Ông lão đẩn gộc củi vào bếp, ngửng lên, nhìn tôi, hấp háy hai con mắt đỏ kè. Gió quá! Đống lửa sưởi bị gió thốc, tung bụi tro. Gió quá! Mà thứ gió mùa lạnh ở thung lũng này mới quái ác làm sao. Đột ngột ngừng phắt rồi bất thần quất lồng lên, tham lam vô độ, nó vặn cây, nó đu đẩy mái lều, rồi oà oà như một dòng suối xiết chảy, chốc chốc tạt mạnh một luồng qua đồng cỏ, đè bẹp xuống cả thảm cỏ đang tai tái như thể dưa muối dở.
Rõ ràng là ông già rét. Chống lại cái gió hung tợn ấy, ông chỉ mặc một cái áo trấn thủ cũ, bông đã lòi ra xám xỉn ở các ô quả trám và đôi giày vải buộc dây gai của ông đã rách mũi, thòi cả một phần ngón chân cái ra ngoài. Nhưng ông lão thì gần như chẳng để ý gì đến mình, cứ nghển cổ lên, cặp mắt già chăm chăm nhìn về phía đồng cỏ, như ngóng đợi một cái gì.
– Ở đây rét quá, cụ Dư nhỉ., Tôi hỏi.
Ông lão vẫn không quay lại:
– Ờ, ở đây rét hơn nông trường bộ hai độ. Cao mà, đã thế lại xa nhất, vắng nhất. Có ma nào muốn đến đây đâu.
Ông lão thở một hơi dài, đứng dậy, với khẩu súng CKC treo ở cột lều:
– Ở đây chỉ rặt bò Nghệ thôi. Dưới nông trường bộ mới nuôi bò sữa. Dưới ấy người ta trồng cỏ Pănggôla, Bécmuđa. Trên này thì chỉ rặt cỏ trời. Chà, trăm thứ chuyện, chỉ là do không có cỏ.
Quàng khẩu súng CKC vào vai, ông lão bước ra cửa rồi còn ngoảnh lại:
– Chú ở nhà, hỉ! Tôi đi dồn bò. Mùa ni hắn hay lạc lắm.
Tôi nhỏm dậy:
– Cụ mặc cái áo bông của tôi cho đỡ rét.
Ông lão khoát tay, nói: Tôi cũng có chớ, nhưng mặc vô vướng lắm Và đi. Buổi trưa, nắng long lanh, sáng mà không chói. Đồng cỏ trải ra trước mắt tôi một khoảng xa vời, rồi mất hút ở chân một vệt núi nhấp nhô. Đối với tôi, khoảng rộng xanh cỏ ấy thật lạ mắt. Tôi mới từ miền Nam giải phóng ra đây. Chuyện thật tình cờ. Chúng tôi đóng quân trong một làng ở huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Chủ ngôi nhà tôi ở là một phụ nữ năm mươi tuổi. Chị là chủ tịch xã, là huyện uỷ viên. Hỏi chuyện chồng con, chị không nói. Mãi tới hôm tôi sắp ra Bắc, chị mới thở dài, bâng quơ. Chi mà đến tận giờ, ông lão nhà tôi vẫn chưa về… Tôi hỏi chuyện. Và khi đã thân tình, chị mới cho tôi biết địa chỉ của người chồng, nhờ tôi thế nào cũng đến tận nơi nói với ông ấy một câu: Cứ yên tâm công tác, khi mô rảnh, về cho con nó đỡ nhớ. Chị có hai con đều đi Giải phóng.
Ông cụ Dư là chồng chị chủ tịch ấy. Hơn hai mươi năm, kể từ lúc còn ở tuổi trung niên, người chiến sĩ của trung đoàn X ấy, làm lễ hạ sao thành nông trường viên, đến bây giờ lên lão, vẫn một việc: chăn bò. Hơn hai mươi năm vẫn một lòng chung thủy với vợ. Khi tôi tới nơi, kể chuyện cho ông lão nghe về làng quê, vợ con ông, ông ngồi ôm gối, rồi lặng lẽ hai con mắt già nhòe nhoẹt nước mắt. Ông cúi xuống, gật gật, cố giấu xúc động và thì thào như lời tự bạch Ờ… ờ, khi đi chúng còn bé quá… ờ ờ, má nó nói đúng đó: Khi mô rảnh….
