệnh lại phải biết bưng phở cho họ xơi.
Đời phải biết nựng nọt, cưng chiều nhau chứ. Nịnh cũng tùy chỗ mới là xấu. Chứ vợ chồng nịnh nhau, chiều chuộng nhau thì xấu ở chỗ nào? Giờ lão Trưởng phòng là thần nịnh. Lúc nào cũng: Cô Lý thân mến, Cô Lý thân quý. A, lão thủ thỉ, cũng có duyên ra phết. Nhưng ông ơi, tao bảo lão, phải giữ khoảng cách đấy nhé. Tôi, gái có chồng rồi, cứ cặp kè nay đi công tác với ông, mai đi chạy hàng với ông, không giữ gìn thì làm bia miệng cho thiên hạ đấy. Lão nghe, mặt cứ đực ra.
Lý cười nắc nẻ. Công việc hòa quyện hai người. Chuyện tâm tình quấn quýt say sưa mà Lý vẫn không sao nhãng mảy may công việc.
– Thôi, nổi lửa cho nồi bánh đi, Phượng! Nhớ đun đều. Nghe lạch xạch là cho nước thêm. Đặt cái chậu thau nước lên nắp thùng này cho nó nóng.
Cái thùng bánh cao lù lù. Giục Phượng nhưng Lý cũng xắn tay áo ra sau bếp, vác bao trấu mua trữ đã hơn tháng nay vào, rải quanh bếp.
Lửa bén củi, cháy một khối vàng đậm dưới đáy thùng, liếm chờm lên cạnh thùng, lơ lơ xanh. Ngoài sân, tối nhập nhoạng. Khu vườn quẩn hơi sương trắng mờ. Cái cổng sắt bị hơi gió tạt chốc chốc lại rung cành cạch. Pháo nổ ở cuối phố đì đẹt vọng lại.
Lý kéo cái thớt đại gỗ nghiến ra cửa bếp, đặt miếng thịt bò định thái để nấu xốt vang, sực nhớ lại bỏ đấy chạy vào nhóm bếp dầu rán mỡ. Phượng nhấp nhổm quanh thùng bánh:
– Có con mèo đen nó quẩn quanh ở trong vườn, chị Lý ạ.
– Mèo hoang đấy, hôm nọ tớ thấy nó tót cả lên bàn thờ.
– Mình nên nuôi một con, chị ạ. Nhà lắm chuột quá.
– Mèo nuôi phải có thần nó mới ở lại với chủ. – Lý cúi xuống cái thớt. – Tớ đã mua về hai con. Đo đuôi, ném que đo xuống một chỗ, kéo tai nó đi quanh chỗ đó ba vòng rồi bắt nó lạy ông Thổ Công, nó vẫn ị bậy, tức, đánh cho một trận, nó bỏ đi liền. Càng may, tớ kinh cứt mèo lắm. À này, lạc ngâm đường ở trên buồng được rồi đấy. Lên vớt ra, đem xuống đây hong đi, Phượng. Thôi chết, cái bếp dầu hở bấc hay sao?
Lý đứng dậy, lộp khộp đôi guốc cao, chạy vào phía trong bếp.
Phượng lên buồng vớt lạc, lát sau qua sân xuống bếp, vừa đi vừa lắc rổ lạc còn ướt.
– Ối trời!
Chỉ suýt nữa là Phượng buột tay để rơi rổ lạc ngâm xuống đất. Kinh quá! Lợi dụng lúc Lý chạy vào đập lửa bếp dầu, một con mèo đen như cục than từ đâu đã lẻn vào định cắp miếng thịt bò đang nằm thu lu một khối trên thớt. Nhưng nó mới chỉ kịp hập miệng vào miếng thịt, Lý đã quay ra và sự việc đã xảy ra nhanh như một tia chớp. Lý nhanh hơn con mèo và con mèo đã nhận trọn cú đá hết sức giận dữ của Lý, như một búi giẻ bắn vọt ra sân.
Kinh hãi, Phượng sững lại ở cửa bếp, quay mặt đi. Trong cửa bếp, lửa hắt vàng ngời, Lý đã ngồi thái thịt, điềm nhiên như không có chuyện gì xảy ra.
– Con mèo khéo chết mất, chị Lý ạ. – Phượng run rẩy, lách qua cửa bếp.
– Kệ cha nó! – Lý đáp thản nhiên.
Lưỡi dao sần sật chạm thớt. Lát sau, Lý chợt ngẩng lên, nhìn ra sân, reo:
– A, ông Luận, xuống giúp chị em tôi một tay chứ! Luận thật, Luận mới đi đâu về, người ẩm sương, len qua cửa, ngồi xuống cạnh bếp gần Phượng, quay đầu lại, hỏi:
– Có việc gì chị cứ sai bảo đi.
