CHIM DI TRÚ VỪA BAY VỪA NGỦ


Thô lố hai con mắt ốc nhồi, bà Oanh trưởng phòng In của Nhà xuất bản chò chõ vào tôi cái nhìn vừa chảnh chọe vừa bức bối:

– Thế nào, cậu còn cà rầm cà rì đến bao giờ nữa?

– Thưa chị…

– Không thưa gửi gì cả. Tôi hẹn cho cậu hai giờ đồng hồ nữa.

– Thưa chị!. Dằn lòng, tôi vẫn giữ nguyên giọng thưa gửi lễ phép.. Chị đưa bản bông này cho em mới được hai hôm. Mà có ít đâu, những bốn trăm trang.

– Hai hôm! Bốn trăm trang! Thế là quá rồi. Cậu nên nhớ, ông giám đốc duyệt bản can một cuốn tiểu thuyết năm trăm trang chỉ mất có một giờ. Chính tôi thúc ông để kịp kế hoạch đưa nhà in. Ông ấy đọc theo lối nhất mục thập hàng, một cái nhìn qua luôn mười dòng.

– Không được chị ơi, nghề sửa morasse của em nhất mục thập hàng bỏ lỗi cả đống, có ngày mất niêu cơm, vào tù đấy. Chị ơi, chị nhớ hộ em…

– Nhớ cái gì?

– Năm ngoái, ở quyển Nhịp sống thế kỷ, trang 130, nguyên bản là: tinh thần quốc tế chủ nghĩa, nhà in xếp thế quái nào lại là: tinh thần đế quốc chủ nghĩa, đọc lướt không phát hiện ra đến khi lên máy mới biết, may mà sửa chữa kịp thời chứ không thì mất mạng rồi. Sai một ly đi một ngàn dặm. Lấy nhanh làm đầu không được đâu, chị ơi!

– Mặc cậu! Tôi không biết. Tôi cho cậu thêm hai giờ đồng hồ nữa là quá rồi.

– Nhưng mà…

– Thế cậu có biết là máy in hiện đại một giờ nó in mấy chục vạn bản không? Quên cái thói lề mề, vừa làm vừa ngủ như ông Sùng đánh máy đi nhé!

Thười thưỡi cái môi dưới mỏng quẹt, nhấm nhẳng nói xong mấy câu nọ, bà trưởng phòng đẹp, nổi tiếng cay nghiệt và hay xóc mói của tôi quay ngoắt người đi thẳng. Cơ quan đang vào cữ nhộn nhịp. Nắng cuối xuân sáng hừng một vệt chéo cánh sẻ vào giữa gian đại sảnh rộng rung rinh hình bát giác; ở đó, gần chục cán bộ biên tập đang châu đầu quanh một mặt bàn lớn tròn xoe như cái bàn ăn của người Tàu dưới một cây đèn chùm vẫn còn hoe hoe ánh điện, cắm cúi biên chép, sửa chữa bản thảo, phăng phắc trong hối hả âm thầm và tự nguyện.

Công bằng mà nói, ở sự việc thúc giục tôi nhanh tay lên trong công đoạn sửa bản in, bà Oanh không thể hiện thói khắt khe, ép buộc. Nó là cái sự tất yếu, cái việc không thể đừng. Tôi và bà đều chỉ là một bộ phận li ti trong cỗ máy vận hành đang vào guồng. Chẳng qua là dùi động đến đục thì đục chạm đến săng mà thôi. Thế đấy, bây giờ thì cái gì cũng lấy nhanh hơn nữa, lấy việc tranh cướp được nhiều thời gian hơn làm mục tiêu hàng đầu phải giành được rồi. Bây giờ thì tốc độ xuất thần là niềm tự hào trên mọi lĩnh vực và mặc dầu đã có chút e ngại vì thực tế là có một tỉ lệ thuận giữa sự lãng quên và tốc độ, người ta vẫn hối thúc nhau tăng tốc hơn nữa và coi đó là hậu quả tất nhiên, một ân thưởng của các cuộc cách mạng kỹ thuật thời hiện đại. Xe máy, ô tô đã thay thế xe đạp. Cũng như thế, máy bay động cơ đã bị phản lực siêu âm truất ngôi. Lò vi sóng loại bỏ lò than nướng quạt tay. Thức ăn tăng trọng rút ngắn thời gian tích lũy thịt của con vật. Đánh máy vi tính thẳng tay xóa sổ lối xếp những con chữ in đúc chì kiểu nhặt cứt chuột thủ công, khiến cuốn sách dày ba trăm trang từ khâu chế bản đến khi ra lò chỉ còn một tuần, thay vì trước đây kéo dài hàng nửa năm. Nhanh, nhanh nữa lên! Như bị ma đuổi, người người trong vòng xoáy tốc độ chóng mặt, đã nhiều lúc kinh hoàng kêu trời: Sao tôi bận tối tăm mặt mũi thế này và quên dần nếp sống thảnh thơi thanh nhàn cùng thú thưởng hoa ngắm nguyệt. Đã lỗi thời rồi lối mài câu giũa chữ trong văn chương nghệ thuật. Tinh thần mì ăn liền quán triệt ở tất cả các lĩnh vực, từ tình yêu đến tiểu thuyết. Tiểu thuyết vốn là thể loại được phép đủng đỉnh la cà đang bị lên án. Yêu cầu nhà văn từ bỏ lối cà kê dê ngỗng. Xin chớ rườm rà. Khỏi phải miêu tả tỉ mẩn. Cả câu văn cũng thế, hãy tỉnh lược, hãy làm cho nó như nắm đấm bàn tay, chỉ còn toàn là gân cốt!