Ông lão giữ tôi ở lại chơi. Ông nói: Chú chờ tôi cùng ra tỉnh nhé, nhờ chú vẽ đường cho, rồi chú mua hộ tôi một cái vé… Hôm sau ông nói tiếp: Chú chờ tôi ít ngày nữa thôi. Có người ở nông trường bộ lên thay là tôi đi, tôi nhờ chú chỉ đường.
Hai ngày trôi qua, vẫn chưa có ai lên trông bò thay cho ông lão Dư. Và ngày ngày, ông lão vẫn một mình một bóng, với khẩu súng đeo vai, xông pha trong đồng cỏ mênh mang.
Hẳn là mùa xuân, đồng cỏ biếc xanh, đầm ấm như gương mặt tuổi trẻ. Còn bây giờ thì đồng cỏ trơ trống đến ghê người. Cỏ đã cằn khô, ngọn gầy xơ, ngắn chùn chũn. Đất hở những khoảng dài. Gương mặt cỏ già lão, càng thảm hại vì đó đây loang lổ những vệt gỉ sắt như vệt hắc lào, đó là nơi sương muối vừa đậu xuống, thứ sương độc, diệt chết các loại cây cỏ.
Bốn giờ chiều, đồng cỏ đã mờ tối. Gió từ các thung lũng xa ồ ra. Vạt rừng già ở cạnh lều ông lão Dư rũ lá ào ào. Cái lều của ông lão như bị ai trêu chọc, thỉnh thoảng lại giật đùng đùng, cột kèo lại rên lên cọt kẹt một hồi dài. Gió đang hớt đi chút màu xanh còn sót lại trên đồng cỏ gầy. Và cảm giác cô liêu chỉ một thoáng đã thấm nhiễm lòng tôi.
Vậy mà lòng tôi chợt ấm lại. Không gian như vừa có một ngọn lửa hồi sinh nhóm lên. Đàn bò đã về, chân chạy rậm rịch, và tiếng con bò kêu ò ò bình thường, giờ sao thấy vừa vang xa, vừa đằm lại biết bao là thương nhớ thiết tha.
– Bò về đủ chứ, bác? – Tôi hỏi khi ông lão Dư trở lại lều, xòe hai bàn tay nứt nẻ trên ngọn lửa sưởi mới gây lại.
Ông lão gật đầu:
– Đủ, có hai con lên tận ngọn núi ăn, phải đi tìm mãi mới thấy.
– Sao bác không cho chúng đeo chuông, đeo mõ, có phải dễ tìm hơn không?
– Đeo để chết à!, Ông lão tròn mắt, Chà, dại ngờ dại nghệch là con bò. Thiếu cỏ, nó nghểnh lên ăn lá cây, kéo cả ngọn cây xuống bứt, bất đồ dây đeo chuông mắc vào một cái cành. Ôi thôi, thế là khi cái cây bật lên, nó kéo cả cổ con bò lên. Một bận tôi đi tìm một con, tới nơi thì nó đã suýt chết nghẹt.
Hà một hơi dài, tưởng như chính mình vừa thoát khỏi tai nạn, ông lão tiếp:
– Dà… Mùa hạ, nhiều cỏ, nó đi ăn mải mê quên cả về. Nước ngập tới bụng, phải lội đi tìm nó, vất vả, nhưng mà thích lắm. Trông đàn bò no nê, sởn sơ, mượt mà, ai mà không sướng. Ác hại nhất là cái ảnh trời rét, chú ạ. Rét, cỏ chết tối thui từng vùng. Con bò ra khỏi chuồng, đi, thấy chỗ nào xanh xanh là nhao cả bầy tới. Đành phải đưa nó đến những thung xa, rậm; nhưng ở đấy hùm beo sẵn lắm. Chà! Mùa đông cỏ hiếm hoi, thấy cỏ ở trên núi cao thế nào nó cũng leo. Ở trên núi, có những khoảng rừng ẩm, cỏ tốt bời bời. Con bò cũng như người, chú ạ. Nó cũng có bạn bè vui vầy. Như là cái ả 85 là chúa hay đi với ả 13. Một bận hai ả leo lên núi Bản Muốn. Tôi đi tìm, nửa đêm lên tới nơi, thì ra hai ả ăn ham quá, đến lúc trời tối không còn xuống được nữa; dốc núi trơn mà đá lại xô, lở, các ả sợ. Đêm ấy, tôi ở lại trông hai ả, tuyết xuống trắng xóa cả vai tôi.