– Này, có biết ăn thịt mèo không? Có con mèo hoang hay vào ăn vụng lắm, bắt làm thịt đi. Tớ làm thịt mèo giỏi có tiếng từ hồi sơ tán đấy!
Phượng rùng mình. Lý cười khành khạch, tiếng cười hòa với tiếng pháo từ xa dội về càng lúc càng dày. Luận nghênh tai, tủm tỉm:
– Ngày Tết, ai lại ăn thịt mèo. Có cách này trừng phạt mèo hay hơn. Bắt được cô nàng, ta buộc bánh pháo vào đuôi.
– Có thừa pháo!
– Chị Lý, Phượng này, bọn phe có đứa chơi ngông, ngày ông Táo chầu trời, đốt bánh pháo dài ba mét.
– Ba mét đã ăn thua gì! – Lý ngẩng lên, bĩu môi. – Năm mét. Thả từ gác hai xuống tới đất. Đám cưới con bạn tôi đấy. Nó là y sĩ, chẳng hiểu tử vi thế nào mà lão thầy xướng: Số cô sẽ là hoàng hậu. Thế có điên không! Năm kia nó cưới một anh giáo khổ mà hớn hở quá, đốt một lúc năm trăm đồng tiền pháo. Ngu hết chỗ nói. Cưới với chả xin. Biết là khổ mà cứ lao vào.
Luận nghiêng mặt, nhìn bà chị dâu. Giọng bà này tròn nuột, âm vang mà ý tứ thì thật ngộ, thật bất ngờ.
Phượng cúi xuống đẩy gộc củi, ngẩng lên chép miệng, bâng khuâng:
– Khổ, không biết Tết này chú Cừ bơ vơ ở nơi nào!
– Nhắc đến cái thằng ích kỷ hại nhân ấy làm gì. – Lý khẽ gắt, đứng dậy, cầm bát thịt cất vào chạn. – Này, ông Luận, ông và ông Đông chuẩn bị đón nhận hậu quả việc thằng Cừ đi nhé!
Luận ngẩng lên:
– Chị Lý, sao chị bảo thằng Cừ là thằng ích kỷ hại nhân?
– Rõ quá rồi còn gì. Thứ nhất, nó ăn cắp trứng gà của thằng Dư con tôi. Thứ nhì, nó đi nước ngoài về, không cho tôi đến một cái mùi soa, mà tôi thì nuôi dạy nó tốn không ít công của. Thứ ba, nó bán len cho tôi, len nó đem từ Tây về ấy, đắt hơn bán cho người khác. Rõ chưa?
– Rõ! – Luận cười, gật mạnh đầu. Phượng thở dài:
– Chỉ thương vợ con chú ấy.
– Ai bảo nó dại! – Lý quay ra, ngồi xuống trước bếp nấu bánh, buông một câu thật gọn.
Luận nhíu nhíu cặp mày:
– Sao chị lại bảo vợ thằng Cừ dại?
– Chứ còn gì! Tất cả những đứa lấy chồng lúc hai mươi tuổi đều là dại, là ngu hết. Cả tôi cũng vậy, cũng ngu, cũng dại.
Trời! Cả Luận và Phượng cũng sửng sốt, bất ngờ. Bà Lý lại nổi cơn hùng hổ bất thường rồi. Người phụ nữ này có thể rất ý nhị, kín đáo, lại có thể thoắt cái trở nên tàn nhẫn, bạo liệt vô cùng. Giờ là thế, giờ là tung thả không giới hạn, là thông thốc cả những chuyện thoạt nghe Phượng đã hồi hộp thót tim.
– Các cậu phải biết là tớ mười ba tuổi từ nhà quê lên đất Hà Nội này đã biết ngay rằng, làm thân con gái phải biết giữ mình. Hé! Khôn ba năm dại một giờ là vậy. Đón dâu buổi sáng, buổi chiều cô dâu lên bàn đẻ. Có đứa ở xí nghiệp tớ thế đấy. Đó là dại, là ngu. Phượng à, mày có con gái, mày phải dạy nó đanh đá thật lực vào, đối với bọn con giai phải cay như hạt tiêu sọ, phải biết tính toán trước sau. Cái lão Đông, anh trai ông ấy, ông Luận ạ, ngót ba chục cái lá vàng rơi, hồi ấy trông cũng bảnh mà không hiểu sao mới chỉ có dăm ba lần gặp nhau mà mình đã cảm chàng cơ chứ. Lão chẳng biết gạ gẫm. Ngộc nghệch, đơn sơ vô cùng. Nhưng nếu gạ cũng đừng hòng. Tuy vậy tớ vẫn dại. Một là vớ phải bà mẹ chồng ác nghiệt chẳng kém ai. Này, thằng Đông kia, chết mẹ thì hết mẹ, chứ chết vợ này lấy được vợ khác, con ạ. Mới làm dâu được nửa tháng đã nghe được câu ấy, hỏi có điên ruột lên không? Nhưng tớ không điên. Tớ ngọt nhạt: Thưa mẹ, mẹ nói lại với ba con câu ấy để ba con nghĩ xem thế nào đã, có phải hay hơn không ạ. Hé hé…
Đó là một cái ngu của tớ.
