GIÀNG TẢ, KẺ LANG THANG


Y Tí là mảnh đất phía cực Tây của tỉnh Lào Cai, nó được mệnh danh là mái nhà của cả vùng đất núi non hiểm trở này. Điều ví von ấy nếu được các nhà địa lý khen là chính xác thì ta có thể nói thêm: Những mảnh ruộng ở miền rẻo cao chót vót này là những viên ngói lợp trên mái nhà nọ. Những mảnh ruộng ở vùng này có một đặc điểm chung: Dẫu chủ của nó là người Mông, người Dao, người Xá hay bộ tộc gì đi chăng nữa thì thoạt đầu, nó cũng là tác phẩm được thành tạo bằng sức lao động của người Hà Nhì.

Người Hà Nhì dân số ít ỏi, là cái bộ tộc bản địa đầu tiên ở đây, nhưng trớ trêu, họ không có mấy ruộng nương, trâu ngựa sở hữu; đa phần họ chỉ là dân đi bán sức lao động. Khắp vùng, đâu đâu cũng thấy người Hà Nhì phá ruộng, khai nương, đập đá, xây cầu, thồ hàng… làm toàn những việc nặng nhọc. Người Hà Nhì là kẻ làm thuê cho người khác! Giàng Tả, hai mươi tuổi, người Hà Nhì, cũng như những trai tráng bộ tộc mình, quanh năm suốt tháng đi làm thuê làm mướn. Ấy thế, thua kém mọi người về đường của cải thông thường như nhà cửa, thóc lúa, gia súc, điền thổ nhưng Giàng Tả hơn hẳn mọi người ở thứ của cải vô giá: sức khỏe. Cũng là da là thịt mà da thịt Giàng Tả như sắt như đồng. Vai Giàng Tả rộng gấp rưỡi vai người. Ngực phồng như hai quả gò, bả vai nổi u xương. Cái cổ, cái đầu còn lạ hơn, thẳng đơ một đường, không biết gục xuống chịu lụy ai, lúc nào cũng như quyết giữ thẳng, bành ra, to bằng mặt, trông như một khối đúc liền, với vài ba nét mắt, miệng, mũi ngắn nhỏ, đơn sơ. Tất cả sức mạnh như vậy là không biết phô ra, chúng chìm trong da thịt, xương cốt, trong dáng đứng bước đi ngay ngắn, tự nhiên.

Y Tí cao hơn hai nghìn mét, chỉ có hai mùa thu đông trong năm. Mùa đông, bầu trời Y Tí xanh ngăn ngắt, rợn cả con mắt. Nước ruộng kết băng phẳng lì cứng bóng như kính. Nhà nào nhà nấy lấy lá chuối thút nút hết các lỗ cửa sổ. Bếp lửa trong nhà lúc nào cũng rừng rực cháy. Củi sưởi xếp từng chũa cao vượt mái nhà, dự trữ hằng năm.

Giàng Tả không có nhà để ngồi sưởi. Giàng Tả đêm ngủ trong cái hội quán ở đầu làng Lao Chải, ngày đi lang thang kiếm việc làm thuê lấy cái ăn. Mùa đông, rét quá, chẳng ai muốn ra khỏi nhà, động chân động tay nên ai cũng thích thuê Giàng Tả. Giàng Tả làm việc gì cũng đến nơi đến chốn, không biết ăn gian ăn bớt. Chũa củi thuê kiếm bao giờ cũng đầy đặn, khô nỏ. Mảnh ruộng thuê cày không bao giờ bị lỏi, hoặc chỗ sâu chỗ nông. Đã thế, việc nặng mấy cũng không nề hà, cũng chẳng bắt bí, vòi thêm công xá.

Trông Giàng Tả thồ củi, thồ đá mới thấy cái sức lực vô cùng của anh. Hập! Anh ghé lưng, giật hai đầu dây da trâu. Cả chũa củi to kềnh càng bằng con trâu mộng ập vào cái áo móc bện áp lưng. Sợi dây níu giữ chũa củi vòng qua đầu, chịt vào trán. Trời! Giàng Tả thồ bằng trán! Người khác thồ bằng vai. Tất cả sức nặng đè lên đôi vai. Giàng Tả cũng như nhiều người Hà Nhì khác, thồ bằng trán. Tất cả sức nặng của vật thồ tì chặt vào trán. Cái đầu không khỏe là ật ra sau, cái cổ không cứng là gãy liền. Cái đầu, cái cổ Giàng Tả không bao giờ ật, gãy được, vì đó là cái đầu, cái cổ của ông bà tổ tiên để lại cho. Chuyện kể rằng: Người Hà Nhì xưa cũng như người các bộ tộc khác, thồ bằng vai. Nhưng một lần gặp hổ, vướng dây thồ vai, không tung hoành đánh trả hổ được, bị hổ ăn thịt. Từ đó con cháu loay hoay tìm cách giải hận cha ông. Cuối cùng nghĩ ra cách quàng dây thồ lên trán. Như vậy, gặp kẻ thù, chỉ cần đưa tay hất dây thồ qua đầu là có thể thoát gánh nặng, rảnh tay đối phó. Giờ, thồ bằng trán, bằng đầu đã quen, đến mức dây thồ chằng qua in một vệt lõm trên trán. Hóa ra đầu, cổ con người có thể cứng như cái trụ đá, cái cột lim như thế!