– Có sao không, bác?, Tôi buột miệng.
Ông lão lắc đầu:
– Mô có việc chi. Đầu bò, lưng bò chốc chốc lại phủ đầy tuyết, lại phải phủi cho hắn. Tới sáng, tôi tìm đường, đưa hai ả xuống. Nhưng hai ả cứ ríu chân lại, không có chịu đi. Tôi mới quát: A! Các con lại muốn đi ăn mảnh à! Vừa quát xong thì nghe thấy đánh roạt một cái ở bụi bên cạnh, mùi tanh xộc vào mũi. Tôi cầm cái gậy lao vút vào bụi cây.
– Con gì, bác? Sơn dương? Hay là hùm?
– Sơn dương ở đây sẵn lắm. Hắn đi trên núi đá lộc cộc, nghe rõ mồn một. Hùm cũng có. Nhưng bầy đàn của tôi hai mươi năm nay không có mất một con. Tôi nhận mỗi năm tám mươi con, mỗi con quân bình bảy mươi nhăm ký. Một năm rưỡi sau, tôi nộp lại cho ông giám đốc đủ 80 con, nhưng mỗi con nặng trung bình một trăm rưỡi ký. Hai mươi năm thì mười chín năm như thế. Chỉ có mỗi năm nay là năm vận hạn của tôi; một con bị sói ăn thịt, chú ạ.
Tôi khẽ rùng mình.
Đêm đã tràn ngập đồng cỏ. Gió kéo những vệt dài thẳng, thỉnh thoảng quật mình đổi chiều, căn lều lại rắc rắc như người già bẻ xương cốt.
Cơm nước xong, chúng tôi nằm trong ổ rơm. Tôi vừa định nhắc hỏi ông lão xem đã có người ở nông trường bộ lên thay chưa thì ông lão chồm dậy.
Hình như mưa! Tôi nghĩ, lắng nghe. Mưa thật. Mưa bạt trong gió. Lát sau, gió lặng, chỉ thỉnh thoảng phẩy nhẹ một cái qua mái lều và mưa bắt đầu rõ hạt.
– Chú cứ ngủ đi!, Ông lão Dư đeo khẩu súng vào vai, ra khỏi căn lều.
Ngoài khu chuồng bò có tiếng đóng lịch kịch. Một ngọn đuốc bừng cháy rồi lúc chìm lúc nổi trong màn mưa xa xa, lát sau chập chờn trong giấc ngủ thiêm thiếp của tôi. Nhưng tôi vừa chợp được một lát đã giật mình tỉnh giấc. Tay tôi bắt gặp đôi tay lạnh giá của ông lão đang lập chập sờ soạng phía đầu ổ rơm:
– Cái đèn pin đâu rồi? Đàn sói hắn về. Soi vết chân thấy hơn chục con, chú à. Đàn sói hắn về…
Nghe giọng nói run rẩy của ông lão thấy tất cả niềm kinh dị và lòng căm giận.
Đàn sói về thật rồi! Ấy là lúc đồng cỏ vắng sắc xanh. Rừng khô kiệt, không bông hoa, không trái quả. Đàn sói đã về. Việc ấy báo hiệu bằng những cơn mưa khan cuối đông, và sự vắng mặt của tất cả các loài thú trong rừng. Hươu, nai chạy xa. Cả đến con hùm cũng lảng đi nơi khác. Chúng cũng ngán đàn sói.