Luận đưa đẩy:
– Còn điều ngu dại thứ hai?
– Đáng lẽ phải để đến bốn mươi như bây giờ hãy lấy chồng.
– Ha! Tình yêu của tuổi bốn mươi! Một đề tài độc đáo đấy! – Luận kêu, ngạc nhiên một cách thành thật.
Nhìn Luận hau háu đón chờ, Lý rành rọt:
– Cậu có hiểu không, vì tuổi bốn mươi mới có kinh nghiệm sống, mới hiểu đời, hiểu người, mới chín chắn, chín tới, chín nẫu ra.
– Chín thì có chín, nhưng hơi… già, chị ạ.
– Chả già tẹo nào cả. Tình yêu không có tuổi! Lần yêu thứ một trăm cũng cứ bồi hồi như lần yêu đầu.
Vấn đề nghiêm túc đây, Luận nghĩ. Lý vẫn không đổi giọng:
– Mười tám, đôi mươi thật ra chỉ mới biết sơ sơ thằng chồng mình mồm ngang mũi dọc, mắt mọc hai bên thôi chứ đã biết tâm tính, triển vọng nó thế nào, đã làm gì có kinh nghiệm nhận xét người. Như tôi lấy ông Đông lúc mười bảy tuổi. Mười bảy tuổi, hồn nhiên thì có nhưng ai dám đảm bảo là đã lựa chọn đúng người mình sẽ chung sống suốt đời được?
– Chị nói thế chưa hoàn toàn đúng. Vấn đề là phải dắt dìu nhau, tạo ra sự hòa hợp về tâm lý trong cả quá trình chung sống chứ. Nghĩa là cả hai bên phải chủ động!
Lý lắc đầu, môi nhệch cái cười mệt mỏi:
– Thế thì sống với nhau vất vả quá. Mà đời thì vốn đã khó nhọc lắm rồi.
– Hay tuyệt! Được rồi! Vậy chị quan niệm người chồng lý tưởng của chị phải là thế nào? Biết nựng nọt cưng chiều vợ chăng?
– Cậu nghe lỏm chuyện tôi với cô Phượng vừa rồi, hả? Dơ! – Lý thưỡi dài môi dưới, chao chát. – Lầm rồi cậu ơi! Nịnh nọt nhau chỉ là chuyện ở trong nhà thôi. Còn ở ngoài xã hội, người chồng phải làm cho vợ hãnh diện. Hãnh diện, cậu có hiểu không?
Có một góc tối mờ nào đó trong Lý vừa được những câu nói hết sức tự tin của chính Lý tạo thành một tia lửa điện soi tỏ. Lý đã tự bộc lộ. Và Phượng, vào lúc này, bỗng như đột ngột phát hiện ra cái bí ẩn trong tâm thái người chị dâu chồng ở cái buổi chiều hôm qua, khi hai người trò chuyện, nhắc tới những ngày Đông ở chiến trường. Chẳng thà cứ như hồi ông ấy ở chiến trường, tôi lại thích, lại sung sướng. Phải, Đông ở chiến trường thì Lý có một ông trung tá trong nỗi nhớ, một ông trung tá được miêu tả hết sức trừu tượng nhưng đầy hãnh diện, trước mọi người. Còn bây giờ? Bây giờ thì chẳng có ông trung tá nào hết. Bây giờ Đông là xương thịt cụ thể như mọi người, đã về hưu, không tạo ra một giá trị mới nào, sống giản đơn, bằng lòng với một cuộc sống thường nhật buồn tẻ, khiến Lý lắm lúc phải bật lên cái câu hỏi bề ngoài tưởng như chỉ mang sắc thái đùa cợt mà kỳ thực lập lờ một nỗi niềm: Tại sao tôi lại lấy ông Đông nhỉ?
Thấy Luận đăm chiêu, Lý quay lại, hất hàm trịch thượng:
– Thế nào? Sai à?
– Phải suy nghĩ đấy.
– Có gì mà phải suy với nghĩ. Tất cả bánh đúc bày sàng ra cả đấy thôi.
Luận lắc đầu. Bà Lý này sâu sắc đấy mà cũng nông nổi đấy, khôn ngoan đấy mà cũng nhẹ dạ đấy.