Lý trưởng Ly Si Gơ mặt ngựa, râu dê thèm cái sức của Giàng Tả. Gặp Giàng Tả ngủ ở cái bãi chơi đầu bản Lao Chải, Ly Si Gơ vỗ vai anh, gạ gẫm:

– Sao cứ như con chim không tổ thế? Về làm cho tao đi, Giàng Tả!

– Trả bao nhiêu tiền?

– Ăn không kể. Một năm thêm tám chục đồng bạc trắng.

– Thế thì được!

Thật dễ dàng, Giàng Tả trở thành người ăn người ở trong nhà Ly Si Gơ. Lại vẫn cái trán gồ bướng bỉnh hằn lõm vệt dây, cái lưng cánh phản ấy, suốt ngày đưa củi từ rừng về nhà. Rồi cũng lại cái sợi dây da trâu ấy, cái áo móc bện lót lưng ấy, chuyển những phiến đá đục rộng nửa mét, dài hai mét, từ bờ suối lên đỉnh đồi, xây nhà cho lý trưởng. Chuyến thồ của Giàng Tả hơn cả ngựa, cả trâu, gấp bốn gấp năm người khác.

Dạo đó là năm 50, tất cả các chức dịch xã, tổng trong vùng bỗng nhôn nhao chuyện xây hầm, xây lô cốt nổi, lô cốt chìm. Nghe phong thanh sẽ có đánh nhau to lắm. Rồi chẳng còn phong thanh nữa. Ly Si Gơ họp gia nô trong nhà, nói:

– Việt Minh lên đây, chúng sẽ cướp hết, giết hết. Vậy mọi người phải đồng lòng cùng ăn, cùng làm, cùng chống Việt Minh!

Rồi Ly Si Gơ giới thiệu quan hai đồn trưởng De Nive. Quan hai Tây lừ lừ đi qua trước mặt các gia nô, thấy ai có thể đăng lính được là gọi ra thử sức. Thử sức là đái một bãi xem có trôi hết một đấu cát không. Giàng Tả bị gọi đi thử, nhất định không chịu vạch quần. Tây sừng sộ cũng mặc. Đã tưởng Tây đánh thì Ly Si Gơ đến xì xồ với Tây và vỗ vỗ vai Giàng Tả, cười nịnh.

Từ đó, Giàng Tả không vào lính đồn nhưng ngày ngày thồ đá cục, đá tảng xây lô cốt. Khiếp quá! Cái lô cốt Tây xây cheo leo mỏm núi, mà đá thì nặng, một hòn lên tới nặng bằng trăm hòn. Một bận, có bạn thợ cùng làm ngã trẹo chân. Giàng Tả đỡ bạn, hất luôn cả tải đá của bạn lên lưng, lên đầu mình. Tây De Nive lắc đầu, lè lưỡi hỏi: Mầy có thồ được nặng nữa không? Giàng Tả nói: Mày mất gì cho tôi? Tây De Nive trợn mắt: Một chai sâm banh. Giàng Tả hét: Vần cái phuy xăng kia ra đây! Ôi trời! Cái phuy xăng to tổ bố, chứa hai trăm lít. Thế mà hập cái lên lưng, phắt cái sợi dây da vít lên trán. Rồi tun tút đi xuống dốc, phăm phăm đi ngược trở lại. Tây De Nive tóe sao hai con mắt xanh, đưa chai sâm banh tay còn run run, như sợ ông Thiên Lôi, ông Hộ Pháp tóm tay, bẻ cổ, tuốt xương. Từ đấy Tây đồn và Ly Si Gơ đều vì nể Giàng Tả.

Vậy mà một ngày tháng Tư nọ người Lao Chải lại thấy Giàng Tả trở về, ngủ trong cái hội quán ở bãi chơi đầu bản. Hội quán là cái lều bát giác, bốn bề trống toang nằm giữa một bãi đất, có dây đu, đu quay, xung quanh trồng cây cọ lùn làm cảnh. Đêm đêm trai gái trong bản vác chăn ra hội quán ngủ, trò chuyện, tìm hiểu nhau. Tháng Tư, có mấy ngày hội gọi là ngày hội phóng đãng, trai gái tự do ân ái. Người ta bảo đó là nỗi nhớ đời sống quần hôn ngày xưa. Giàng Tả ngoài hai mươi, sức dư thừa, chắc cũng muốn thỏa cái giới tính háo dục của mình đây. Ai cũng nghĩ vậy. Nhưng quái lạ, mọi người nghĩ sai cả. Giàng Tả ngủ lệt bệt suốt ngày. Tỉnh dậy, gái đẹp đến chèo kéo, non nỉ cũng lờ đi. Hóa ra Giàng Tả đang bực với Tây đồn và Ly Si Gơ. Bọn trai làng thấy vậy xúm đến hỏi han trò chuyện.

– Sao, họ không trả tiền mày à?

– Có trả.

– Thế sao không làm nữa? Sợ Việt Minh lên cướp, giết à?

Đứng dậy, Giàng Tả vỗ bèn bẹt vào bộ ngực nở như sừng sộ:

– Tao làm gì nên tội mà nó giết? Tao có cái gì mà nó cướp?

– Mày thồ cả phuy xăng cho Tây!

– Ai bảo nó thách tao!

– Thế sao bây giờ bỏ đi?

– Nó đểu.

– Đểu thế nào? Nó trả tiền mày đấy thôi.