Gió đã mang hơi của đàn sói đến trước. Trong các giống dã thú bốn chân, thật là chẳng có con nào có tốc độ nhanh, có sức dai bền, mà tàn ác quỷ quyệt như con sói. Con sói tập trung tất cả các thói xấu ghê tởm nhất của thú rừng. Và lúc này, theo cảm giác của tôi thì người căm thù lũ chó sói nhất có lẽ không ai ngoài ông lão Dư, người chăn bò cô độc ở nơi này.
– Mẹ cha cái quân ăn chán mồm lấy rơm đút nút lỗ đít. Nói vô phép chú, thịt nó cũng có ra cái gì. Sôi lên là thành bọt hết. Mà hôi, hôi sì sì, Ông lão nhăn mặt, Không trách người ta gọi thằng Tây, thằng Mỹ là loài sói lang.
Ông lão dừng lời, rồi lúi húi trong góc lều tìm nắm giẻ và ít xương lợn. Lát sau, ông và tôi đem giẻ rách và xương lợn ra đồng cỏ. Để mỗi chỗ một đống nhỏ, rồi chúng tôi châm lửa đốt. Đó là cách xua đuổi chó sói theo kinh nghiệm cổ truyền của đồng bào Mường ở Bản Muôn.
Quay trở về lều, đang lau súng, ông lão đột ngột nhìn tôi:
– Này chú, chú có thấy mặt hai thằng con tôi không?
– Có ạ, Tôi đáp rụt rè, Một em giờ đã xuất ngũ.
– Năm nay tôi xấp xỉ sáu mươi sáu. Tính thời gian công tác thì có thể xin hưu được rồi. Nhưng hiềm nỗi đây xa quá, chẳng ai muốn lên thay. Có một chú trẻ tuổi ở đây được ba năm rồi cũng xin đi. Anh em yêu mến tôi. Lãnh đạo cũng có ý nể trọng tôi. Một lần, tôi đã được đề bạt làm đội trưởng rồi đấy. Nhưng tôi lại xin rút. Mình có tuổi rồi. Vả lại, tôi lên làm đội trưởng, thì ai sẽ thay tôi lên đây trông bò. Ông giám đốc hỏi tôi: Đội trưởng bác không nhận. Vậy tôi đưa bác về nông trường bộ làm phó phòng hành chính vậy! Tôi bảo: Thôi, ông ơi, tôi cám ơn lòng tốt của ông, nhưng tôi vốn ít văn hóa, vả lại tôi về thì lại rắc rối cái chuyện người lên thay. Bỏ thì phí cỏ. Mà người nào có lên đây thì các ông lại nay công tác tư tưởng, mai vận động giáo dục, vất vả ra. Nông trường đang thời kỳ xây dựng, việc vốn đã bộn rồi. Huống hồ, bây giờ ở trong Nam, hồi ấy chưa hòa bình, chú ạ, vợ tôi, con tôi đang đổ máu, hy sinh kia kìa, tôi nỡ lòng nào lại tìm nơi an nhàn. Chú thấy tôi nói thế có phải không?
Tôi gật đầu. Ông lão đặt khẩu súng ngang đùi, cầm cái giẻ cắm cúi lau, rồi bỗng ngẩng lên, giọng lạc hẳn đi, khan khan, khê đặc:
– Thế mà có kẻ nó lại bảo tôi cố tình xin ở lại đây để làm việc ám muội, chú à. Chú ơi, đời sao còn có kẻ độc bụng, chỉ tìm cách gán cái xấu xa cho kẻ khác? Hừ, mùa đông năm nay, tôi mà không diệt được một con sói thì tôi quyết xin về hưu đấy. Chú xem thằng con thứ của tôi có thể cho nó ra đây thế chân tôi được không? Nhưng mà thôi, chuyện ấy tính sau. Còn bây giờ chú ở lại đây thêm vài ngày nữa , rồi chờ tôi cùng đi nhé!
Lòng ông lão đang có uẩn khúc. Tôi nghĩ và lặng yên suy đoán.
