CHƯƠNG XVI


Nhận được điện thoại của Yên, Toàn vội rời khỏi O tròn, đi ngay.

Đón Toàn ở ngoài thềm nhà, tóc tai bơ thờ, mắt nổi quầng, Yên nói không ra hơi, nghe trong sâu xa có lẩn quất nỗi hoang mang về một tai họa có tính định mệnh.

– Anh Toàn ạ, năm nay biết là anh Quyết Định có sao Thái Bạch chiếu mệnh, độc lắm nên Yên đã đi cúng sao giải hạn cho anh ấy rồi đấy chứ!

Rồi ngước nhìn Toàn, Yên khe khẽ:

– Anh ấy da dữ lắm. Có lẽ là từ hồi còn nhỏ bị con rắn hổ mang trâu nó cắn, nay vẫn còn nọc độc trong người. Hơi động chạm phải là viêm tấy ngay. Biết thế rồi nhưng anh ấy có chịu giữ gìn đâu. Sâu Chua nghe nói là vùng hoang rậm, đi lại còn vất vả hơn cả vùng cao Pha Linh. Mà vùng hạt rau giống này Thường vụ đã phân công ông Gia phụ trách rồi. Nguyên năm ngoái anh ấy lên đó hai lần rồi chứ có ít đâu!

Toàn xua tay:

– Chị cứ bình tĩnh. Tôi đã gặp bác sĩ điều trị cho anh ấy rồi. Xét nghiệm cho biết, anh ấy chỉ bị nhiễm trùng da thôi.

– Anh Toàn à… – Yên nghèn nghẹn. – Không hiểu sao Yên lo quá cơ. Tháng này tử vi của Yên nói, phải đề phòng người thân đau ốm và bị kẻ tiểu nhân cản trở. Càng lo hơn vì không hiểu sao mà rập một lúc cả anh Đồng cũng bị cấp cứu. Anh không biết đâu. Anh Quyết Định và anh Đồng gắn bó với nhau từ năm 1946, hồi anh ấy một mình một ngựa đi vào sào huyệt của Thổ ty họ La cơ. Sau anh ấy mắc oan. Anh Quyết Định còn ân hận đến tận giờ.

Làm sao mà ông Đồng mắc oan và ông Quyết Định tới giờ còn ân hận? Vấn vít về câu hỏi nọ khiến Toàn dắt chiếc xe đạp ra cửa còn đứng ngẩn. Quay lại định hỏi thì cơ hội để giải tỏa đã chẳng còn, vì Yên đã giục:

– Anh Toàn đi cùng Yên, giúp Yên một việc nhé! Ở vùng này có cô đồng Hồng nổi tiếng tài giỏi trong việc đoán định chuyện âm dương, Yên muốn đến điện của cô.

Dắt xe qua con ngòi, tới Quốc lộ 7, Toàn đạp xe, Yên nhảy lên ngồi ở sau xe, tay níu vào sườn Toàn. Bỗng nhiên như có điện truyền, Toàn rùng mình nhè nhẹ.

Một chiếc xe tải vụt qua, phả trên mặt đường một đám bụi mờ. Tay lái chệnh choạng, điều chỉnh lại cho ngay ngắn, Toàn có cảm tưởng Yên càng níu chặt anh hơn. Đường rải cấp phối. Ô tô chạy dún dẩy theo nhíp xe, tạo nên một dạng làn sóng trên mặt đường. Xe đạp lăn khập khình rất khó chịu. May mà Yên đã khỏa lấp:

– Anh Toàn chưa biết chuyện anh Đồng bị kỷ luật nhỉ?

– Chưa!

– Hồi ấy là năm 1968, phỉ nổi ở cả tám xã Pha Linh. Dẹp tan cuộc nổi loạn, công đầu thuộc về anh Đồng. Chỉ có anh ấy với phong cách phong trần, tài tử, nghĩa hiệp mới làm được việc ấy. Uy tín anh ấy với dân trong vùng chẳng ai bì kịp. Thế mà không hiểu từ đâu sinh ra một luồng dư luận phê phán anh ấy là hoạt động theo kiểu anh hùng cá nhân hảo hớn, võ hiệp và chê trách anh Quyết Định là hữu khuynh, bao che ve vuốt anh Đồng. Anh Quyết Định chưa biết thanh minh thế nào thì xảy ra chuyện tiếp. Thấy bọn trùm phỉ chưa đầu hàng còn có khả năng kích động quần chúng nổi loạn một lần nữa, anh Đồng nhân danh Khu Trưởng Pha Linh ra quân lệnh: Dân chúng trong vùng, từ mười tám tuổi trở lên, ai có súng kíp, súng hỏa mai, súng trận đều phải nộp lại tất cho Ban Cán sự Khu, nếu không sẽ bị khám xét tịch thu và xử phạt nặng.