Nhưng mà thôi, thiên hạ thế nào cứ mặc họ. Còn tôi, nhân viên morasse, tôi cứ mắt soi, tay dò, một mình một nết lẩn mẩn lần mò phát hiện cái khiếm khuyết của câu chữ, tôi cứ việc tôi tôi làm. Và tôi không cảm thấy cô độc. Vì tôi có người cùng chia sẻ là ông Sùng, nhân viên đánh máy của cơ quan, bạn vong niên của mình.

Đã sắp đến tuổi hưu trí, khổ người thấp, vai xuôi, mặt đầy, má chảy, hai con mắt điềm tĩnh húp híp hấp háy đỏ ké lúc nào cũng như đang ở trong cơn ngái ngủ, ông Sùng là một khối ù ì, chậm chạp, lề mề, cổ lỗ. Ông rất ít nói. Và ngồi ở góc nhà âm âm tối, với chiếc máy chữ Optima cũ kỹ, kềnh càng, ông như một kẻ lạc lõng đứng ở bên lề đường, không ăn nhập gì với cảnh quan, môi trường. Cả tiếng con chữ táp đều đều trên mặt giấy của ông cũng vậy. Chúng lạc nhịp giữa những tiếng động rào rào êm tai của các bàn phím dưới những ngón tay búp măng của các nữ nhân viên vi tính mắt xanh, môi đỏ, mặc mini jupe, đi giày cao.

Xưa, ông Sùng là nhân viên đánh máy bậc cao đẳng. Mười ngón tay ông Sùng sau bốn thập kỷ mổ các nút chữ đã tù tù và thành chai dày bóng như bọc sừng. Mười ngón ấy đã hóa thân bao nhiêu trang chữ viết tay thành những trang chữ đánh máy sạch sẽ, rõ ràng và đẹp đến mức nhìn chúng không khỏi dâng lên trong lòng niềm ân ưu, kính trọng. Ôi, đứa con hoài thai thì nhem nhếch mà lọt lòng sao lại có thể kháu khỉnh khôi ngô thế! Ông đánh theo Méthode dix doigts, tân tiến. Đánh máy mà ông như một nghệ sĩ múa mười ngón tay theo điệu nhạc tinh tang phát ra từ chiếc máy. Ông đã truyền nghề cho ít nhất là một nửa nhân viên cơ quan, trong đó có cô Lũy tóc dài chấm gót, gái bốn mươi tuổi mà hơn hớn, mỡ màng, giờ là thủ quỹ cơ quan, ngồi ở cạnh ông, với cái két sắt lù lù nặng trịch một khối bên mình. Đó là thời thịnh vượng của chiếc máy chữ. Từ chữ viết tay biến thành chữ đánh máy là cả một cuộc nhảy vọt của nền văn minh. Tiếc thay, thời mà chiếc máy chữ vốn chỉ là một vật dụng hoạt động mang tính thuần túy cơ học được coi là một cỗ máy tối tân, chứa đầy phép lạ chẳng bao lâu đã hết mùa trọng vọng. Bây giờ cầm một trang chữ đánh máy, dù nội dung là một đơn từ khiếu nại chứa đựng một câu chuyện éo le hay một bài thơ tuyệt tác của Tagore, Byron hay Apollinaire, Akhmatova, người ta cũng đã thấy thoáng chút ngại ngùng. Miệng đã quen ăn của ngon, mắt đã quen nhìn cái đẹp mất rồi!