Còn bây giờ, chú ở lại đây thêm vài ngày nữa, rồi chờ tôi cùng đi nhé. Một lần nữa ông lão Dư lại nằn nì vậy với tôi. Chờ ông lão thêm vài ngày nữa để làm gì? Để cùng ông đưa bò đi chăn nhờ đồng cỏ của hợp tác xã Bản Muốn? Để cặm cụi bòn mót từng nắm cỏ cho bò ăn đêm vào những ngày mùa đông tháng giá cỏ cằn khô này ? Để cùng ông địu cái bề đi lấy nụ sim, búp ổi về chữa bệnh ỉa chảy cho bò? Đàn bò tám mươi con, thiếu cỏ, chúng tản mát trong thung, trong khe. Con ăn hỗn, con ăn mảnh, con hay chạy láo táo. Trông nom, dồn nó về, nguyên việc ấy cũng đã là quá vất vả. Công việc phải hai người mà chỉ có mình ông.
Tuy vậy, ở với ông lão đến hôm nay là vừa đúng một tuần, thì tôi biết mình nhầm. Vì chiều hôm ấy, đàn sói thình lình trở về. Chúng tôi đang dồn bò vào chuồng thì roạt roạt, nhìn lên đã thấy hơn chục con sói trắng trắng vàng vàng, mõm đen sì, vụt chéo qua sát đàn bò như một luồng gió xám. Và đàn bò lập tức chạy toé ra bốn phía như gặp cơn lốc xoáy.
– Bọn sói đến kia kìa! Nghe tôi la hoảng, ông lão Dư đứng yên, lăm lăm cái gậy trong tay, mặt bỗng bừng sáng nhưng đầu gật gật thật bình tĩnh :, Hắn chưa dám đến giờ này đâu. Ông lão nói : Bọn này quỷ quyệt lắm. Nhìn mặt ông lão, giờ thì tôi hiểu, ông lão đang chờ đàn sói về! Ông lão bảo tôi ở lại là có ý chờ đàn sói về!
Quả nhiên, vụt qua đồng cỏ một thoáng, bọn sói đã mất biến ngay về phía thung lũng. Nhìn theo bóng chúng, như để nhận mặt địch thủ, ông lão giơ nắm đấm, gầm ghè: Tao cho bọn mi nợ đó.
Chúng tôi dồn bò. Lúc đóng các then chuồng, tôi nhắc ông lão về lấy súng, ông lão lắc đầu. Lát sau ông lão lừ lừ đi về. Được một lát, ông quay lại nhìn tôi, đôi mắt chứa chan niềm tâm sự. Không! Ông lão chưa nói. Phải đến lúc ăn cơm, ông lão mới bỗng dưng bỏ đũa bát xuống mâm, nhìn tôi, ánh mắt đỏ khé hé lộ niềm tin cậy.
– Chú ơi! Cả đời tôi, không con thú nào tôi ghét bằng con sói. Hắn hại đời tôi. Năm ngoái, mùa đông ở đây có tuyết, lừa lúc tôi sơ ý, hắn tới, hắn bắt một con nghé đòng đòng của tôi. Hắn ăn hết trơn. Mà sao răng móng hắn sắc bén quá. Hắn lọc thịt con nghé như ta lấy dao lọc vậy. Thịt hết sạch. Xương còn nguyên một đống. Ông đội trưởng của tôi lên, xếp xương lại, vẫn còn đủ hình con nghé. Rồi bĩu môi, buông một câu: Sói nào ăn thịt nghé mà gọn ghẽ thế này! Ối giời!
Thốt hai tiếng than lạnh toát xong, mắt ông lão bỗng quắc lên, ông với khẩu súng, đứng dậy.
– Bác ăn cơm đi đã.
– Không! Tôi phải diệt được bọn hắn. Hắn xảo lắm!
Ông lão bỏ dở bữa cơm.
Tiếc thay, đêm ấy đàn sói không về . Hai hôm sau, cũng chẳng thấy tăm hơi chúng đâu. Ngày thứ ba, ông lão đặt bẫy một nửa cỗ lòng lợn để giữa thung, đào hố chui xuống, giương súng rình. Nhưng bọn sói chỉ băng qua qua, rồi mất biến. Ông lão vào Bản Muốn hỏi thì dân làng bảo chúng vừa định bắt dê, bắt lợn của họ, nhưng không được, giờ có lẽ chúng về hang rồi.