– Nó giết người, chúng mày không thấy à? Một người bạn thợ ngồi xây đá trên lô cốt ngã xuống chết, nó còn chửi. Nó không cho tiền mua quan tài chôn.

Bọn trai làng lắc lắc đầu, có đứa trêu:

– Có chết mày đâu mà mày tức. Giàng Tả chỉ mặt nó:

– Mày không bằng con chó. Con chó nó không bao giờ ăn thịt bạn nó nhé.

Rồi vắt cái áo móc lên vai, cầm sợi dây da trên tay, bỏ đi.

Giàng Tả rời Lao Chải ít lâu thì đồn Tây vỡ, Việt Minh từ vùng xuôi lên đuổi bạt De Nive và Ly Si Gơ sang Lào. Rồi từ đó hai tên chạy vào Sài Gòn hay sang Thái Lan gì đó sống cuộc đời của kẻ vong gia thất thổ.

Ấy là người ta đồn vậy. Cũng như người ta đồn rằng: Giàng Tả đã ra tỉnh, rồi lại xuống vùng thấp người Tày, người Thái, làm ăn giàu có, xênh xang lắm.

Thật tình, không phải thế. Như bao người Hà Nhì lang thang khốn khổ, trong những năm tháng chiến tranh ấy, Giàng Tả là hạt cỏ cứ bay đi, gặp đất tốt đậu lại, rồi gió thổi tới lại bay đi, vô định. Đời Giàng Tả vẫn là đời làm thuê làm mướn. Vẫn là cái đời con người chất phác sống bằng đôi tay lao động, sức lực của chính bản thân mình.

Giàng Tả đến làng Mông Thèn Pả đẵn gỗ thuê, qua làng Dao Đồng Tuyển chặt nứa mướn. Rồi phát nương cho người Xá, phá ruộng cho người Thái, khai mương cho người Tày. Dấu vết sức lao động của Giàng Tả lưu giữ ở khắp nơi. Trên những khu đồng ruộng bậc thang, mảnh dài như dải khăn vát, miếng the le như hình cái lưỡi trai. Ở con mương quanh co từ đầu nguồn nước tỏa đều khắp cả khu đồng thấp, khu đồng cao.

Giàng Tả chẳng thể ở đâu lâu. Cứ kể có việc đều và chí thú làm ăn thì cũng có thể có được một cơ nghiệp nho nhỏ đấy. Nhưng việc thì chẳng đều mà Giàng Tả cũng chẳng có chí làm giàu, không thích dành dụm. Dành dụm làm gì? Miếng ăn ở bàn tay. Việc gì phải lo xa. Cũng có vài ba cô người Mông, người Dao, người Xá đem lòng yêu mến Giàng Tả đấy. Nhưng Giàng Tả tính lạ, hay cả thẹn và anh rất nhớ quê Lao Chải mình.

Cuối cùng Giàng Tả lại tìm đường về bản quê Lao Chải. Lao Chải bản quê, từ ngày anh bỏ đi đã có bao đổi thay. Việt Minh về. Tây đồn thua chạy. Giờ là chế độ dân làm chủ, không còn cảnh bắt lính, bắt làm gia nô nữa. Ấy là anh nghe người ta nói vậy, chứ chưa một lần trở về nên chưa được thấy.

Sẩm tối ấy, Giàng Tả mới về đến cái hội quán ở bãi chơi đầu bản. Anh ngủ ở đó qua đêm và rất lạ vì thấy trong cái lều bát giác lợp cỏ đêm ấy vắng tanh không một bóng người.

Giàng Tả không hay biết gì hết. Nhiều người già trong làng cũng không hay biết gì hết. Chỉ có đám trai gái bản là biết. Họ tập trung ở nhà xã đội trưởng để chuẩn bị chiến đấu. Có tin đêm đó Ly Si Gơ cùng mươi tên biệt kích sẽ nhảy dù xuống để nổi phỉ. Nhưng cuối cùng đám thanh niên nam nữ cũng bị lừa. Ly Si Gơ và biệt kích nhảy dù xuống lại được xã đội trưởng đón tiếp như quan khách. Trong một đêm, trai gái Lao Chải đang đóng vai du kích quân lập tức trở thành thổ phỉ. Họ cả nghe xã đội trưởng làm phản.

Giàng Tả tỉnh dậy đã thấy đèn đuốc sáng rực bãi chơi. Bị ai đó đá vào sườn, anh ngồi bật lên thì thấy Ly Si Gơ đang đứng trước mặt.

– A, Giàng Tả, mày đi mãi đâu, giờ mới lại thấy mặt?

Giàng Tả dụi mắt, mãi vẫn thấy trước mặt mình loa lóa bóng người:

– Mày là ai nhỉ? Trông hơi quen quen thôi!

Ly Si Gơ cười. Giàng Tả nhận ra cái mặt ngựa, cái chòm râu dê. Nhưng bộ quần áo vằn vện trên người y cùng một cái sẹo trên thái dương y thì không nhận ra.

– Ly Si Gơ đây mà.

– Ly Si Gơ nào?

– Hà, vẫn, cái thằng bướng bỉnh, bảo vạch chim ra đái không chịu đái!

Bọn phỉ đứng quanh cười à à. Giàng Tả đứng dậy, xốc cổ áo:

– À, tao nhận ra ông rồi. Tưởng đi tận đâu rồi chứ! Lại quay về bắt tao vào lính hả?