Chuyện đứt đoạn. Toàn phanh xe, quay lại. Yên từ sau xe đã trụt xuống rệ đường, cạnh một lối rẽ nhỏ vào rừng từ lúc nào. Bụi đường trắng mờ phủ một lớp li ti trên tấm khăn đỏ bịt đầu. Mắt chớp chớp, Yên đưa tay bám vào đuôi xe, bảo Toàn, cứ đi tiếp đi, vì Yên nhớ nhầm, còn một đoạn nữa mới đến điện cô đồng Hồng.

– Anh Toàn à! – Yên tiếp. – Anh Quyết Định đến giờ còn rất ân hận. Anh có biết vì sao không? Anh ấy đi họp ở Trung ương một tháng, rồi sau đó đi tham quan Triều Tiên mười lăm ngày, trở về thì ông Văn Hiến đã ký kỷ luật khai trừ, hạ chức anh Đồng và điều anh ấy về Văn phòng Tỉnh ủy rồi.

– Có chuyện ấy cơ à, chị Yên?

– Thế đấy, lấy lý do là gì anh Toàn có biết không? Là vi phạm nghiêm trọng chính sách dân tộc, gây rối loạn yên bình của nhân dân. Biết nói thế nào bây giờ? Sau sự việc này, anh Quyết Định coi như còn một món nợ lớn với anh Đồng chưa trả được. Anh Toàn à, anh Quyết Định tính hay thương người lắm. Cả vụ kỷ luật ông Nguyễn Chí Hưng nữa, anh Quyết Định thật sự có muốn thế đâu, nhưng ông Văn Hiến cứ khăng khăng đòi bằng được…

Đột ngột Toàn dừng xe. Nhớ lại cái tích truyện Lạn Tương Như chịu nhịn nhục Liêm Pha ông Đồng nói hồi nào, đã hiểu ra ngọn nguồn câu chuyện, ngẩn ngơ, anh quay lại phía sau nhìn Yên, nao nuốt:

– Nhưng chị cũng biết anh Quyết Định là bí thư, tức là người có thể có tiếng nói cuối cùng cơ mà!

Mặt bần thần, Yên như nói với chính mình:

– Thì thế… Nên anh Quyết Định hay nói với Yên câu này: Mình chỉ có thể làm lãnh đạo với những anh em hiền hậu, tốt bụng thôi! Mà thôi, có lẽ rẽ vào chỗ này, anh Toàn.

Toàn xuống xe, cùng Yên rẽ vào một lối mòn, hai bên mọc đầy sim mua. Xuống một con dốc nhỏ, hai người lội qua một con suối nông nhưng rộng lòng. Nước chảy róc rách tràn trên các mỏm đá đầu sư. Rồi khuôn vào một dòng nhỏ, đổ nước rào rào ở bên kia bờ, qua gầm một dãy lều rơm đặt cối giã tự động. Vẳng lại tiếng cần cối rơi xuống lòng cối gạo thập thõm trong tiếng nước đổ ập òa.

Cuối cùng, điều bất ngờ với Toàn là anh cùng Yên đứng trước một ngôi nhà gạch hai gian lợp ngói nâu, tường trắng, dưới một gốc đa non chừng mười năm tuổi, lõng thõng vài chùm rễ phụ. Nhận ra tiếng chuông đồng lọt ra từ ngôi nhà và sau đó dậy lên mùi hương nến trong không khí, Toàn dựng xe và hiểu thế là anh đã đưa Yên đến chỗ cần đến. Đây là ngôi điện của cô đồng Hồng, nổi tiếng trong vùng về năng lực giao hòa với cõi âm.

Thềm điện lổng chổng đến hai, ba chục đôi dép, guốc. Qua cửa, đập ngay vào mắt là tòa điện thờ cao ba tầng kệ xây áp tường, nguy nga tượng Phật, tượng Thánh Thần, Thích Ca, tượng ông Jesus, tượng ông Di Lặc, tượng bà Quan Âm… Chất ngất nén bạc, thoi vàng lấp lánh ánh trang kim, cùng các đồ mã xanh đỏ tím vàng và đài hoa, quả tử, hạc đồng sáng trưng đèn nến. Tầng kệ dưới cùng xây thòi ra rộng hơn hai gang tay, la liệt các khay nhôm, khay sơn mài, đĩa sứ để đồ lễ của các thân chủ.

Ngồi giữa chiếc chiếu hoa giải trước điện là cô đồng Hồng, đầu phủ hờ một tấm khăn nhung đỏ. Cạnh cô là một bà già giữ chân phụ lễ chít khăn mỏ quạ. Xung quanh cô ngồi như bụt mọc hơn hai chục thân chủ. Rặt các bà, các cô mặt hoa da phấn, đang tuổi hồi xuân, theo tiếng chuông đồng phát ra từ tay bà phụ lễ, đồng loạt chắp tay, cúi đầu suỵt soạt câu khấn lầm thầm. Yên len lén bước lên phía điện thờ, nhặt một cái khay sơn mài, lấy từ trong túi vải đeo bên sườn ra mấy quả cam sành đặt vào, rồi gài vào cạnh khay tờ giấy ghi họ tên mình, đoạn trân trọng đặt lại vào bệ thờ.