Chẳng còn được trọng dụng như xưa, biết làm thế nào được, nhưng còn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu và cũng nên tận dụng, hơn nữa cần phải tỏ ra là người ăn ở có tình nghĩa, biết đến công lao của người đi trước; vì vậy cơ quan chủ động đặt vấn đề và ông Sùng vui vẻ tiếp nhận. Ông Sùng vẫn làm việc với cái máy Optima, chiến binh vẫn cưỡi con ngựa già ra trận, nhưng thay vì đánh máy những trang bản thảo văn thơ ra tấm ra món, nay ông chỉ còn đánh những công văn lặt vặt trong nội bộ cơ quan thôi.

Làm sao có thể cưỡng lại logic và lịch sử? Mà cưỡng lại làm gì! Con người có quyền mong muốn được hưởng lợi nhiều hơn. Nhưng con người cũng nên thường xuyên làm mới tài sản nội tâm của mình để hiểu rằng, công bằng mới thật sự là lẽ cao cả mà họ phải chấp thuận. Ông Sùng nghĩ vậy và ông bằng lòng với công việc được giao, một công việc nhỏ mọn, nay càng nhỏ mọn vì đã mất đi ý nghĩa thực dụng rồi.

Tạch tạch tạch… Cọt cọt cọt… Thời gian không hiện diện. Thời gian đang hóa thân vào tiếng những con chữ va đập một hiệp âm nhỏ giọt đều đều từ tay ông Sùng sản ra. Tiếng máy chữ của ông Sùng đang chứng tỏ một điều quan trọng nữa, bên cạnh sự chuyển động gấp gáp, những tốc độ chóng mặt, cuộc sống còn một dạng tồn tại nữa là sự điều hòa, tuần tự nhi tiến, nhỏ giọt, giống như một sự tích tụ, thẩm thấu hằng ngày.

Tạch tạch tạch… Tiếng những con chữ đập vào mặt giấy đều đều là sản phẩm được tạo ra từ những ngón tay của ông Sùng. Những ngón tay thô tháp thuần thục, lành nghề đến mức có thể nghĩ chúng làm việc trong một cơ chế tự động hoàn toàn. Không còn là biểu hiện của lao động có ý thức, tiếng những con chữ đập vào mặt giấy đã thoát xác, chỉ còn là những âm thanh bay bổng, khai triển từ một nguồn thần lực trừu tượng nào đó mà thôi. Có cảm giác thật là như thế, vì đôi lúc ngoảnh lại nhìn ông Sùng, tôi thấy mặt ông lặng tờ, mắt ông nhắm tịt, ông đang ở trong trạng thái ngưng thần, mất ý thức, bị thôi miên; trong khi những ngón tay ông như tự thân vận động, như phản xạ vô điều kiện, vẫn mải mê và nhịp nhàng nhấn, mổ từng nút chữ. Công chức vốn là những kẻ dễ bị thôi miên nhất. Chỉ cần làm cho họ nghĩ tới công việc là họ có thể ngủ thiếp đi liền. Tôi nhớ tới lời một nhà thôi miên, cùng lúc bên tai tôi vang vang lời cô Lũy thủ quỹ tóc dài, ngực nở, mắt lóng lánh, tay đang mở két sắt, ngoảnh mặt sang cất tiếng lảnh lót gọi ông Sùng:

– Này, cuộc đời chỉ có gang tay, ai hay ngủ ngày chỉ có nửa gang. Dậy đi chứ, ông Sùng!

Rồi vẫn thấy ông Sùng không hề động đậy thân mình, cô liền quay sang tôi, cam đoan với tôi rằng, ông Sùng vẫn đang trong cơn mê thiếp.

– Đấy, có nghe thấy tiếng lão ấy ngáy không?. Cô Lũy nói.

Cô bảo, ngồi cạnh ông cả hai chục năm nay, cô đã thấy ông như thế. Nghĩa là ông vừa đánh máy vừa ngủ, ngủ và làm việc, cả hai việc song hành một lúc.

– Lão ấy ngủ thật đấy!. Cô Lũy nhấn mạnh.. Mọi người nói gì lão cũng không biết đâu!