– Chị Lý này. Chị nói thế cũng chỉ đúng một phần thôi. Vợ chồng, ngoài cái tình còn có cái nghĩa. Sống với nhau lâu thì có cái nghĩa tao khang, đá vàng trăm năm. Thế cho nên, Đói no có thiếp có chàng, Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.
– Nhưng Một ngày tựa mạn thuyền rồng, Còn hơn chính thất nằm trong thuyền chài!
– Chị tài lắm! – Luận rên nho nhỏ.
Lại một lần nữa Luận bị bất ngờ. Luận lại không nắm bắt được bà chị dâu. Người phụ nữ bốn mươi tuổi này thật phong phú, dồi dào và đậm đặc tình cảm, ý nghĩ; trong chị là cái động cơ đốt trong đầy ắp năng lượng. Ngôn ngữ của chị sặc sỡ sắc màu, lung linh, góc cạnh trong khi Đông thì cứng nhắc, phẳng bẹt, tẻ nhạt. Chị hướng về cuộc sống thường ngày, nghĩ ngợi, day dứt về nó trong khi Đông lại hết sức bình lặng, coi mọi chuyện đều hết sức đơn giản, rõ ràng.
Phượng bỗng đứng dậy, đi ra ngoài cửa.
– Cái gì ngoài ấy đấy, cô? – Lý nhìn ra, hỏi.
– Hình như con mèo đen nó không làm sao. Em thấy nó vừa chạy qua đây.
– Kệ cha nó. Giống hoang nó sống dai lắm.
Lý đứng dậy, xốc lại bao tải trấu, bốc một vốc, ném vào lòng bếp:
– Chú Luận này, hôm qua ông cụ nói, cái câu cuối cùng ấy, ý là thế nào?
– Hình như Sở Nhà đất họ muốn ông cụ nhượng lại căn nhà này cho một ông thứ trưởng. Họ sẽ xây lại mấy gian bị cháy đổ. Còn mình, họ bố trí xuống khu lắp ghép.
– Tôi dứt khoát không có đi đâu cả. Thằng Dư con tôi ba năm nữa tốt nghiệp về nước, nó phải có một căn buồng ở đây.
– À, là nghe loáng thoáng vậy.
– Nếu phải đi thì tiếc quá. – Phượng đứng ở cửa bếp, nói ra ngoài trời đêm. – Tiếc nhất là khu vườn.
Chẳng ai hưởng ứng lời Phượng. Chỉ có khu vườn nhỏ bỗng rào rào lá và lộp độp buông sương. Cây trong đêm có một ngôn ngữ riêng. Hình như chúng mừng rỡ. Mùa lá rụng sắp qua rồi.
Ngoài cổng có tiếng mở khóa và lao xao tiếng cười. Mấy bóng áo choàng đi qua vườn cây, rồi có tiếng reo mừng, chào đón. Các cụ tổ hưu đã đến họp buổi cuối năm.
Luận chống tay, đứng dậy, giậm giậm hai bàn chân tê cứng trong đôi giày da cũ:
– Thế nào, kế hoạch Tết ra sao, chị Lý?
– Mai, Ba mươi chơi chợ hoa, đi làm đầu. Tối, cúng tế gì thì cúng tế, rồi ăn cỗ tất niên.
– Mồng Hai Tết phải về làng thăm hỏi, chúc Tết họ hàng chứ. Ông cụ nhắc đấy. Chị giờ là dâu trưởng.
– Dâu trưởng! – Lý dài giọng. – Dâu trưởng là bà Hoài, vợ ông cả Tường chứ!
– Nhưng ông ấy đã hy sinh, bà ấy đã đi lấy chồng khác rồi.
Nồi bánh sôi lục bục. Lý đạp cái bao tải, trấu đổ tóe quanh bếp, ngủng ngoẳng:
– Kệ, tớ không đi! Đồ ăn thức uống tớ chuẩn bị đủ. Ba ngày Tết, ông nào bà nào đói cứ việc bóc bánh ăn với thịt mỡ, dưa hành, thịt gà, thịt đông đấy. Tớ có kế hoạch của tớ. Khác đi, chứ cứ một kiểu mãi à? Lúc nào cũng một điệu nhạc thì ớn xương sườn lắm. Mà Phượng này, ra Giêng, tôi với cô xin phép đi chơi hội hè cho nó sướng cái thân. Tội đếch gì. Khổ mãi rồi! Cái già nó xồng xộc đến sau lưng rồi còn gì.
Chợt ngừng, Lý ngẩng lên, nghiêng ngóng về phía căn buồng khách lúc này đã ran ran tiếng cười, bật kêu:
– Kìa kìa, các cụ cũng còn yêu đời nữa là mình! Đấy, đấy, có nghe thấy tiếng các cụ đọc thơ xuân không, Phượng?