Đã xong một hiệp lễ, cô đồng bỏ tấm khăn phủ đầu, quay lại. Hóa ra cô còn rất trẻ. Chỉ hăm lăm, hăm sáu. Mắt một mí. Mày tỉa. Mũi tẹt, mồm dô. Má trái có nốt ruồi to bẹt như đồng xu. Thấy cô đồng vừa ra khỏi tấm khăn nhung, đám các bà, các cô ngồi quanh lập tức quây cả lại, dựng gối, chắp tay, ngào ngạt: Lạy cô ạ, lạy cô ạ.

Không thèm để ý đến bất cứ một ai, cô đồng với tay lên bệ điện thờ, kéo xuống một chiếc đĩa sứ lớn, trên đặt chùm nhãn, thẻ hương và mảnh giấy ghi tên thân chủ. Đưa mắt qua mảnh giấy, cô cất giọng the thé:

– Ai là Thị Ngoan nào?

– Dạ, em là Thị Ngoan đây ạ.

Không cần ngoái lại để xem mặt người tên là Thị Ngoan, cô đồng đã nâng chiếc đĩa đặt đồ lễ lên ngang trán. Bà già phụ lễ thỉnh một tiếng chuông rồi đưa cô một nén hương đang ngún khói.

Nam mô Thập phương thường trụ Tam Bảo Tác Đại chứng minh Liên Toa hạ. Nam mô Hộ pháp thiên thần chư thiên Bồ Tát – Ngọc bệ hạ. Thiết nghĩ: Chúng con sinh nơi trần thế, đương buổi bình minh, tuệ cạn, chướng sâu, nghiệp dày, phúc mỏng, không biết phải trái, con đường u mê… Miệng lầm nhầm, tay cầm nén hương ngoay ngoáy về phía điện thờ, cô đồng khởi đầu hiệp lễ. Và chẳng cần chờ lâu, đặt chiếc đĩa đồ lễ xuống chiếu, chưa đầy một phút cô bỗng dừng tay, lặng phắc vài giây rồi thình lình ật ngửa ra phía sau, đúng giữa lòng bà phụ lễ vừa lúc bà này đưa hai tay đón đỡ. Vong hồn người quá cố đã nhập vào cô. Mắt cô nhắm nghiền. Lưỡi cứng đơ, cô bắt đầu phát ra những câu nói ngắt quãng, ngọng nghịu.

– Kìa! Cô Ngoan đâu? – Bà phụ lễ gọi.

Thân chủ dịch lên. Cô đồng nằm ghếch trên vai bà phụ lễ, ngoẹo cổ:

– Eng oan âu? Ang à ồng eng ây!

Bà già phụ lễ nguýt người tên Thị Ngoan một cái rõ dài, đoạn dẩu môi:

– Cô có nghe rõ không: Em Ngoan đâu? Anh là chồng em đây!

– Dạ, em nghe rõ lời anh rồi ạ.

– Ại àm ao eng ông o on ái úy ùng ến ới eng?

– Tại làm sao em không cho con cái Thúy cùng đến với em?

– Dạ thưa anh, hôm nay con nó đi thi học sinh giỏi ở tỉnh ạ.

– Ừ! Ế òn iệc eng ịnh in i ước ữa ì ang ói ế ày. Ó a ười ỏi eng. Ang iết ả. Ột ười uổi ã ảy ươi. Ang ợ ó ông ảm ảo ạnh úc âu ài o eng.

– Ừ! Thế còn việc em định xin đi bước nữa thì anh nói thế này. Có ba người hỏi em. Anh biết cả. Một người tuổi đã bảy mươi. Anh sợ nó không đảm bảo hạnh phúc lâu dài cho em.

– Dạ, thưa anh, anh xá tội cho em…

Người tên Thị Ngoan tay chắp, đầu gật, nước mắt giàn giụa, miệng méo xẹo, ấp a ấp úng. Chuông lại loang loang một hồi. Toàn bỏ ra ngoài. Đứng dưới gốc đa, ngước lên thấy một đàn sít đen từ đâu đến đang nhảy loách choách trên các cành đa cao, anh lại ngẩn người. Yên hóa ra vẫn còn gắn bó với công việc cúng lễ, với thế giới tâm linh như thời thiếu nữ. Nhưng thôi, mỗi người một cách sống, một nếp nghĩ. Quan trọng là hôm nay nhờ Yên, anh đã biết được đoạn kết cuộc đời bi tráng của ông Đồng. Cũng là số phận một con người mà sao đời ông lại ám ảnh anh dằng dai đến thế! Phải chăng không chỉ là kiểu người thuộc về một thời kỳ lịch sử đầy những biến động, dữ dội, nhưng ấu trĩ đến thô sơ, ông còn là nạn nhân, là con người đã hư hỏng như lời tự thú, vì sự tha hóa của quyền lực và sự tự đánh mất mình?

Đang định đi loanh quanh để giải tỏa nỗi băn khoăn, buồn phiền, nghe tiếng gọi, Toàn quay lại thì Yên đã trở ra:

– May quá, lẽ ra phải xếp hàng đến chiều! Nhưng có bốn, năm chị không gọi được hồn, đành chờ sáng mai, Yên thế vào chỗ của họ.