Ông Sùng vừa ngủ vừa đánh máy, ông ngủ trong khi thực thi bổn phận. Hay là trong ông có hai cơ chế cùng lúc hoạt động? Thì đã chẳng có chuyện bộ đội ta hồi đánh Pháp, mệt quá có lúc vừa hành quân vừa ngủ đó sao! Nghĩa là chân cứ bước và trí não cứ vào cơn mê thiếp. Nghĩa là việc này chẳng hề ảnh hưởng tới việc kia. Hay thật sự ông bị chìm ngập trong giấc miên trường, vì lý trí thăng hoa biến hóa thành cơn đam mê mang tính bản năng vô thức? Nhưng mà thôi, quan trọng là cái đích. Lợn con đến chợ thì củ chuối cũng đến chợ. Mỗi người một cách đi tới. Ông Sùng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khác người chăng là ở chỗ, ông vừa ngủ vừa làm việc và chẳng hay biết gì xung quanh thì cũng là một phong thái sống riêng của ông, nào có phương hại đến ai!

Ông Sùng không hay biết người ta đang bàn về nhân sự các chức vụ lớn của quốc gia, nhân cuộc họp thứ sáu của Quốc hội khóa 10. Chuyện quốc gia đại sự ấy cũng như việc cá ba sa, cá tra của ta bị Hiệp hội Cá nheo Hoa Kỳ vu cáo là bán phá giá ở nước họ làm cho họ thiệt thòi, ông nào có hay biết.

Ông không hay biết mà hình như cũng chẳng có nhu cầu được biết lý do vì sao người Israel, con dân của Đức Chúa Jesus lại đánh nhau triền miên mấy chục năm như thế với người Palestine đạo Hồi. Bin Laden, trùm khủng bố quốc tế còn sống hay chết dưới màn mưa bom bão đạn của Mỹ ở Afghanistan. Công ty viễn thông khổng lồ WorldCom Hoa Kỳ làm ăn gian trá vừa đệ đơn xin phá sản rốt cuộc sẽ là thế nào, ông cũng chẳng bận tâm.

Sung sướng quá một người sống ở giữa đời mà chẳng cần biết đến những rắc rối, eo sèo, phiền toái ở ngoài đời. Sung sướng quá được hái quả dại trong rừng. Nhìn ông, ta có thể nghĩ đến câu thơ nọ của Szymborska, nữ thi sĩ Ba Lan, được giải thưởng Nobel. Con người sống khép kín với bản thể mình, xa cách và không chịu sự chi phối của ngoại vật, của số đông thì cũng là một cách sống ung dung tự tại chứ sao!

Ấy thế, ông Sùng là kẻ vô tư. Việc to đến việc nhỏ, việc ở xa cũng như việc ở gần, ông cũng chẳng bận tâm. Ở ngoài cuộc tất, ông chẳng hay biết những việc xảy ra ở cơ quan ảnh hưởng sát sườn đến mọi người và đang trở thành đầu đề bàn tán của đám công chức trẻ già hơn ba chục con người chúng tôi. Ông bỏ ngoài tai tất. To như chuyện ông giám đốc vừa tậu một biệt thự bốn tầng rất nguy nga ở giữa làng hoa Nghi Tàm ngoại ô, giá những ba tỉ đồng. Tiền đâu ra? Lấy từ nguồn nào ngoài công quỹ mà vừa rồi ông lại còn cho hai đứa con, một du học ở Mỹ, một đi Nga. Ông đang giàu sụ lên? Cả tay trưởng phòng Kế hoạch in. Cả tay phó giám đốc Kinh doanh nữa. Không hà lạm vào công quỹ thì là gì? Trong khi đó nhiều anh em sắp rơi vào diện xóa đói giảm nghèo vì ngoài lương cơ bản ra cả năm nay không có lấy được một đồng tiền thưởng gọi là có. Nhỏ như chuyện cô Thúy tạp vụ chồng bí mật lấy vợ hai vừa đẻ một thằng con trai có cặp mắt lé rất giống ông Liễn trưởng phòng, trong khi đó lại nhận một chiếc xe máy, hai cân tam thất của tay trưởng phòng Kế hoạch in. Ngoại tình bồ bịch đang là mốt thời thượng. Đời sống đang tiến lên hay đang thụt lùi, trong khi cơ quan mấy chục mống mà phát hiện ra gần mười cặp đã có cơm lại còn thích ăn quà!

Ông Sùng vừa đánh máy vừa ngủ. Ông ở ngoài dòng thời thế. Ông không đoái hoài tới cả thời gian, cả sự mong manh lẫn tính vĩnh cửu của nó. Ba tháng hè năm nay gần như đã mất hẳn tiếng ve sầu kêu ra rả vì mưa đổ ầm ầm gần như suốt tháng Sáu, tháng nóng nhất của mùa viêm nhiệt. Ông không biết đến cơn gió đi qua ngõ đùng đình đủng đỉnh là đặc trưng của mùa thu đã tới với bao xao xuyến, e ấp ngỡ ngàng. Đành là vậy. Nhưng không chỉ có vậy. Ông Sùng ngủ trong lúc làm việc và ông quên luôn bản thân mình, con người mình, tiểu sử đời mình.