Ly Si Gơ cười hậc hậc:

– Không bắt anh vào lính đâu. Sức anh làm lính phí đi.

Thôi, ta cứ về đồn đã!

– Về làm gì?

– Về đã!. Ly Si Gơ ghé xuống Giàng Tả, thân thiết. – Anh ơi, anh không hiểu thời thế gì hết! Việt Minh nó gian ác lắm.

– Tôi có gặp nó rồi! Có thấy nó ác đâu?

– Trời! Bụng nó là lửa nhưng miệng nó là nước đó.

– Nó không bắt tội tôi. Tôi không có tội.

– Ấy, thế thì may cho anh rồi!

Ly Si Gơ phùng má. Giàng Tả ngơ ngơ. Ly Si Gơ vỗ vai Tả đánh bộp:

– Là bởi vì nó không biết anh là quân của tôi, nếu biết, nó coi anh là kẻ thù của nó. Thôi, về đồn, chuyện còn dài lắm.

Bọn phỉ kéo về đồn. Cả Giàng Tả cũng về đồn. Tất cả trai bản cũng về đồn. Ấy là những tháng ngày đời sống chuyển phắt sang một bước ngoặt bất thường. Tất cả đều đảo lộn và nhiều kẻ như bị gió độc, cứ như phát cuồng phát điên. Nhất là sau khi Ly Si Gơ mở rộng địa bàn chiếm đóng ra gần sát huyện lỵ, nghĩa là y đã chiếm cứ hết cả cái nóc nhà của tỉnh này. Cái đời sống của kẻ cày đất, phát nương, gieo trồng gặt hái thế là bỏ bẵng, thay vào đó là đời sống của kẻ chiến binh xông pha nơi hòn tên mũi đạn.

Giàng Tả không phải xông pha nơi hòn tên mũi đạn nhưng cũng chẳng thoát khỏi cách sống như đã bị khuôn định vậy. Dẫu rằng chỉ làm công việc phục dịch ở trong đồn, như cắt cỏ ngựa, thồ nước ăn… thì cũng là một bộ phận của cái đám người chỉ nhăm nhăm việc đánh nhau, chứ không tự tay mình làm ra cái ăn, cái mặc. Cái ăn, cái mặc, tất cả mọi thứ đều ngóng trông lên trời cả. Trời đây không phải là Giàng, là Lùng như vẫn thường kêu đâu. Trời đây là cái tàu bay của quan hai De Nive. Một hôm, Ly Si Gơ bảo lính vác ra ngoài sân một cái hộp vuông xanh. Rồi chỉ vào hai cái tay quay như cái guồng, bảo Giàng Tả: Quay đi! Giàng Tả quay, cái máy kêu ro ro. Lát sau thấy trên trời có tiếng ve ve và cái máy bay to như cái cây chuối rừng lượn vòng tròn. Bọn phỉ bảo: Đó là ông một Gơ nói chuyện với người Trời. Người Trời là ông Tây De Nive. Người Trời từ hôm đó tuần hai lần đến tụt ra từ phía đuôi những dù xanh, dù trắng, dù vàng. Xuống đến đất, những dù đó là súng, là đạn, là áo quần, giày tất, đèn pin, mũ sắt. Lại cả gạo đóng sẵn trong bao tải, xoong chảo, thịt hộp, rau hộp, thuốc lá, rượu và cái đùi bò còn tươi nguyên.

Trai tráng trong đồn được phân thành thứ bậc để nhận khẩu phần ăn uống, quần áo, súng đạn. Giàng Tả cũng được chia mọi thứ. Nhưng quần áo Tả không mặc vì chê dày, cứng. Giày da Tả cũng không đi vì trầy da chân; một lần đi nhầm chân nọ sang chân kia, bọn lính trông thấy lăn ra cười, Tả bực quá lẳng luôn đôi săng đá xuống suối. Tả không cần giày của Tây, chân Tả gai rừng còn phải sợ kia. Tả cũng không thích chờ cơm Tây. Hay gì miếng ăn phải chầu chực mới có! Ý nghĩ của Tả khác hẳn ý nghĩ của Gơ. Gơ đeo lon quan một, cầu vai vàng chóe, Gơ cười, cái sẹo ở thái dương loang loáng:

– Sao mà mặt mày như trời mưa dầm thế, Giàng Tả?

– Tôi không thích sống thế này.

– Thế nào mà không thích?

– Ngày ngày chờ cái tàu bay nó ị xuống mới có cái ăn, cái mặc. Gơ cười sặc sụa. Ý nghĩ của Giàng Tả ngộ nghĩnh và thực thà quá. Nguyên là lý trưởng Lao Chải, chạy theo Tây năm 1950, về đây gây phỉ sau khi đã qua trường biệt kích ở Cap Xanh Giắc nên giờ Gơ khôn ngoan hơn xưa nhiều. Thế là Gơ đấm yêu vào vai Tả, vẻ rất bạn bè:

– Mày nói hợp cái bụng tôi: Tôi không thích lệ thuộc vào ai hết!

Tả chưa hiểu mô tê, đã thấy Gơ huơ tay gọi bọn trai làng đến, rồi cao giọng:

– Anh em ơi, ngựa dù có hay mấy mà lâu không chạy cũng hư đi. Người tốt mấy không làm ăn, làm mặc cũng hỏng đi. Ta nhúc nhắc chân tay nào. Thi xem ai khỏe nhé!

