Chương 5: CON CÒ, CON VẠC


Thằng Cuội – bởi chỉ là một hòn cuội – nên chẳng rỏ được một giọt nước mắt nào trước cái chết của người nhà quê. Nó chỉ giương thao láo cặp mắt lên mà nhìn theo bóng đàn vịt giời, và nó ao ước gì cũng bay lên được như thế để chóng lên đến Giời mà tìm cha nó.

Nhưng nó kiếm mãi cũng chưa có dịp nào làm quen được với cái giống có cánh nọ, để hỏi xem có cách gì mọc cánh ra được không.

Mãi đến một buổi sáng, nó còn mơ màng ngái ngủ, thì chợt như mình bị vướng vào giữa hai vật gì hơi cứng. Nó mở choàng ngay đôi mắt ra, thì… gớm chết, một cái mỏ con vật gì dài nghêu đã cắp chặt lấy chú Cuội rồi! Cuội ta vội kêu rát họng:

– Bỏ tôi ra, ông nào đấy, ông nào ơi!

Ông nào đấy, tức là một con cò lênh nghênh. Cò nhả Cuội xuống mà nói:

– Ông Cò đấy, chú ốc ơi! Sao chú rắn vỏ thế, chú?
Cuội cười hì hì:

– Tôi không phải ốc đâu nhé! Thật… bé cái lầm!

– Không phải ốc, thì ông cũng móc ruột ra!

– Tôi lại không có ruột.
Thế thì ông ném ngay xuống sông.

– Thôi, thôi, tôi van! Ông tha cho tôi, rồi ông muốn nhờ tôi làm gì, tôi cũng phải giúp.

– Thế hử? Thế thì ta có câu chuyện này, thử bàn với mi. Vốn giống vạc với giống ta vẫn ăn chung ở trong cánh đồng, nhưng bây giờ ta không muốn cho vạc được hưởng nhiều như thế nữa. Ta sẽ đuổi nó đi, tuy chưa nghĩ được kế nào.

– Dễ lắm, để tôi đi thuyết cho: Ba đời nhà tôi chỉ làm thuyết khách, tiếng vang như Sấm kia mà! Nhưng, tôi làm ơn cho ngài, thì ngài cũng nên trả ơn tôi chút ít; ngài xong việc rồi, ngài giúp tôi một tay…

– Ta làm gì có tay?

– Ngài giúp tôi một cánh cho tôi được lên trên Giời.

– Úi chà! Tưởng gì! Được, được lắm, chú ạ!
Chú cứ đi giúp cho xong cái việc của ta ngay đi.

– Vậy, thưa ngài, vạc hắn ta ở đâu?

– Nó ở trong búi sậy bên kia con đường khúc rắn, giờ chú sang ngay, sẽ gặp, nó chửa đi ăn sớm đâu.

Cuội long tong nhảy một thôi, đến gõ cửa nhà vạc, miệng đon đả chào từ ngoài đường chào vào:

– Gớm khiếp, quan ngài nhàn nhã quá nhỉ. Chẳng mấy khi đàn em có dịp đến hầu chuyện ngài đây. Ngài rỗi thì giờ đấy chứ?

Vạc thấy Cuội lễ phép, cũng vui vẻ hỏi:

– Chú bé có việc gì mà đến thăm anh sớm thế?

Cuội kín đáo nói:

– Tôi mới tìm ra một nguồn lợi, phi ngài, thì không có ai có đức hưởng nổi. Ấy thế mà lại vào tay thằng cha cò bợ, có đáng tức không!

Vạc vốn cũng ghét cò, liền săn săn đón đón:

– Sao, chuyện ra sao, chú nói nhanh lên chứ!

Cuội vẫn dềnh dang:

– Ngài chẳng đi đêm bao giờ, ngài không biết có một cái hồ bán nguyệt ở trong cánh đồng đen sì. Ấy đấy, ngài đã trông thấy cánh đồng đen sì bao giờ chưa?

– Nào ai biết!

– Trong hồ bán nguyệt, không biết có cơ man nào là cá, tép, mà toàn quý báu hết, thơm phưng phức, ngọt hơn nước suối tiên, cứ ăn được mười con là sống thêm được một tuổi nữa. Vậy mà thằng cò bợ nó giấu giếm để xơi một mình. Bây giờ ngài cứ đánh lừa nó, bảo đổi cho nó tất cả ruộng nương của ngài lấy một cái hồ ấy mà thôi. Cò vốn tham thấy nhiều, là híp mắt lại, chứ có ngờ đâu rằng bao nhiêu ruộng nương cũng có ngày hết tôm cá, chỉ riêng cái hồ tiên kia tự trên Giời chảy xuống, tôm cá cũng là của Giời ban cho, hết thế nào được nguồn lợi vô cùng!

– Nhưng ta nói thì đời nào thằng cò nó tin.

– Tôi xin đi giúp ngài. Ba đời nhà tôi làm thuyết khách, tiếng đã vang như sấm. Xong việc, ngài chỉ cho tôi được quyền tắm trong hồ ấy, là tôi thỏa mãn lắm rồi.