Toàn chưa biết nói gì thì Yên đã kéo tay anh:

– Mộ ông tổ anh Quyết Định ở quê bị động trệ, anh Toàn ạ. May quá, đã có cách sửa sang, bài cúng, cách cúng đây rồi. Giờ, anh đèo Yên vào trong bản này gặp ông lang Bành, cắt mấy thang thuốc nam nữa là yên tâm rồi!

Thực tình thoạt đầu chỉ là một vết mẩn sùi từ làn da. Thấy ngứa thì gãi. Càng gãi càng ngứa và cuối cùng thì bật máu, mâng mủ, thành một vết loét to bằng đầu ngón tay út. Không phải rắn cắn. Vì không thấy vết răng. Cũng không phải là lá gianh, vì đâu có vết cứa. Lá han thì chắc không để lại vết ngứa sâu đến thế. Vậy thì nó là cái gì? Tù mù, không thể hiểu nổi. Chỉ biết ba ngày sau nổi mẩn, gãi ngứa thì ông Quyết Định phát sốt. Sốt đùng đùng vọt lên bốn mươi độ. Đánh gió giải cảm, uống thuốc hạ nhiệt thì tụt xuống một độ. Và cứ thế âm ỉ như cái lò nung ba mươi chín độ suốt ngày suốt đêm, kể cả lúc này, ô tô Đích đã đưa ông tới bệnh viện tỉnh sơ tán ở trong một bản người Giáy gần thị xã.

Cơn sốt không thoái lui của Bí thư mang màu sắc định mệnh gây hoang mang cho Yên và cho cả Toàn. Là bởi vì theo chỗ Yên biết thì trừ lúc nhỏ bị tẩu hỏa nhập ma ra, chưa bao giờ ông gặp trận ốm đau như thế này. Chưa bao giờ ông phải nằm viện, kể từ khi thoát ly bản nhỏ và trở thành anh cán bộ chính trị chuyên nghiệp. Thảng hoặc đôi khi có nhức đầu, chóng mặt, đau mình mẩy thì cũng chỉ qua một giấc ngủ trưa là khỏi liền. Con người này mang trong mình cái sức lực của tự nhiên, cây cỏ. Con người này có cái tố chất lão thực, cái khí lực tráng cường của người nông dân miền núi. Đi cùng ông các chuyến công tác, Toàn thầm phục ông cả về điều đó. Vào tuổi năm mươi, theo ông kể thì ở làng, ông đã được lên lão, mà ông có thể đi bộ liên tục cả ngày đường. Ông leo đèo, lội suối băng băng. Rét cắt da cũng không bao giờ thấy ông xỏ chân vào bít tất. Trên mình ông, đêm đông buốt giá cũng chỉ một tấm áo trấn thủ lót trong và một chiếc đại cán kín cổ khoác ngoài. Đi sau ông, Toàn chỉ thấy ông hiện thân là đôi bắp chân săn chắc nở nang lồ lộ dưới ống quần ka ki xắn cao và đôi gót chân đầy đặn in hằn vệt chiếc quai dép cao su đen thoăn thoắt, thoăn thoắt. Con người này sống như kẻ tu hành, tồn tại phát triển trong những điều kiện vật chất tối thiểu nhất. Ăn uống không phải là mối quan tâm. Một bát bột ngô đồ. Mấy củ khoai. Cơm độn mì, độn sắn, với vài cọng rau dưa, thậm chí mấy hạt muối trắng cũng xong bữa. Buổi sáng, một hớp nước chè là có thể đủ tỉnh táo để điều hành liên tục ba, bốn cuộc họp. Bốn giờ sáng dậy, tập thể dục xong, nếu không đi họp, đi công tác là xách cặp lên nhà Thường vụ. Và mười một, mười hai giờ đêm mới lọ mọ cùng cây đèn bão trở về nhà. Bận rộn, tận tụy mà lòng thanh thản. Đặt mình là ngủ và có thể bật dậy bất cứ lúc nào.

Thế mà… bây giờ thì… hình như ông không chịu thức dậy nữa rồi!

– Anh Quyết Định ơi! Anh có nhận ra em và anh Toàn đang ở bên anh không?

Ba, bốn lần lay gọi trong giọng nói nhòe nhoẹt nước mắt, Yên cũng không sao đánh thức được ông Quyết Định. Mắt nhắm nghiền, trán mờ mờ mấy đường nhăn lưu lại đôi ba ánh chớp suy tư cuối cùng, ông Quyết Định như đang ở trong đám sương mù chỉ nhìn rõ ba bước chân mình.