Cả đám trai cuốn Giàng Tả vào cuộc. Hóa ra là những dù trắng thả súng đạn tập trung ở dưới chân đồn cả. Một đống to những hòm đạn xanh, những khẩu cối 60, 81 còn nhoáng dầu mỡ. Giờ mọi người thi nhau vác lên đồn.

Giàng Tả đã làm là quên hết, kể cả mình. Ly Si Gơ và thằng xã đội trưởng làm phản đứng ở cạnh đống súng đạn, chia đồ thồ cho mọi người. Mỗi người một bó súng trường, hai người một hòm đạn trung liên. Đến lượt, Tả đeo cái áo móc bện áp lưng tới, bọn đứng xung quanh Gơ nhìn Tả cười rũ ra, ý chê Tả cổ lỗ. Gơ tươi hơn hớn:

– Nào, xem ai ăn ai! Giàng Tả, một hòm đạn được không? Tả ghé vai:

– Thử cái đã!

Gơ và xã đội trưởng phản bội, bốn tay nâng cái hòm đạn gần trăm cân pập lên lưng Tả. Sợi dây da Tả đã kéo lên đầu, nhưng vòng còn hở.

– Thêm được nữa không?

– Cho một bó súng nữa.

– Ừ, có thế chứ. Chưa bằng một phuy xăng ngày trước đâu!

– Thế đã!

Tả thoăn thoắt leo dốc. Lát sau đi xuống, mặt đỏ rau rảu như miếng trầu, mũi phập phà phập phồng, căng căng nở. Gơ hỏi: Mệt chưa?, Tả hất hàm, không trả lời vào câu Gơ hỏi:

– Một phuy xăng bằng bao nhiêu?

– Bằng hai hòm đạn. Thử nhé?

Tả không nói, chỉ hầm hừ, ghé lưng vào. Hai hòm đạn bị nhấc bổng lên lưng Tả. Tả đi, dáng nhẹ tênh tênh. Năm chuyến thồ như thế, sức Tả vẫn chưa cạn. Chuyến thứ sáu, đang leo dốc bỗng thấy cái bóng trước mình đang đi chắm chúi lao đầu về phía trước rồi chệnh choạng, mãi mới bấu được tay vào tảng đá ven đường. Tả liền hạ hai hòm đạn, chạy lại đỡ người nọ. Thấy bó súng vẫn trên lưng anh ta, Tả liền đưa tay nhấc lên, đặt xuống đất. Thì vừa lúc có tiếng quát. Quay lại, Tả thấy một thằng biệt kích lạ mặt đang đứng, chân đặt lên hòm đạn Tả vừa để trên đất. Thằng này mặt choắt, mắt đỏ như ong đỏ mắt. Nó nhìn Tả chằng chằng:

– Việc của trâu trâu mang, việc của ngựa ngựa thồ, ai khiến mày, hả?

Tả đi lại, bất đồ vươn tay tóm cổ tay thằng nọ giật mạnh.

Thằng nọ vằng tay lại không được, la to:

– Mày làm cái gì thế?

– Đây là hòm đạn của mày.. Tả chỉ một hòm đạn, tay bóp mạnh cổ tay tên biệt kích chuyên nghiệp.. Còn hòm này phần tao. Mày thấp vai xuống tao đặt lên hộ.

– Bỏ tao ra!

– Mày muốn gãy tay thì giãy.

– Ôi giời! Mày có muốn ăn kẹo đồng của ông Gơ không?

– Dọa tao hở? đ mẹ, tao không phải nhờ chúng mày mới sống được nhé!

Gơ đã theo dõi câu chuyện, giờ mới bước ra khỏi bụi rậm, vẫy tên biệt kích lại, rồi chống tay hất hàm:

– Mày học thói quan cách khinh rẻ người anh em Hà Nhì tao bao giờ thế?

Tên biệt kích chưa kịp đáp, mặt đã tối sầm vì hai cái tát bạt má của Gơ. Tiếp đó, Gơ cho nó một cái đá kèm theo một lời dạy:

– Nhớ đến già hai chữ bình đẳng, con nhé!

Tên biệt kích lồm cồm bò dậy, đi tới ôm hòm đạn xốc lên vai. Còn một hòm Tả cúi xuống định vác nốt, Gơ đã giơ tay ngăn lại:

– Thôi, hôm nay làm thế là đủ tỏ rõ sức trai tráng nam nhi của ta rồi.

Tả gạt tay Gơ, cắp hòm đạn vào nách, đi. Gơ đuổi theo, lẵng nhẵng đi bên cạnh:

– Tả này, càng ngày tôi càng quý anh đấy.

– Hừ…

– Tôi muốn anh làm phó quan cho tôi.

Tả dừng bước, quay lại, mắt mở tròn như mắt hổ:

– Còn nhớ cái lúc Tây định bắt tôi vào lính không? Làm lính tôi còn không muốn thì làm quan tôi thích à?

Gơ vội cười dàn hòa:

– À, thế thì ta hiểu nhau rồi! Giàng Tả ơi, anh thích thế nào cứ sống như thế, chỉ cần anh đi cùng với tôi thôi.

Tả gật khậc cái đầu, rồi phăm phăm bước.