Tập thể đồng nghĩa với một đám đông các cá thể phát huy cao độ thói đố kỵ, hay ghen ghét dòm dỏ lẫn nhau. Ông Sùng không ở ngoại lệ, ông cũng là đối tượng để người ta soi mói, bàn bạc. Lão già xỏ nhầm giày! Chính là bà Oanh, một người phụ nữ đẹp, tai quái, nhân tình của ông giám đốc, trưởng phòng In của Nhà xuất bản, tặng biệt danh đó cho ông! Biệt danh có mùi vị xú danh nọ là để chỉ định một lầm lỗi nặng nề về chính trị của đời ông, đời cha ông. Bà Oanh, tệ hại thay, lại là người cùng làng với ông. Bà kể: Thì chính mắt tôi đã thấy thằng cha Biền, bố ông ta, năm 1953 mặc bộ quần áo lính vàng khè, đeo lon trung úy ngụy về làng thăm gia đình trước khi bám đít quan thầy nó là bọn đế quốc Pháp tếch vào Sài Gòn. Chà chà, thế hóa ra ông Sùng là con một kẻ theo địch, con một tên Việt gian. Ấy thế nên cũng đi bộ đội thời đánh Pháp, rồi cũng được đi đào tạo ở đại học rồi đấy, có bằng cử nhân Văn khoa hẳn hoi rồi đấy mà vẫn chỉ là kẻ xỏ nhầm giày, đi con đường trái nước ngược gió, quýt làm cam chịu, mang tội tổ tông nên cuối cùng danh phận cũng chỉ là anh nhân viên đánh máy quèn, xếp hạng bét trong giai tầng xã hội. Trong khi đó, ông giám đốc chưa qua lấy một ngày vác súng đánh giặc, xuất thân chỉ là anh thợ nề, từ lúc được bầu vào Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở là cứ lên như diều, sắp tới nghe đâu đang được dự định đưa đi đào tạo cục trưởng Cục In ấn, Xuất bản.

Mắc tật khiếm thính, bưng tai giả điếc hay buồn nản chán chường thây kệ sự đời mà ông Sùng không hay biết cả đến những lời đàm tiếu của các đồng nghiệp về mình? Từ cái dáng vẻ già nua, xưa cũ, thói quen vừa đánh máy vừa ngủ đến cái thú riêng tư nói năng văn vẻ và thích làm thơ của ông. Những bài thơ ông làm và những câu nói của ông cũng là đề tài để người ta đem ra giễu cợt. Đời tôi chỉ có thơ và L. Đó là một tuyên ngôn có màu sắc bí ẩn của ông. Thơ thì rõ rồi. Ông có đến một trăm bài tứ tuyệt, toàn loại thơ tức cảnh sinh tình. Nhưng còn l? l là Loan, tên vợ ông, một bà bán hàng quà ở chợ Hàng Da, một người đàn bà vô sinh, sồ sề như cái đụn rạ, động mở miệng là chê bai ông dở người, cám hấp và bất lực nên mới đây đã chủ động viết đơn đòi ly dị ông. Hừ, nhưng nếu sự đời đơn giản thế thì nói làm gì. Vì l còn có thể là ai nữa chứ! Lũy chẳng hạn? Ôi Lũy, cô thủ quỹ trẻ tuổi, tóc dài như suối, mình mẩy mỡ màng, mặt tươi hơn hớn, cô học trò được ông truyền nghề đánh máy! Lũy đẹp phồn thực thế mà phúc phận kém cỏi, hai đời chồng đều chẳng ra gì. Người thứ nhất, nghiện ma túy chết. Người thứ hai đang lĩnh án tù hai mươi năm vì dính dáng đến một vụ buôn bán phim ảnh đồi trụy. Lũy rất có thể là cái đẹp gặp rủi ro động lòng trắc ẩn của ông Sùng lắm chứ! Lũy có thể là mối tình thầm của ông. Lũy được xếp hạng ngang với thơ. Thì ra lão già xỏ nhầm giày này còn là một gã đa tình vẩn vơ. Rõ ốc chẳng mang nổi mình ốc lại còn làm cọc cho rêu! Rõ c. nát còn đòi có chóp chưa! Bà Oanh chế giễu ông Sùng cay độc vậy. Bà bảo: l là Lũy đứt đuôi con nòng nọc rồi, chứ chả lẽ nó là cái của nợ ấy của tớ à? Hé! Chứng cứ là câu thơ lão làm đây: Anh ôm em và ôm cả mái tóc dài của em. Rồi bà cười khành khạch: Có phải lão ngủ khi gõ máy chữ đâu, lão mơ tưởng cái l đấy. Nhưng cái l nó có để ý đến lão làm thèm!