Ông Quyết Định đang ở trong cõi giới mới mịt mùng, trong không gian không bắt đầu từ đâu mà ở đâu cũng có, trong thời gian dài dặc mà chẳng biết khởi đầu từ đâu và kết thúc ở chỗ nào. Vì lúc này là hỗn độn, mịt mờ hết cả rồi! Vì lúc này là lẫn lộn cả ngày hôm qua với ngày hôm nay. Cái đã xảy ra lâu lắm rồi với cái hiện tại chưa trôi đi. Ngày và đêm. Người này và người khác. Tất cả đều trộn lẫn với nhau. Vừa thấy mình trên lưng con tuấn mã ở giữa trấn Pha Linh, lại thấy mình đang phi nước đại trên con ngựa hồng giữa mênh mang sắc đậu tương vàng rười rượi ở Bản San. Lát sau, lạ chưa, ông lại nhận ra mình đang cùng Toàn lặn lội trong rừng pơ mu và ông vừa đọc bài thơ Yên chép tặng ông cho Toàn nghe: Đôi ta anh hỡi biết đâu… Cuộc tình của ông với Yên sao lãng mạn và tráng lệ vậy! Ấy thế, thành ra như lúc này đây, không hiểu vì sao lại thế, chỉ thấy mình vừa băng qua cả mấy trăm cây số về tới bản quê, vừa từ bàn đạp ngựa bước xuống đã nghe thấy tiếng ai ầm ầm vang vang như tiếng ông nội mình. Chà, ông nội Nông Đình Phàn của mình. Ông nội ngày mình còn nhỏ vẫn thường dạy mình rằng: Làm người đàn ông phải có ba cái mạnh, đó là một túi lý sự và hai cánh tay khỏe. Ông nội đang đứng trên cái sân đất nện tam hợp thổ, tay tung từng vốc ngô, giữa đám gà vịt ngan ngỗng láo nháo mới thức dậy sớm mai. Ông nội dáng tròn lừng lững như cây thông già và giọng nói thì vẫn muốn làm ông sấm ông sét như ngày xưa. Ấy đấy, ông nội quát giật: A! Tưởng là chàng hiệp sĩ nào cưỡi con ngựa hồng đến làm khách, hóa ra là thằng Nông Đình Khoan, Quan Tỉnh Trưởng Hoàng Liên, cháu yêu của ta. Khoan ơi! Thế là mày đã về. Mày làm to rồi nhưng mày không quên ông nội của mày. Nhưng mà này, có phải mày về để báo hiếu ta đấy không, hả cháu yêu? Ôi, ông nội tóc trắng như bông. Mũi sư tử. Mắt hổ. Môi trâu. Răng lộ xỉ. Lưng rùa. Mặc áo quần vải thô, tự khâu tay lấy. Dị hình, dị tướng như quái nhân. Chín mươi tuổi. Vừa ăn thượng thọ. Mổ chín con lợn tạ. Xếp chín mươi mâm. Mời cả bản, từ đứa trẻ mới biết đi tới ông già chống gậy đến dự. Nghe chó trong bản sủa cả đêm, người già cười: Ông lão Phàn đi mò gái góa đấy. Ông nội cười khích khích. Tao uống rượu hồi xuân Thốc kê hoàn rồi. Bao nhiêu đàn bà góa chồng trong bản phải qua tay tao hết! Chúng bay có biết Thốc kê hoàn là gì không? Rượu Mao Đài chín lần lên men, tám lần ủ, bảy lần chắt cũng thua nó hết. Hiểu chưa? Ông nội bật cười kha kha. Ấy thế! Quan Thái thú Lã Cung Đại bảy mươi tuổi uống thứ thần tửu này một năm đẻ liền ba thằng con trai. Bã thứ rượu này đổ ra vườn. Gà trống mổ ăn. Ăn xong đạp mái ngay. Vừa đạp vừa mổ đầu gà mái, dính liền trên lưng gà mái mấy ngày không xuống, làm gà mái trọc cả đầu. Thốc kê có nghĩa là trọc đầu gà, hiểu chưa, hả cái thằng Khoan tức Quyết Định kia! Đẩy kin đừng lủm thú. Đẩy dú đừng lủm cong. Được ăn đừng quên đũa. Được ở đừng quên ơn. Mày có nhớ câu tục ngữ ấy không? Nếu nhớ thì mày phải biết, nhờ ai mà mày lên quan tỉnh trưởng Việt Minh chứ? A! Quan đầu tỉnh Việt Minh, một mình một ngựa. Khắc điêu khúy tu mạ xông khẩn. Mày vào tận hang ổ Thổ ty họ Hoàng, họ La, họ Nông. Mày có biết mày từ cái lỗ nẻ nào chui ra đó không? Vậy mà bây giờ về đây ăn thượng thọ ông mày, mày quên hết cả lý lối dòng tộc! Mày nên nhớ, người Tày bản ta, rượu không bao giờ uống ngọn. Đã uống phải uống từ gốc. Đầu tiên chén này uống