Khóa ơ!
Anh thợ chữa khóa phốc lên cái xe đạp cà khổ, hếch mông, nhún chân đạp. Cái xe không mác, khung bong hết sơn, nốt hàn sần sùi, không chắn bùn, không chắn xích, xích rão rượi, mỗi bước chuyển nghiến vào nhau nghe ghê cả tai; gặp chỗ đường lồi lõm, cái hòm đồ nghề đèo ở sau xe nảy lọc cọc còn hơn ngựa băm vó trên đường rừng. Con ngựa sắt của anh, chiếc xe đạp của anh, sở dĩ chuyển động được có nhẽ vì nó còn có hai bánh xe tròn và hai vòng bi. Tròn thì phải lăn, vòng bi thì phải quay, sự chuyển dịch hóa ra là lẽ đương nhiên. Cũng như con người ta thoạt đầu sinh ra là một ngẫu sự, nhưng kéo dài kiếp sống tình cờ lại là một hành động có ý thức, chứ không thể là sự phó mặc.
Người sao của vậy, anh thợ chữa khóa ngự trên cái xe cà rịch cà tàng nọ, cũng đồng hạng một chủng loại già nua và phế phẩm như chiếc xe của anh. Ngoài bốn mươi một tí, nhưng trông anh già hơn tuổi. Anh cao lòng khòng, đen quắt, mặt gồ ghề, mắt lỗ đáo, ria điểm bạc tua tủa như lông nhím. Anh đánh cái quần bộ đội cũ, cụt ống, mông đắp hai miếng vá tổ bố. Cái quần ngắn, lại xắn cao, mỗi lần anh nhâng chân đạp lại trồi cái đầu gối củ lạc ra, trông như tranh biếm họa.
Cả người anh chỉ được cái tiếng rao. Khóa ơ! Cái tiếng rao trẻ trung, tựa như lọt ra từ một cơ thể tràn trề sinh lực và được nuôi dưỡng trong nâng niu trìu mến. Khóa ơ! Giọng tròn, ấm, anh tự giới thiệu nghề nghiệp với mọi người. Khóa ơ! Nghe tiếng anh rao chợt nhận ra anh đang ca tiếp cái giai điệu đã định hình, định thanh từ ngày xửa ngày xưa, khi chưa có anh, chưa có tôi. Tiếng rao ấy có từ thời có sự phân chia nghề nghiệp, được thời gian thử thách, chọn lựa, trở thành bất di bất dịch, in vào từ điển ký ức của con người.
Anh thợ chữa khóa nhong nhong chiếc xe đạp cà tàng, ngoắt ngoéo vào các ngõ ngách phố phường, cất tiếng rao, chắc hẳn là tự biết mình đang hòa nhập vào đội quân đông đảo nghề ngỗng linh tinh như anh. Như anh, có người cưỡi xe. Lại có người đẩy xe. Không ít người gánh, đội, cắp nách đồ nghề đi rong. Thôi thì đủ, đàn ông, đàn bà, già, trẻ, lớn, bé. Và giống anh, tất cả đều cất tiếng xưng danh, mời chào. Ấy thế, đã đi rong là phải có tiếng rao. Và nghe tiếng họ rao, ta mới nhận ra rằng, đa số người trong bọn họ đang tiếp nối cái nghề đã trở thành truyền thống xa xưa, với đủ các giai điệu, tiết tấu trầm bổng, nhanh chậm thật đặc thù và đã được chế định hẳn hoi rồi.