Không phải là Giàng Tả không có chút động lòng nào trước sự săn sóc riêng biệt của Ly Si Gơ. Gơ tinh quái hiểu rõ Tả lắm đấy. Tả hiện là anh khổng lồ, xù xì, mộc mạc, nếu Gơ đẽo gọt khéo thì Tả có thể trở thành ông Hộ Pháp, ông thần ác cầm búa rìu hoặc thanh long đao trấn ngự nơi cửa đền, cửa miếu đấy. Tả rất thích hai chữ bình đẳng Gơ nói ra, phục cả cái việc Gơ tát tên biệt kích. Mấy hôm sau, nghe nói sở dĩ hồi đó Tả bỏ Gơ, vì Gơ đã bỏ chết người thợ xây ngã từ trên lô cốt xuống, Gơ lập tức hạ mình xin lỗi Tả, rồi còn định làm lễ kết nghĩa anh em với Tả. Tả chưa nghe, gạt đi. Tuy vậy, từ đó họ đi đâu cũng có nhau.

Một sớm trở dậy. Tả như thường lệ định đi vác nước thì Gơ ngồi ngay trên mình ngựa đứng ở ngoài sân, cất tiếng gọi. Chạy ra, thấy bọn lính đã như con rắn tuồn ra khỏi đồn, nghe Gơ giục, Tả vội cầm sợi dây da trâu đi theo liền.

Hóa ra quan và lính Gơ kéo nhau xuống vùng chân núi Tả Van. Đáng để mắt là cả dân chúng làng Lao Chải cũng đi theo. Ai cũng vác dao, cầm gậy và lưng thồ cái địu vừa to vừa dài, dây vắt qua trán. Đi đâu thế? Vừa chạy theo ngựa của Gơ, Tả vừa thắc mắc, nhưng thấy không tiện hỏi nên định mở miệng lại thôi. Cho tới khi nghe thấy tiếng tre nứa cháy nổ lốp bốp như pháo và khói đen phun mờ mịt trời, Tả mới châng hẩng. Thì ra quân lính Gơ và người Lao Chải rủ nhau đi cướp làng người Giáy ở dưới vùng thấp.

Nhà người Giáy rộng thênh, lợp lá chít. Mười cái nhà cháy đã bằng cả khu rừng cháy rồi. Tả đứng ở giữa làng, bốn bề đỏ rực, người nóng như ở cạnh lò, bứt rứt quá. Chỗ này chỗ kia, nhìn phải nhìn trái đều là cảnh cướp giật, đuổi bắt. Nghe thấy tiếng kêu của một người phụ nữ ở căn nhà cạnh mình, Tả liền chạy vào. Gian giữa căn nhà gạo thóc ngô đổ tung tóe. Ba, bốn con gà bị đập chết nằm sấp cánh trên nền nhà. Ở đằng sau bàn thờ là cái buồng. Từ đó phát ra tiếng người thở hổn hển như đang vật lộn. Tả chạy vào, vừa thò đầu lại rụt ra khỏi căn buồng. Đểu quá! Cái thằng biệt kích, chính cái thằng đã hoạnh họe Tả hôm rồi, không những ăn cướp thóc gạo, gà qué của người ta, nó còn đang đè một người phụ nữ Giáy ở trên sạp. Chị này chống cự, tóc tai tung tóe, nhưng cái áo màu hoa sen, cổ đáp manh vải trắng tròn tròn đã bị xé toang ở phần ngực rồi. Khốn nạn! Tả không có gan mở mắt mà nhìn cảnh tượng bức hiếp bẩn thỉu ấy nữa. Tả nhắm mắt chạy ập vào và vung cái dây da trâu quật túi bụi vào cái thằng đang làm nhục người đàn bà.

Tới lúc thấy cái bóng thằng đàn ông tuông ra cửa buồng, Tả mới vứt tạch cái dây da trâu, đâm ra sân. Tả va đánh bịch vào một vật gì đó. Vật đó cũng phát ra lẫn cả tiếng người và tiếng lợn. Lợn kêu éc và người giật lên: Ơ kìa, Tả!

Tả nhận ra ngay là xã đội trưởng làm phản, vì y đen trũi và hai con mắt trắng dã. Hai con mắt này rất hay nhìn trộm, trông đã thấy ghét, vì có cảm giác nó luôn rình mò mình.

– Thồ con này về!. Xã đội trưởng làm phản chỉ con lợn hét. Tả lừ mắt thành hai gạch chì đen rất đậm:

– Con nào?

– Con lợn này.

– Làm gì?

– Ơ, cái thằng này.

Tả cầm cái chân sau con lợn, giật. Tay thằng nọ như hai gọng kìm giữ rịt con vật nó vừa cướp được. Vùng vằng, nó lui ra, nhổ bọt vào Tả. Cáu tiết, Tả đạp vào hạ bộ nó, nó kêu ối, chịu buông tay. Con lợn tụt xuống đất, kêu hồng hộc, chạy tháo thân.

– Mẹ mày, cả đời ta đói khổ, cực nhọc nhưng tay làm từng nào ăn từng ấy, chưa biết ăn bớt của ai một hào, một miếng thịt, một miếng cơm nhé!

Tả nghiến răng, quay đi. Nhưng xã đội trưởng phản bội giương súng quát:

– Giàng Tả, chân mày không nhanh bằng viên đạn bay đâu! Tả quay lại, phanh bộ ngực rắn như đồng, như sắt, quát:

– Mày bắn đi! Viên đạn vào ngực tao bật trở lại, đập trúng hai con mắt mày, cho mày đui mù đấy!