Chẳng cần biết đến mọi chuyện của thiên hạ, kể cả những lời bàn tán về thân phận mình. Vì chán nản lắm rồi, vì tuyệt vọng hoàn toàn rồi? Là thế chăng tâm sự của ông, tấn bi kịch nhân sinh được thể hiện trong một cá thể thông thường phổ biến? Hay đó là thái độ điềm tĩnh, chấp nhận của ông? Thì cũng có gì là lạ đâu. Xã hội không phải là một thực thể thống nhất, xã hội chỉ là một thực thể thống nhất xác suất thôi. Có nghĩa là con người còn bị chia tách, nhưng trong khi đó, sống chung với nhau lại là một tất yếu không thể tránh được. Nghĩa là phải sống với người khác trong cùng lúc sống với chính mình. Nghĩa là tự do của mình, thế đó, chỉ được sử dụng thật xứng đáng khi nó phát triển theo thiên hướng tự nhiên, tức hài hòa với mọi người thôi.

Hay ông Sùng là con người an nhiên với số phận của mình, vì từ bản tính tự nhiên, ông bằng lòng với mọi sự an bài? Tri túc, thường túc. Biết đủ là đủ. Nghĩa là trong khi phần lớn đời mọi người được đồ thị hóa bằng một đường cong vút lên cao, biểu hiện tham vọng, rồi từ từ hạ xuống do thỏa mãn hay thất vọng, thì đồ thị đời ông chỉ là một đường thẳng nằm ngang, bình lặng, đều hòa. Ôi, ông Sùng, bạn vong niên, đồng thanh tương khí của tôi! Ông Sùng dẫu thế nào cũng vẫn là điều ẩn mật chưa được giải tỏ. Và thú vị thay, tôi nhận ra người quyết tâm làm sáng tỏ điều ẩn mật này lại là cô Lũy học trò của ông.

Anh có thấy lão Sùng giống loài chim không? Một hôm, đột ngột Lũy bảo tôi. Và không để tôi kịp ngạc nhiên, cô đã ghé tai tôi, giải thích: Những con chim di trú, bay về phương Nam tránh rét khi mùa đông về ấy. Anh có biết không? Chúng vừa bay vừa ngủ. Vì chỉ có thế chúng mới có thể bay ngày này qua ngày khác để đến đích được. Chỉ có thế chúng mới có thể bay tới đích xa tít cả vạn cây số được!

Ôi, những con chim di trú! Đó là những con chim từ phía Bắc nước Mỹ khi mùa đông băng giá về, họp lại thành từng đoàn, vẫy cánh bay qua các đô thị, các cánh đồng rừng cây miền Tây nước Mỹ rộng lớn, rồi vượt biển Mexico, đường trường có đến cả mấy vạn cây số, để đến đích là bờ biển Panama ở Nam bán cầu đầy ắp ánh mặt trời ấm áp. Trong những loài chim bay tránh rét ấy có giống chim ong bé tí xíu, cánh như hình chiếc chong chóng của máy bay trực thăng, có thể vỗ liên tục tít mù hàng chục giờ đồng hồ liền, chẳng biết đến ngưng nghỉ, mệt mỏi là gì.