Cô hàng rượu nếp có dáng đi chọn lọc là bao giờ cũng thong dong, tênh tênh cái gánh hàng nhẹ nhõm, thả cái tiếng rao mềm như sợi lạt giang ngâm nước nghe đến là la đà: Ai rượu nếp ra mua! Lảnh lót thì phải nói đến mấy cô hàng rau trẻ. Các cô có dáng te tái như vừa đi vừa chạy. Và rau cỏ trong tiếng rao của các cô là một đám líu ríu những su hào, cải bắp, cà chua, xà lách, hành tỏi, tối tăm cả mặt mũi khách hàng. Khác hẳn với mấy cô bán rau, mấy bà thu mua các mặt hàng tầm tầm mà tiếng rao lại bay bổng như là hát dân ca. Ấy là mấy bà thu gom tả pí lù, từ vỏ chai, lon bia, bìa các tông, hộp xốp đến giấy vụn. Nghĩa là trăm thứ bà giằn mà các bà chỉ buông mỗi một câu đã có từ thuở khai thiên, với cái giọng chênh vênh cùng một ngữ âm cổ lỗ và từ vựng thì đã mất ý nghĩa từ nguyên: Ai cháo trai, bao chè, đồng nát đơi! Thu mua phế liệu gần đây là một nghề mới, mang đặc điểm thời đại ở tốc độ gắt gao nên nhiều ông hùng hổ lắm: Survolteur, bàn là cháy, máy bơm hỏng bán đê! Cái lối tuôn ra một tràng tiếng giật cục như thế, khiến người ta nhớ đến cách nhấn trọng âm để gây ấn tượng của anh bán tiết lợn: Tiết canh đi!, hoặc như làn roi quất vụt vào không khí của anh chuyên nghề tẩm quất. Trong đêm lạnh nghe hai tiếng khúc đê đã thấy cái miếng bánh khúc nóng hôi hổi bọc trong lớp xôi trắng dẻo và cay mùi hạt tiêu nóng ấm thơm sực. Tiếng giầy giò nghe chân phương, thật thà, nục nạc, xưa rày vẫn vậy, đến nỗi có cảm giác cả cái thúng người nọ đặt trên đầu, cái mũ nồi anh ta đội, cái dáng lêu đêu của anh ta, cũng là cha truyền con nối! Tiếng rao nâng lên cao độ, rồi buông thả chơi vơi ở âm tiết sau cùng, có sức truyền cảm thật rộng chính là của ông bán tào phớ. Tung tênh một bên là chiếc thùng gỗ thông vàng ươm, một bên là cái tủ con đựng bát thìa, ông đi vào ngõ nhỏ và tung lên trời độc một nguyên âm ơ kéo dài ra mà thôi. Chỉ vậy thôi, chỉ một tiếng ớ là trẻ con lếch thếch lôi mẹ, theo mẹ ra cửa, với cái bát sứ trắng bong trên tay rồi.
Tiếng rao của các nghề rong đường vậy là đã được mã hóa, đã được ước định. Nó trở thành âm nhạc của nghệ thuật quảng cáo và giao tiếp mà anh thợ chữa khóa của chúng ta đã tiếp nhận được.
Khóa ơ… ơ… ơ…
Anh thợ chữa khóa gia nhập đội ngũ những người làm dịch vụ, các thứ nghề vụn vặt, linh tinh trong đời sống. một lớp người đông đảo, ngày càng đông đảo lên, sau một thời gian họ gần như bị tuyệt diệt hoặc phải lén lút hành nghề. Xã hội công hữu hóa triệt để cực đoan, hóa ra quá bất tiện và phiền hà. Cuối cùng sự cưỡng chế đã thua dòng chảy tự nhiên. Mưu sinh, tự lo toan hóa ra là cuộc sống khởi thủy, vĩnh hằng, là dòng sông tuôn chảy dồi dào, phù hợp với cái hăm hở vốn có của con người. Phải sống! Phải lăn lưng vào cuộc sống. Phải chịu thương chịu khó. Phải chăm bới đất nhặt cỏ. Phục vụ người, ta lại được phục vụ lại, ấy là cái vòng tròn tự nhiên của đời sống. Không tin ư? Thì một hôm nào đó nằm yên trong nhà, bạn hãy để trí não thành chiếc máy ghi âm thu nhận những tiếng rao đi qua cửa, bạn sẽ thấy đó thật sự là một dòng chảy sinh động, tươi vui, trong đó người giao tiếp với người thật bình đẳng, nồng nàn.
Khóa ơ… ơ… ơ…
Anh thợ chữa khóa, tặng cho đời sống một nốt nhạc nhỏ, góp vào khúc hòa tấu vui vẻ của đời người. Anh thợ chữa khóa làm nên cái mắt xích cuối cùng để khép kín một vòng tròn nho nhỏ. Có nhu cầu thì có sản xuất. Có sản xuất thì có tiêu dùng, có thỏa mãn nhu cầu. Có của cải thì phải có sự bảo vệ. Khóa có công năng bảo vệ nên nhà máy khóa ra đời. Nhưng khóa gì thì cũng có lúc hỏng hóc. Sửa chữa cái hỏng hóc là phải nhờ tay anh thợ chữa. Anh thợ chữa khóa đứng trong cái vòng tròn nho nhỏ như vậy. Những cái vòng tròn ấy chúng giao thoa với nhau.
Anh thợ chữa khóa hiểu cái vị trí của anh nó quan trọng nhưng rất khiêm tốn nên anh vô tư và cần mẫn lắm. Thường ngày, kể cả Chủ nhật, anh xuất phát từ nhà, vòng qua khu Giảng Võ, sang khu Thành Công, dông lên Thủ Lệ, rồi quay xuống khu Ngọc Khánh của tôi. Lịch trình như thế là rất ổn định. Anh cứ việc dẻo chân đạp và cất tiếng rao chào mời, cho đến khi có người yêu cầu.