Ly Si Gơ như thần, như thánh xuất hiện cứu nguy rất đúng lúc. Tưởng Gơ lại cho tên định giết Tả hai cái tát, một cú đá. Nhưng không phải, lần này Gơ cười hơ hớ:

– Nhị vị hảo hán đều đáng mặt anh hùng cái thế!

Lần này, Tả không dừng lại để Gơ đi cùng và tâm sự. Anh quay phắt đi, với cái áo phanh ngực, đầu lao về phía trước, ra khỏi đám cướp làng.

Giàng Tả có chân, chẳng ai cấm được Giàng Tả đi. Giàng Tả có đôi tay, có sức lực, có trí khôn, Giàng Tả không sợ đói.

Tháng Mười, những nương lúa lẫn trong rừng già như cái thảm vàng ai phơi để quên. Hương lúa gọi chim cu ở vùng thấp, vùng cao về. Vùng giữa, vùng người Dao cũng là lúc vào mùa thảo quả. Công việc quay như bánh xe cọn nước. Giàng Tả đi hái thảo quả thuê, đi cắt lúa thuê cho người Dao. Nương lúa người Dao nào cũng có cái lều canh nương dựng chênh vênh sườn dốc. Ngày đi làm, đêm Giàng Tả ngủ luôn ở đó. Ngủ ở đó mũi hít thở làn không khí thơm mùi thảo quả, thơm mùi lúa. Tịnh không còn ngửi thấy mùi súng đạn, xăng dầu. Xa hẳn cảnh người với người chỉ muốn hạch sách, quát nạt, hạ nhục, giết hại, cướp bóc nhau.

Nhưng một sớm vừa mở mắt, Giàng Tả liền nhìn thấy ba, bốn cái mặt lạ vây quanh. Ngồi dậy, tụt lui vào góc lều, anh kêu thảng thốt:

– Thằng Gơ, mày cho người đi bắt tao à?

Một người cao tuổi nhất, mặt vuông, da màu gạch già, hỏi bằng tiếng Quan:

– Thằng Ly Si Gơ trùm phỉ có phải không?

– Tôi không biết! Chỉ thấy nó nói chuyện với người Trời trên tàu bay. Nó đeo lon. Nó chỉ huy tất cả.

Người nọ nói tiếp, như tự giới thiệu:

– Chúng tôi thuộc bộ phận an ninh của tỉnh, không phải là người của Ly Si Gơ.

Định nói nữa thì người trẻ nhất, mắt một mí, gò má cao, mũi khoằm, đặc người Mông, bấu vào tay, ra hiệu im, rồi ghé tai nói thì thầm gì đó. Người cao tuổi nhìn Tả, ánh mắt đang bình dị, tự nhiên bỗng ra chiều nghi ngại:

– Anh là quân của nó, bây giờ bỏ trốn, hả?

– Không phải là quân của nó!

– Đừng chối.. Người Mông trẻ xua tay.. Tôi biết hết rồi! Từ hồi anh được Tây De Nive thưởng chai sâm banh vì thồ được cả phuy xăng. Rồi theo Ly Si Gơ, anh thồ được cả hai hòm đạn, một bó súng kia.

– Ối trời!

Giàng Tả ngửa mặt kêu, hai tay ôm đầu vừa đau đớn vì oan uổng, vừa kinh hoàng vì người nọ biết kỹ quá. Người nọ lại lem lém như con ma xó nói tiếp. Càng nói càng tỉ mỉ. Càng tỏ ra là biết lại càng tỏ ra là không biết. Nghĩa rằng là biết không thấu đáo còn tệ hơn là không biết.

Giàng Tả chỉ còn cách là im. Miệng đâu mà cãi được họ.

Làm sao mà cãi xuể họ.

Người cao tuổi nghe người Mông trẻ kể tội Giàng Tả xong, đứng dậy, đặt tay lên sườn, thở một hơi dài đầy vẻ áy náy:

– Anh bỏ Ly Si Gơ là được rồi. Chúng tôi không làm hại anh đâu. Có điều là mong anh giúp thành thật.

– Đừng có vờ vĩnh làm gián điệp cho nó!. Người Mông trẻ lừ mắt đế thêm.

Giàng Tả lắc đầu, cố nén tức giận:

– Đã căm ghét nó, sao tôi làm gián điệp cho nó?

– Biết đâu đấy! Dao hai lưỡi mà.

– Đừng nói vậy!. Người cao tuổi kéo tay người Mông ra sau, nhìn Giàng Tả, vẫn chưa hết áy náy.. Anh như thế là có tội. Sau này thế nào cũng cần có thời gian học tập cải tạo. Còn bây giờ, anh có muốn lập công chuộc tội không?

Giàng Tả bật dậy kêu:

– Có! Có!

Sau ngày Y Tí giải phóng, Giàng Tả cũng như tên xã đội trưởng phản bội bị gọi đến tập trung cải tạo trong trại cải tạo những kẻ lầm đường theo giặc. Ở trại này họ được học đường lối chính sách của Đảng, được khai báo và tố cáo tội ác của đế quốc, thổ ty. Chẳng ai bị đánh đập, truy bức. Nhưng ai thành khẩn và nhanh chóng giác ngộ, tố cáo được nhiều tội của trùm phỉ Ly Si Gơ thì được tuyên dương và được sớm về với gia đình, bản quê.