mừng hai con mắt. Chén tiếp uống mừng hai bàn tay. Trời! Ông nội ấn chén rượu vào tay mình rồi. Nhưng mà ông nội ơi! Cháu đã thành người cách mạng. Người cách mạng là người thế nào? Thế này, ông nội ạ. Ông Karl Marx là người Đức. Nghiên cứu xã hội, ông thấy: Cùng sống trong một nước mà chỉ có một số được thành người có văn hóa, một số thì không! Số trên là người được đi học. Được đi học chỉ gồm con cái những nhà hữu sản. Vậy thì phải cải tạo cái xã hội này đi, để cả người nghèo cũng được đi học, cũng thành người có văn hóa. Cải tạo xã hội là cách mạng, mà muốn có cách mạng thì phải có con người cách mạng. Con người cách mạng là con người đối với kẻ thù, dù một thân một mình cũng không biết đến sợ hãi. Vâng, không biết đến sợ hãi là gì, ông ạ. Đó, trước mặt Thổ ty họ La cao lớn, mắt xếch, bụng xệ, ngồi trên một chiếc ngai thếp vàng rất bệ vệ, xung quanh là bọn vệ sĩ, các thủ túc súng đạn đầy mình, thế mà cháu đang thân cô thế cô vẫn cứ thét dõng dạc, bắt y phải ra khỏi chiếc ngai y đang ngồi đấy! Người cách mạng sau nữa, đối với công việc của dân của nước, phải là người đi ở hàng đầu, nhất là khi mình là người đứng đầu cấp ủy; rồi nữa, người cách mạng phải biết luôn luôn tu dưỡng, cải đổi bản thân mình. Cháu không uống rượu là vậy! Ông nội cười khà khà: Thôi được, mày không uống rượu thì cũng được. Chứ uống rượu mà để rượu nó uống, nhìn nòng nọc thành cá thì bỏ mẹ! Nhưng mày có nhớ là tao đã nhờ mày điều gì nữa không? A, ông nội nói thế thì cháu nhớ rồi! Nhớ rồi nên vội đứng lên, đáp thật to, đáp cho cả mẹ, cả em gái nghe thấy: Dạ, thưa ông, vừa rồi cháu đi thăm Trại lợn giống Mường Thông. Qua chuồng một con nái, khen đàn lợn F1 giữa con ỉ Móng Cái và con Yorkshire nước Anh, mình dài, nhiều nạc, cũng là khen vô tư thôi, thế mà đồng chí Trại Trưởng lập tức đèo xe đạp ra biếu tặng một con. Và thế là điều tiếng ran lên trong cấp ủy rằng cháu lợi dụng chức vụ bí thư tỉnh ủy để thu lợi, tham ô, khiến cháu ngượng ngùng chín đỏ cả mặt. Ông thấy đấy, cháu là người luôn biết soi gương xem mặt mình, cháu hay xấu hổ lắm. Làm người thường cũng cần giữ mình trong sạch. Huống hồ làm người đứng đầu một tỉnh. Đấy, ông nội chưa chi đã trợn trừng mắt, tưởng cháu ốm đau, trí óc tối tăm, ăn nói lẫn lộn. Không! Cháu muốn nói, con lợn giống năm, sáu cân còn gây dư luận xấu về tư cách cháu thế. Huống hồ, cháu lại ỷ quyền lấy về cho ông một cỗ hậu sự bằng gỗ pơ mu, theo yêu cầu của ông? Pơ mu là thứ gỗ quý lắm! Xưa, gỗ này chỉ có vua quan, các bậc quyền quý mới được dùng. Cháu đã đến khu rừng thuần chủng thứ cây này ở Pha Linh. Cháu nhớ đến lời ông dặn, nhưng cháu không dám hé răng, nói một lời đề nghị. Vậy ông thông cảm cho cháu. Làm quan ngày nay khác. Đệ nhất phu nhân tỉnh Hoàng Liên như anh em vẫn gọi đùa, là vợ cháu, cũng đi hái củi, lấy rau lợn, ông à. Ông ơi, có câu thơ này ông đã được nghe bao giờ chưa: Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa? Thế đấy! Cùng là cấp ủy với nhau mà ganh ghét, tị nạnh, tìm cách dìm dập nhau đủ trò. Tiếng là đứng đầu một tỉnh mà nhiều khi xử sự với nhau, với công việc như lũ tiểu nhân, như bầy trẻ nít ấy, ông ạ. Với lại, ông ơi, mong ông hiểu cho cháu, từ khi cưỡi trên lưng con tuấn mã, một mình một ngựa đối mặt với kẻ thù của cách mạng, cháu đã thành người thế nào thì nay cháu vẫn thế thôi, không thay đổi nữa, ông ạ.