Vạc mừng rỡ chúc Cuội lên đường may mắn. Cuội lăn về, bảo Cò rằng:

– Vạc đã bằng lòng đánh đổi tất cả những cánh đồng chỉ lấy… một mảnh trăng. Vậy ngài sang làm văn tự, thế là từ đây ruộng nương là của riêng của ngài cả, và Vạc chỉ được đi kiếm mồi về ban đêm.
Văn tự đã cất đi ở phía dưới cổ, Cò đắc chí ra về. Tối hôm ấy, Cuội đưa Vạc đi nhận nguồn lợi mới. Mảnh trăng bán nguyệt treo lơ lửng trên không cao. Cánh đồng bao la, mờ mịt… Vạc hỏi Cuội:

– Cái hồ bán nguyệt đâu, hở chú?

Cuội trỏ lên vừng trăng sáng ngần mà bảo:

– Thè lè lưỡi trai, chẳng ai thì nó! Khum khum gọng vó, chẳng nó thì ai?

Vạc nhìn say mê, và tấm tắc khen:

– Ồ, đẹp thực. Nước trong suốt, lấp lánh tăm cá nổi lên như vàng, như bạc, như tất cả những sắc cầu vồng… Mà thằng Cò bợ cũng không lật lọng nhỉ, quả thật chẳng thấy có bóng nó đi ăn ở bên hồ kia.

Cuội phềnh ngực ra, tuy ngực nó cứ trơ trơ, mà nói:

– Cò lật thế nào được, một khi có tôi! Này, ngài xem hình thế cái hồ có phải như khum khum gọng vó, thế là bao nhiêu tôm cá cũng không ra được sông bể và lại có dáng thè lè lưỡi trai thì tất đáy hồ có nhiều ngọc lắm. Thôi, phen này ngài tha hồ làm giàu.

Vạc vươn cổ lên, vỗ đôi cánh rộng mà kêu “quác, quác!”. Thằng Cuội tủm tỉm cười. Vạc co cẳng, bay thẳng lên vừng trăng, bay mãi, bay mãi, và nhìn xuống mặt nước chỗ nào cũng có hồ bán nguyệt; nó thích chí quá, đáp xuống, mò tôm tép mà xơi, quả thấy ngon miệng hơn, tuy chỉ là tôm tép ở những cánh đồng cũ, mà Vạc mò thế chỉ là mò trộm của Cò.

Từ bấy giờ trở đi, Vạc hóa ra một giống chim chỉ đi ăn về ban đêm. Người ta bảo rằng ban ngày, nó giữ lời hứa với cò, vả văn tự ruộng đã giao cho cò, nên nó không dám ra mặt.

Với kẻ ăn sương ấy, Cuội tặng cho một câu hát khi từ biệt rằng:

Con Vạc bán ruộng cho Cò,

Cho nên Vạc phải đi mò ăn đêm. 

Vừa hát nghêu ngao ở dọc đường, vừa nhảy bước một như… chân sáo, Cuội ta đi tìm Cò để nhờ cánh mà bay lên giời.

Không ngờ giáp mặt, Cò ta giở giọng vỗ:

– Thằng bé ranh kia, đến đây làm gì?

Cuội vẫn tươi cười:

– Thằng Vạc nó đã dại lại tham, thế mới đáng kiếp ngài ạ! Ngài đừng nghĩ tới nó nữa, ngài để thì giờ mà nghĩ về tôi, bởi vì ngài có hứa…

Cò tức khắc quát:

– Hứa? Hứa gì? Ông mà lại thèm hứa với nhãi con này à? Cút đi!

– Ngài mang tôi đi lên Giời…

– Không biết!
– Ơ kìa, ngài vừa mới chiếm ruộng của Vạc xong!

– Không, không biết!

Cuội uất quá, nhưng không làm gì được, bèn ngấm ngầm tìm cách trả thù. Nó vờ lải nhải:

– Nhưng mà ngài còn khờ. Ngài không biết rằng…

– Đã bảo không biết là không biết!

– Ngài không biết rằng còn một cánh đồng đen sì, giữa cánh đồng đen sì có cái hồ bán nguyệt đầy cá tiên, ăn vào sống lâu muôn năm…

– Thế ư? Ồ, thật ta không biết!

– Vậy mặc dầu ngài giao hẹn chỉ ăn ban ngày, ngài cứ đi mò cả ban đêm nữa, sợ cóc gì thằng Vạc!

Cò tưởng thật, bèn nhất định cùng làm một cuộc ăn sương.

Cuội đắc chí ra đi, vừa ngắm trăng vừa hát:

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Quả nhiên không quen với bóng tối, Cò đã lỡ bước sẩy vời mà chết, lá văn tự vẫn buộc chặt dưới cổ, lá văn tự ấy còn truyền lại tới giờ…

Sáng hôm sau, đến trước xác con Cò chết vì tham lam và lật lọng, Cuội đọc một bài văn tế ô hô rằng:

Con cò chết tối hôm qua,

Có hai cái tép với ba đồng tiền.

Một đồng mua trống mua kèn,

Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong,

Một đồng mua mớ rau răm,

Đem về thái nhỏ sáo măng con cò.