Cuối cùng, người được thả sau chót không phải là tên xã đội trưởng phản trắc mà lại là anh chàng khỏe như vâm chuyên đi làm thuê, bụng dạ thật thà, nhân hậu, ngay thẳng, tên gọi là Giàng Tả. Tả không biết nói. Cứ kề cà kể lể từng chi tiết câu chuyện; từ việc anh đi làm thuê, việc Ly Si Gơ tát tên biệt kích, tới việc một mình thồ cả một khẩu cối 80, cả nòng lẫn bệ, vốn phải bốn người khiêng, cho bộ đội ta và dẫn đường cho các chiến sĩ công an của tỉnh mò vào tận đồn phỉ Ly Si Gơ trinh sát. Người thẩm vấn nghe những đoạn đó, chỉ ngáp. Rồi gõ gõ tay xuống bàn, gắt:

– Anh lan man thế làm gì? Tôi hỏi anh: Đế quốc, thổ ty âm mưu gây phỉ là do nó yếu hay nó mạnh? Tôi hỏi anh: Trước âm mưu độc ác của đế quốc, thổ ty, anh cần phải tỉnh táo thế nào cơ mà? Anh suy nghĩ và nói cho thành khẩn.

Bây giờ thì Giàng Tả đã về bản quê Lao Chải. Mấy chục năm đã qua, Giàng Tả đã là ông già gần bảy mươi tuổi rồi. Ông chẳng còn đi lang thang bán sức kiếm ăn nữa. Tuy vậy ai trong làng thuê ông bổ củi, đắp đường, đóng móng ngựa, phát nương, ông vẫn làm. Ông đã lấy vợ, nhưng không có con. Đời thấy rằng một sức vóc phi thường mà lại hồn nhiên như vậy thì dễ trở thành tai họa lắm hay sao nên không muốn có người nối tiếp? Ông cũng hay ra hội quán chơi nhưng chẳng nói một câu nào về quãng đời đã qua. Vì có lẽ cũng chẳng nghĩ ngợi gì về nó cả.

Tôi có gặp ông ở trại cải tạo nọ. Gần ba chục năm sau tôi mới lại gặp ông. Cũng là tình cờ. Ở bãi chơi đầu bản Lao Chải hôm ấy có cuộc chơi tập thể của học trò. Trẻ lớn thì chơi đu dây. Trẻ nhỏ thì ngồi bập bênh. Bập bênh ở đây không phải là một tấm ván nhỏ bằng mặt cái ghế băng. Bập bênh là cả cây gỗ sa mu dài, mỗi bên ngồi gần chục đứa trẻ. Hai bên đang rập rình thì cô giáo người Kinh bất thình lình kêu: Dừng lại! Cái trụ ở giữa bập bênh bị mối mọt từ lúc nào, có nguy cơ sắp đổ gãy, và nếu như vậy, gần hai chục trẻ em chí ít cũng sứt đầu, mẻ trán, gãy chân, què tay. Đúng lúc nguy hiểm ấy, tôi thấy một ông già từ hàng cọ lùn viền quanh bãi chơi chạy vào. Ông cao lớn, tóc tiêu muối, đầu cổ thẳng liền một khối, chân tay đen sắt, lưng hơi gù nhưng cử chỉ còn nhanh nhẹn lắm. Nhanh như cắt, ông chùn người xuống bằng cây cọc trụ và dùng vai đỡ cây bập bênh lên đúng cái lúc nghe thấy cây cọc trụ kêu rắc một tiếng và bắn ra một làn bụi mọt vàng khè. Thế là gần hai chục đứa trẻ ngồi trên vai ông, chúng không hay biết là vừa thoát khỏi một tai nạn, chúng tưởng ông biểu diễn sức lực và vỗ tay hoan hô ông.

Sự kiện gây chấn động âm thầm lòng tôi. Buổi tối, tôi khơi lại chuyện này và hỏi thêm về ông. Chủ tịch xã Lao Chải, một gã trai Hà Nhì vai xo ro, mặt đầy mụn trứng cá, chíp chíp đôi môi ướt nháng rượu, rồi lè nhè:

– Lão Giàng Tả đấy mà! Thẩm lẩm, thâm hiểm lắm! Không phải là đầu sỏ phỉ, chỉ là phỉ viên nhưng cúc cung tận tụy với chủ nó lắm. Lão đã từng được Tây đồn thưởng mề đay vì có công thồ cả một phuy xăng và đạn, súng cho chúng đấy. Lão này gớm lắm! Chẳng sợ một ai đâu. Ly Si Gơ coi cũng chẳng ra gì! Gan, ngoan cố lắm!

Tôi thở một hơi dài não nuột. Mới đây với đấy thôi mà rượu sâm banh cũng đã thành mề đay. Cái đáng biết lại không biết. Cái không nên quên lại quên. Lịch sử thế là mất đi cái hồn nhiên của nó.

May cho tôi, tôi đã không đến nỗi quá buồn vì gã trai chủ tịch trẻ nọ chẹp miệng nói tiếp:

– Lão này được cái khỏe. Khỏe thì người Hà Nhì tôi không hiếm người khỏe. Nhưng khỏe mà hay làm việc thiện như lão thì không nhiều, lúc nào rỗi tôi sẽ kể anh nghe, chính một mình lão chặt, vác đủ gỗ từ rừng về để dựng trường học và làm cái cửa hàng hợp tác xã mua bán đấy…

4/1986

 Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương GIÀNG TẢ, KẺ LANG THANG. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

Chú thích 1. Cap Saint Jacques, Vũng Tàu.