– Anh Quyết Định ơi, anh có nhận ra em không?

– …

– Anh Quyết Định, em là Yên vợ anh đây!

Sát xuống mặt ông Quyết Định là gương mặt Yên. Có lẽ nào dung mạo quen thân của nàng không đánh thức được cân não ông? Ấy thế, cuối cùng thì hình như lờ mờ ông cũng nhận ra nàng. Nhưng mà lạ chưa kìa, lại như bao lần trở đi trở lại trong một giấc mộng, ông lại thấy nàng trong hình hài một cơ thể thanh nữ hoàn toàn trần trụi nõn nà, nhuồi nhuội, ấm áp trong bóng tối mờ mờ của chiếc chăn chiên vừa mở ra ở một đêm đông đã tít xa. Đã xa tít rồi! Ấy thế! Lại thấy nàng như e lệ, từng tí một dịch chuyển thân mình vào phía trong. Và khi đã chạm vào vách liếp ngăn gian nhà thành một căn buồng nhỏ thì ông và nàng như hai kẻ đi ngược chiều trên một con đường hẹp, không còn cách nào lẩn tránh nhau được nữa. Trời, cái duỗi chân mời chào dâng hiến của nàng! Cái vòng chân khóa chặt lưng ông, dìm sâu ông xuống. Và tiếng rên rỉ, tiếng thét gào của nàng: Anh! Chàng kỵ sĩ anh hùng của em! Em tự nguyện làm ngựa cho chàng cưỡi đây. Hãy dốc hết tốc lực đi, chàng! Trời, ham muốn nhục thể đã trở thành động lực, là chính bản thân cuộc sống của ông. Đã bao lần rồi ông được ở trên mình nàng. Được thâm nhập tuyệt đối vào nàng. Được nàng hút chặt lấy mình. Được thấy khuôn ngực phổng phao rướn cao tung tở vì nức nở nghẹn ngào của nàng. Ôi! Những giây phút thần tiên của ông, của người đàn ông trong ông. Những giây phút nàng là đàn bà, thuần túy là đàn bà. Mà hình như lúc nào nàng cũng chỉ là đàn bà. Là đàn bà ở mọi thời điểm, ở suốt cuộc đời. Anh nghĩ gì thế? Quên hết đi, anh! Nàng lay gọi ông. Nàng thúc giục ông. Nàng là người đàn bà với toàn bộ tinh lực chỉ dồn vào một niềm đam mê duy nhất là hoan lạc. Nàng bùng nổ những cơn phóng dục liên miên. Nàng biến thành con ngựa hoang cuồng dại. Dưới tài dẫn dắt của nàng, ông như kẻ dập dềnh trên sóng nước, lại có khi quay đảo như say sóng và có lúc hì hụp không ngưng nghỉ như chiếc cối giã gạo. Ghì riết ông, quắp chặt ông, nhồi ông lên, kéo ông xuống, bắt ông phồng to hơn, mạnh mẽ hơn, dai bền hơn, nhiều lúc nàng coi ông như một con mồi. Trong móng vuốt của mình, kết hợp ở trong mình cả tính tò mò của thiếu nữ ngây thơ, trinh trắng, lẫn sự lẳng lơ, hiếu dâm của đàn bà từng trải, nàng cuốn ông vào cơn ham mê bất tận và luôn luôn ở tư thế kẻ chỉ biết có chiến thắng. Khác nàng, ông chỉ là đàn ông trong chốc lát thôi. Ông không đáp ứng được yêu cầu riết róng của nàng. Nàng thì dư thừa mà ông thì như ngọn đèn hết dầu. Trời ạ, cái duyên trời cho, cái que trời buộc này, cái khoái thú da thịt này ông vẫn hằng mê đắm lắm mà sao ông có lúc không cất nổi mình dậy, không dựng nổi ngọn cờ là thế nào? Ông gục mặt trên ngực nàng. Rồi ông trượt qua nàng, rơi bịch xuống bên nàng như một kẻ ngã ngựa. Lúc ấy kẽ mắt ông ri rỉ lệ. Ông buồn vì thấy mình kém cỏi, vì thấy mình là một kẻ thiểu năng. Vì nhớ tới những chuyện lào xào về Yên và giáo Cầu. Vì bỗng thấy mình cô đơn quá. Vì nghĩ, chẳng lẽ đã có lần mình phải giả làm mèo cào vách để cảnh báo Yên và giáo Cầu đang trong cơn hành lạc?