Không! Thế nào thì bọn sói cũng trở lại. Từ Bản Muốn trở về, ông lão Dư bảo tôi vậy. Và nói thêm: Vì chúng đói lắm rồi. Hơn nữa, chúng còn nợ tôi, chú à.
Quả nhiên, sáng hôm sau, tôi còn đang mơ màng thì đã thấy tiếng ông lão gọi giật:
– Chú ơi! Dậy dậy! Đàn sói về rồi!
Tôi bật dậy, xách cái gậy chạy ra. Ông lão vừa đuổi bò ra khỏi chuồng, đứng ở trên cái vuông cỏ trước cửa chuồng, vẫy tay tôi:
– Bò vừa ra thì hắn đến. Nhưng giờ hắn đang le lên rừng nứa. Lát nữa thế nào hắn cũng về đây. Chú đi với tôi!
Mặt trời mùa đông ở xa tít, chỉ thấy loa lóa sáng đục ở một khoảng mây trên đỉnh núi. Đồng cỏ trơ trụi, khô khấc những cọng già. Đất hở, trắng phếch từng khoang. Đàn bò đang lững thững đi. Thấy một vùng xanh cỏ là chúng nhao ngay đến.
Ông lão Dư, và tôi vừa cắt cỏ vừa phải để mắt tới đàn bò. Và chẳng cần chờ đợi lâu la gì. Đã lên cơn đói ngấu, không còn kiếm được cái gì ăn nữa rồi, nên mặc dầu đánh hơi thấy sự có mặt của chúng tôi, đàn sói vẫn cứ liều lĩnh từ trong rừng, xồ ra cả một bầy gần chục con và vây ngay lấy một con bò to nhất đám. Con bò to nhất đám bị lũ sói tấn công là một con bò đực, ông lão Dư vẫn gọi nó là anh cu Vẹo, vì có một cái sừng hơi vẹo lệch.
Anh cu Vẹo có máu lai nên cao lớn, lưng nổi một cái u, lang nâu lang đen, sừng không cân, nhưng nhọn, khỏe. Có lẽ vì cậy mình to lớn, nên anh cu Vẹo hay đi ăn mảnh. Lần này, anh ta vừa tìm được một đám cỏ non cạnh một vũng nước thì lũ sói ập tới.
Nghe tiếng đàn sói cắn nhanh nhách vui mừng, ông lão Dư và tôi vội vàng quay đầu khom người tiến tới. Gần đến nơi, chúng tôi ập xuống đất, bò.
Đàn sói hơn chục con chạy một vòng tròn quanh con bò. Toàn bọn sói ác, tai vểnh, chân cao nhóng, bụng hóp, lông vàng, răng nhe trắng ớn. Nhưng con bò rõ ràng cũng là một địch thủ lợi hại. Hế thấy một con sói nào chạy tới sát mình là nó quẫy, nó văng sừng đánh lại.
– Tiến sát vào nữa, chú.
Ông lão Dư giục, tôi theo ông lão nhổm dậy, tiến lên. Gần lắm rồi. Đã trông thấy đàn sói dạt ra vì một cái đánh đầu rất mạnh của anh cu Vẹo. Đúng lúc, đã trông thấy một con sói già nhất bọn , vừa từ một bụi cây vọt ra bám sát phía đuôi con bò.
– Bác Dư, bắn đi. Bắn cho nó dạt ra đi!
– Không!, Ông lão rít, Tiến sát nữa!
Chúng tôi ập tới sau một bụi ruối già.
Đang đuổi theo anh cu Vẹo, con sói già bỗng tăng tốc vọt lên, vòng qua trước mặt đối thủ. Và tôi nhìn thấy rất rõ cái chân trái phía sau hắn thình lình nhấc cao lên, trông rất thô bỉ và ngạo mạn. Hắn đái xung quanh rồi. Ông lão Dư thốt kêu. Quả nhiên, anh cu Vẹo của chúng tôi đang chạy bỗng sững lại, ngẩng đầu lên, ngúc ngoắc cái cổ, và gần như bị rối loạn phương hướng. Nước đái của con sói độc quá. Hơi nó xông lên cũng đủ hoa mắt con bò.