Những con sếu ở sa mạc Gobi cũng vậy. Mùa đông tới, nhiệt độ ở sa mạc lớn nhất hành tinh này tụt xuống âm sáu mươi độ. Còn có cách nào hơn là đàn sếu phải cất cánh bay về xứ sở nóng ấm mặt trời là đất nước Ấn Độ xa xôi kia! Nhưng đường bay của chúng đâu có ngắn ngủi! Nó dài những hai ngàn dặm! Vậy là đàn sếu phải hợp đoàn, rồi hướng về phương Nam, cùng cất cánh. Và trong khi bọn chim ong tí hon trên kia phải vượt qua biển Mexico rộng bao la thì những con sếu cẳng dài cánh lớn ở đây phải vọt lên cao để bay qua sơn mạch Hymalaya trùng trùng thành lũy có độ cao bình quân bảy, tám ngàn mét, tiêu biểu là ngọn Everest tám ngàn bốn trăm bốn mươi tám mét chọc trời ngạo nghễ quanh năm tuyết đọng mây che. Núi tiếp núi giăng hàng hiểm trở suốt ba tuần liền dưới cánh bay của đàn sếu. Gian nan kể sao cho xiết những cuộc bay trường chinh vạn dặm của những cánh chim! Phải nương theo chiều gió để đỡ tổn sức. Phải hợp thành đội hình để nương tựa lẫn nhau. Thực tiễn đã chứng tỏ lũ sinh vật có cánh này có thể nhịn ăn cả tuần, vì đã dự tính nên khôn ngoan tích tụ chất bổ dưỡng trước chuyến bay xa; nhưng còn nghỉ ngơi, dưỡng sức, ngủ nghê? Vậy là phải tìm cách tồn tại trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Nghĩa là, vẫn cứ được ngơi nghỉ thoải mái mà vẫn cứ chuyển động theo nhịp cánh bay, vẫn bay theo nhịp cánh vỗ khoan thai, từ tốn, thậm chí điều hòa đủng đỉnh, nhưng đó sẽ không phải là cuộc dấn thân phiêu lưu mạo hiểm mà là cuộc bay theo phương châm khắc đi khắc đến quả cảm và tự tin! Vì cuối cùng hiện lên dưới cánh bay của đàn sếu sẽ là đất nước Ấn Độ nóng ấm nhiều hoa thơm quả ngọt. Và những con chim ong cũng vậy, chúng cũng không bị rớt xuống biển Mexico đâu; vừa bay vừa ngủ thiếp đi, nhưng như Kinh Thánh đã dạy: Kẻ đi tìm sẽ thấy. Chúng cũng sẽ đến bờ biển Panama, ở đó có loài hoa tím cánh to, nhụy đầy mật; ở đó, ngay trên bờ cát, trong những đám rong từ biển dạt vào, có vô số mồi ăn là bọn tôm tép.

Thế còn những con ngỗng trời đang giăng hàng bay qua mặt hồ lớn của thị trấn quê hương tôi đây, chúng bay đi đâu, chúng có đến được cái đích chúng đang kiếm tìm?

Chiều cuối thu nay, ngồi ở bãi tắm bên hồ, ngước lên cao, tôi hỏi ông Sùng. Ông Sùng bảo, chắc nó bay về đồng bằng sông Cửu Long thuộc Nam Bộ nước ta. Mùa hè đã qua, các nhà nghỉ đều đã lần lượt khép cửa trước các viên chức nhà nước. Số phận hẩm hiu lại thuộc về tôi và ông Sùng. Chúng tôi là những kẻ đến nhà nghỉ bên hồ này chậm nhất, như bản tính và thói quen lề mề của chính mình.

Nhưng như vậy thì có sao đâu! Con người luôn biết cách tạo ra niềm vui cho chính mình. Cởi bỏ bộ áo bà ba nâu thẫm và cái mũ len màu kiến vống giống cụ từ giữ đền hay nhà sư, ông Sùng đội mũ cát két trắng, đi xăng đan da trắng, mặc áo phông và quần soóc trắng. Thêm chiếc máy ảnh Canon móc lủng lẳng ở ngón tay, thoắt cái đã thấp thoáng ở nơi ông bóng dáng người đàn ông sành điệu hào hoa. Ra khỏi cái góc nhà nhiễm không khí ngái ngủ, vẻ như đã thoát khỏi cái xác phàm ù ì chậm chạp, ông chan hòa với cảnh quan xanh tươi của vùng hồ.

Hai ngày liền, ông Sùng rủ tôi tắm hồ xong là thuê thuyền bơi ra hòn đảo ở giữa hồ. Ở hòn đảo ấy có một căn nhà sàn cho khách thuê phòng trọ qua đêm. Khách ở đây có thể thuê cần câu câu cá và nấu ăn lấy ở ngoài trời. Đã là cuối mùa nghỉ. Căn nhà sàn chỉ có hai chúng tôi là khách trọ và cô đơn trong trò chơi câu cá hồ. Đã tưởng là phải chấp nhận thiệt thòi trong cảnh sắc vắng vẻ, hóa ra chúng tôi lại may mắn được gặp mùa thu trọn vẹn, với hình hài nguyên thủy, thuần khiết nhất của nó.