Thế đó, trên đời, vị tất đã mấy ai trải qua nỗi đau này. Thời gian luôn có mặt và hóa thân vào sự kiện. Muốn hạnh phúc con người phải dành nhiều thời gian cho mình. Mà ông thì có cảm giác còn chưa kịp sống cho mình nữa kia. Chao ôi, vậy mà nỗi sợ hãi vì cô đơn đâu có phải chỉ là cảm ứng của ông trong chuyện chăn gối với Yên. Có lẽ đời ông là vậy, ngoại trừ cái lúc ông một mình trên lưng ngựa đi vào các vùng thổ ty thuyết phục họ hợp lực đánh Quốc dân Đảng phản động thôi. Lúc ấy là tuổi trẻ. Là khí thế xung thiên của cách mạng. Lúc ấy trong ông là đoàn thể, sau lưng ông là cả cuộc cách mạng long trời lở đất. Còn như bây giờ thì cô đơn là trạng thái thường trực của ông. Hội nghị Mường Thông là một ví dụ. Cô đơn lắm! Một mình kiên trì một ý tưởng. Mà trong bụng thì nghĩ: Chắc đâu ý kiến mình kiên trì bảo vệ đã là đúng! Hợp tác xã ở miền núi là một phong trào đẻ non, bà con đang yêu cầu giải tán nó, yêu cầu ấy thể hiện nhu cầu giải phóng sức sáng tạo của mỗi cá nhân con người. Rất có thể như thế là đúng! Nhưng là người đứng đầu một đảng bộ tỉnh với hơn năm ngàn đảng viên không thể nói như thế được! Nói thế là trái với nghị quyết Trung ương. Thành ra nói năng khéo léo, hùng hồn thế đấy mà thật ra rất run rẩy, rất cô đơn. Cô đơn lắm! Cô đơn với cả các đồng chí cấp ủy xung quanh mình. Tình đồng chí, có đấy, nhưng bây giờ nó có còn giữ được tất cả vẻ thiêng liêng, đẹp đẽ như trước đây? Có còn cùng lý tưởng với nhau không? Hay là mỗi người đều có mưu cầu lợi ích riêng? Trần Quàn là một nỗi nhức nhối khôn nguôi. Là sự đánh tráo khái niệm giữa giai cấp công nhân, nông dân nghèo khổ và tầng lớp vô sản lưu manh. Đoàn kết là cái phải giữ gìn nhưng đâu đã là nhu cầu thiết tha của cuộc sống chung? Tung cong bấu đẩy dú. Thú cong bấu đẩy kin. Bụng cong không được ở. Đũa cong không được ăn. Nhân tâm nan trắc. Lòng người khó đo. Trả lời cho thật rõ ràng, dứt khoát câu hỏi: Mình có ngại, có e nể Văn Hiến không, thật cũng khó. Đó, vừa có ý định thí điểm cải tiến khoán quản để giải phóng sức lao động của bà con ở Hợp tác xã Bản San mà ông ấy đã có ý hăm he, quy chụp là hữu khuynh. Còn khó khăn lắm! Nói gì đến cả một kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội dài hạn toàn tỉnh, liệu có là viển vông? Tính tình mình thì ai cũng biết rồi. Với Yên, nói thẳng với nhau cũng còn khó nữa là. Không còn thích hợp với thời đoạn này, khi con người, cuộc sống đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều chính là mình mất rồi ư? Hay đúng là mình chỉ có thể làm việc được với những người hiền hậu, tốt bụng thôi? Huống hồ là nhà cách mạng chuyên nghiệp, mình còn là con người của đoàn thể. Mà đoàn thể thì bảo phải chờ đợi nhau và giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Sống với nhau là cả một công cuộc nhọc nhằn. Thành ra lúc này nằm đây, sống chết chưa hiểu thế nào, mà vẫn còn ôm hận trong lòng. Ân hận lắm! Con người ta vốn yếu đuối vô cùng. Một sai sót ngoại cảnh cũng có thể bẻ ngoặt hướng đi cả một cuộc đời. Đồng, ân nhân của mình là thế mà bó tay, không bảo vệ được. Hưng, Chi cục Khai hoang cơ giới cũng vậy thôi. Thế đấy, Đồng rất đáng thương, rất đáng trọng. Đồng nói, Thường vụ là năm con ngựa, kéo cỗ xe. Nghe như đùa như giễu mà không phải chỉ là đùa, chỉ là giễu. Cỗ xe nặng lắm, năm con ngựa, kể cả con đầu đàn đều có khuyết tật, làm sao kéo nổi. Cách mạng luôn là một việc làm quá sức. Anh em nói, ông Ké Lanh chỉ đáng làm chủ nhiệm Công ty Ong. Ông Đình chỉ vừa với chức chủ nhiệm hợp tác xã. Ông Văn Hiến là anh cố nông láu cá, cơ hội. Nói thật thì đau lòng thế đấy. Nhưng mà mình là người đứng đầu tổ chức đoàn thể ở đây, chả lẽ mình lại được phép phát ngôn ý kiến cá nhân của mình? Nói như thế thì khác gì chê trách đường lối cán bộ của đoàn thể. Ở Hội nghị Mường Thông và trong nhiều câu chuyện khác cũng vậy thôi, làm sao mình có thể như Toàn nói, mỗi con người chỉ là đích thực khi nó là một cá nhân?…

– Anh! Anh tỉnh rồi!

Chợt Yên reo. Ông Quyết Định he hé mắt. Tranh thủ thời gian, Yên nâng đầu ông dậy, ghé bát thuốc nam mới sắc còn nóng hôi hổi vào miệng ông:

– Anh chịu khó uống, anh nhé! Thuốc nam ông lang Bành giải độc nổi tiếng đấy, anh ạ.

Dịu dàng đặt đầu ông xuống, Yên lấy khăn ướt dấp qua môi ông. Đích vừa vào, xách theo chai mật ong. Đích nắm tay ông. Ông nhấp nhánh cặp lông mày, ra ý nhận được mặt người quen. Rồi chợt ông mở bừng hai con mắt một mí hiền hậu, mấp máy đôi môi khô nẻ:

– Đồng chí Đồng thế nào rồi? Nằm ở buồng nào?

Im phắc và ngơ ngác. Không ai trả lời ông. Lạ nhỉ, ốm đau mê man thế, làm sao ông biết tin Đồng đã nhập viện cấp cứu cùng ông?