Tôi nổi gai hai cánh tay trần. Con bò đực rối trí lao đầu chạy, nhưng chuệnh choạng cứ như là sắp ngã. Và cuối cùng điều kinh sợ nhất đã xảy ra. Con sói già, hộc một tiếng kêu, nhún chân, nhảy phốc lên. Con bò ò lên một tiếng thất thanh, đầu quẫy mạnh, cuống cuồng đâm bổ sang ngang, và quay đầu chạy ngược lại. Đã bám chặt đuôi con bò, và từ trên tư thế đó, với những chiếc móng sắc lẻm như dao, hiển nhiên là con sói già sẽ bấu đít và thọc tay vào kéo ruột con bò ra. Tiếp đó, lũ sói con đang rượt đuổi hai bên con bò sẽ thừa cơ nhảy bổ tới, cắn xé con bò ra trăm mảnh ngay lập tức.
– Đoàng! Đoàng… oàng…
Tiếng súng của ông lão Dư vang trong thung, rền một hồi, rồi tan dần trên đồng cỏ.
Lát sau, trong đám sương dày đục, bóng ông lão Dư lần lần hiện ra. Súng khoác vai, tay ông kéo căng sợi dây buộc cổ con sói ác. Con sói già, tên hung thủ gian manh, quỷ quyệt, bị một phát đạn xuyên tim, chết ngay tại chỗ, giờ đang nhận nhục hình bị kéo lết qua đồng cỏ cằn.
– Ha ha… nó tưởng nó biện được của tôi một con bò nữa, Ông lão Dư cười nói oang oang.
Tôi mừng rỡ:
– Bác đưa cháu xách con sói cho.
– Hắn không đáng để xách. Để tôi kéo. Chú dắt hộ tôi anh cu Vẹo.
Bước dấn lên một đoạn, ông lão quay lại chỉ xác con sói, bảo tôi:
– Chú trông và làm chứng cho tôi. Ờ mà tôi cũng cần cho mọi người trông thấy cái móng vuốt của con sói hắn sắc thế nào. Cha! Hắn bám vào đuôi con bò mà lông đuôi nó trụi như bị dao cắt đó. Móng đã thế, răng hắn còn sắc đến đâu. Có thế hắn mới ăn thịt con nghé sạch như ta lấy dao lọc xương chớ!
Ngừng lại lấy hơi, ông lão chăn bò lại tiếp. giọng tràn ngập âm sắc hả hê:
– Chú ơi. Ba mươi năm theo cách mạng không bao giờ tôi để tư cách mình bị hoen ố. Tôi không có tiền bạc để lại cho con, tôi chỉ có lương tâm trong sạch làm của cải để lại cho chúng. Con nghé đòng đòng bị sói ăn, rõ ràng vậy mà có kẻ dám dựng đứng lên rằng là… Có ai mua được danh dự không, chú? Bây giờ… nào, chú đi với tôi. Rồi tôi sẽ báo cáo xin phép về quê. Giờ tôi mới đi phép được, chú à. Giờ mới có thể rảnh rỗi mà đi được, chú ơi…
Tôi đi theo ông lão Dư. Bóng ông lão đã cởi bỏ nỗi sầu muộn cứ rạp về đằng trước như bị gió thổi. Nào đâu có phải chỉ là muốn được minh oan với mọi người. Mà là ông lão đang làm cái việc thoạt xem ra là hơi lẩm cẩm: thanh minh với chính lương tâm của mình. Thành ra đi đấy mà thật ra chỉ là loanh quanh trên đồng cỏ. Tay kéo lê xác con sói hung dữ, loanh quanh trên trên đồng cỏ, ông lão vừa đi vừa nói cười hể hả vang vang. Có ai nghe thấy ông lão nói cười đâu, ngoài ông, tôi và cỏ. Cỏ cằn trong đêm cọ vào chân tôi loạt xoạt. Cỏ sẽ qua đông, tới mùa xuân thì xanh thắm. Cỏ đâu có khô khan, cằn cỗi, buồn tẻ ở chốn cô liêu này.
1977
.Đã in trong Tập TRUYỆN NGẮN Ngày hội phố phường. NHÀ XUẤT BẢN Kim Đồng. 2003