Trống vắng chế ngự cả một mặt hồ rộng rung rinh, đẩy bến bờ ra xa tít tắp, mùa thu hào phóng chất đầy tĩnh lặng quanh chúng tôi và nới rộng trời mây đến vô cùng. Im lặng, hoa cúc quỳ vàng hoe nở hết mình trong các búi cây lực lưỡng bên hồ. Ôi, hoa cúc quỳ vạm vỡ vàng tươi mà ta thì mảnh khảnh; đó là câu thơ của thi sĩ Trần Quốc Thực tôi sực nhớ khi chợt nhìn thấy cúc quỳ bên những biệt thự mái đỏ chót màu hoa dong riềng ẩn hiện sau những cánh rừng thông lá nhọn mới gây trồng. Quanh hồ là con đường lát bê tông dài mười ba cây số êm ả như một đường chỉ thêu. Giống như những chiếc nấm sặc sỡ là những chiếc ô dù ở các quán giải khát ven hồ. Mỗi chi tiết cảnh vật ở đây đều từa tựa một đồ vật đã qua chọn lọc trong một căn buồng được bày biện theo một ý niệm tiên thiên bí hiểm. Bí hiểm như ngọn gió thu từ một nơi nào đó trên trời cao đột ngột rót xuống, luồn qua làn áo lót, thoa vuốt hai bên sườn tôi, cho tôi một cảm giác đê mê, khiến tôi đưa mắt nhìn ra bỗng thấy mặt hồ như chao nghiêng và ánh lên màu xanh óng ánh của thứ xa tanh cao cấp. Quên bẵng đang là buổi hoàng hôn một ngày thu ngắn ngủi, bốn phương trời trong chốc lát như bừng dậy làn ánh sáng bình minh non tươi của thuở mới khai thiên!

Nghe thấy tiếng không khí trên cao như đang vỡ nhè nhẹ từng vụn nhỏ, tôi ngẩng lên và nhận ra, trên thiên đình, một đàn ngỗng trời đang dang hàng thành hình chữ V mềm mại yên bình vỗ cánh bay qua. Đàn ngỗng trời bay về phương Nam tránh rét! In xuống mặt hồ trong suốt lúc này là hình ảnh âm bản của những sải cánh trắng lóa và huyền ảo, chúng đang lặng lẽ nhích dần qua lớp phông màn là vòm trời xanh mơ lộn ngược dưới đáy hồ. Những con ngỗng trời đã vào cuộc, đã hiểu rõ nỗi khó nhọc đường trường, đã biết tự lo liệu, đang bay theo phương cách, lựa theo chiều gió, vừa bay vừa dưỡng sức; im lặng, chúng giống như một mũi tên tự tin, bay thẳng tới đích xa!

– Đàn ngỗng này đúng là những thi sĩ có cánh tự do và lãng mạn vô cùng. Chúng đang bay về miền Tây châu thổ sông Cửu Long đó. Cha tôi hồi xưa chưa vào Nam hoạt động bảo tôi vậy. Miền Tây châu thổ sông Cửu Long là một vùng sông nước. Một năm chỉ có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Ở đó, tôm cá nhiều vô kể. Có những đìa, người ta phải rẽ cá để lấy nước. Khách đến nhà, bắc nồi lên rồi mới ra sau nhà, lội xuống kênh bắt cá.

Trả lời câu hỏi đàn ngỗng trời nọ bay về đâu của tôi, ông Sùng đáp vậy. Rồi ông mỉm cười. Chắc là ông nhớ tới cái cách ví ông giống những con chim di trú của cô Lũy.

– Không phải bây giờ khi bố tôi đã trở về trong chức vị thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau gần ba mươi năm hoạt động trong lòng địch tôi mới nói, nên anh có thể bảo tôi là nói phách gặp dịp đâu.

Miệng tủm tỉm cười, ông Sùng nói tiếp:

– Không bao giờ, chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ tôi nghĩ cha tôi là viên trung úy ngụy quân từ phần xác đến phần hồn cả. Thơ cho tôi niềm tin tưởng, sự trong sạch cao thượng. Anh ôm em và ôm cả mái tóc dài của em! Tình yêu cho tôi lối tắt tới Thiên đường. Chính là cô ấy đấy. Khi cô ấy buồn vì đời bất hạnh, tôi nói: Còn những người đàn ông im lặng như ngủ quên giữa cuộc đời, nhưng thật ra là rất tốt, cực kỳ tốt đang chờ em phát hiện đấy, L à. Tôi nói thế có đúng không, có tự thị, có ái kỷ quá không, anh?

5/8/2002

10/10/2004