Anh dừng xe. Người có khóa hỏng hóc đưa khóa anh xem. Anh xem, rồi anh rao giá. Người nọ mặc cả. Thường là chóng vánh. Vì không đáng là bao. Hai nghìn đồng, lại làm thêm một chìa nữa, cũng chỉ bằng một bát phở tái. Ngã giá là anh bắt tay vào việc.
Anh dựa xe, tháo dây, bê cái hòm đồ nghề ở sau xe xuống. Đó là một hòm đạn pháo băm bảy ly, gỗ thuộc loại tứ thiết. Mặt hòm, cạnh hòm sứt sẹo, nham nhở vết giũa, vết đập. Vì mặt hòm kiêm luôn nhiệm vụ cái đe. Mở nắp hòm, anh lôi bộ đồ nghề ra. Thật đơn giản. Một cái búa. Mấy cái kìm to, nhỏ. Dăm loại giũa. Hai chùm phôi chìa khóa đủ loại. Và một ít dây chì, dây nhôm. Quan trọng ở đây là kỹ thuật, tức chất xám. Cầm cái khóa hỏng trên tay, bóp nhẹ vài cái, lập tức trong anh xuất hiện một con mắt thấu thị soi tận vào gan ruột chiếc khóa, biết ngay được cơ chế và chỗ hư hỏng của nó. Rồi có ngay phương án sửa chữa. Trong trường hợp nó là khóa bi, bập khóa rồi để mất chìa thì trước hết phải tháo mở nó ra. Việc này khá đơn giản. Chỉ việc khoét hết thiếc nhôm hãm ở các lỗ nhỏ cạnh sườn khóa là bi tọt ra cả và vòi khóa cũng sẽ bật ra. Xem cách đặt bi sẽ biết ngay hình dáng cái chìa.
Bước tạo chìa thực hiện chủ yếu bằng giũa trên phôi khóa. Theo cách sắp bi mà tạo ra hệ thống răng cưa thích hợp ở chìa. Việc này đòi hỏi sự tinh tế ở con mắt, ở bàn tay. Vì ngoài sự rắc rối về đường nét răng cưa còn phải tìm được cái lẫy chính của khóa. Cái giũa xoèn xoẹt liên tục. Nhưng cũng phải ngưng liên tục để tính toán, già tay là mắc, non tay là mất nhạy. Phải liên tục vi chỉnh. Mà vi chỉnh ăn thua là ở cảm giác bàn tay, bàn tay anh, bàn tay vàng, bàn tay có mắt, có trí tuệ, mẫn cảm tuyệt vời.
Tôi chúa là hay lơ đãng.
Khóa cửa Việt Tiệp. Khóa tủ Trung Quốc. Khóa xe đạp Mifa… mất chìa như cơm bữa. Có bận tôi để rơi đâu cả chùm. Có hôm phải gọi xích lô chở cả chiếc xe đạp về nhà, rồi mới mời được thợ đến mở khóa.
Thế là tôi quen anh thợ chữa khóa nọ.
Anh giũa, anh đập. Tôi ngồi cạnh anh, vừa xem anh làm vừa trò chuyện.
– Anh học ở đâu cái nghề này thế?
– Nghề nghiệp gì đâu, anh! Khéo tay hay con mắt thôi mà.
– Thì cũng là một nghề đăng ký trong danh mục nghề nghiệp!
– Ngẫm ra thì cái nghề nhỏ mọn này cũng giống như cái nghề khác, tức là trước hết trong mình phải có sẵn một cái gì đó, chẳng hạn, một gói thuốc nổ. Học tức là châm cái que cháy vào cái khối thuốc nổ đã có sẵn đấy thôi. Tôi từ nhỏ đã hay tò mò, tí táy.
A! Tôi đã mở được cái khóa cửa lòng anh. Hóa ra con người này cũng hé mở cái gì là lạ đây.
– Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, anh sống được không?
– Sống được chứ!. Anh ngẩng lên, mặt lam lũ ngời vẻ tự mãn.. Không sống được thì lẽo đẽo làm gì? Mỗi ngày trung bình cũng hai, ba chục, đủ yến gạo.
– Thế thì thừa tiêu!
– Tiền thì vô cùng. Tôi phải gửi về nuôi vợ và hai con ở nhà quê Phủ Lý.
– Sao không quy về một mối?
– Quy sao được! Vợ tôi còn phải dạy học. Cấp một thôi. Nhưng cũng là có công việc. Ở đâu quen đấy. Còn tôi, bay nhảy mất nết từ lúc đi bộ đội rồi. Hơn nữa, về quê lúc này thì thất nghiệp. Chi bằng thong dong tháng ngày ở đây, phục vụ bà con.
Anh trao chìa khóa cho tôi, cười thật hiền lành.
Khóa ơ…
Anh thợ chữa khóa ấy tên Thiều, ngụ tại xóm l trong một phố nhỏ mới hình thành trên bãi rác ven đô. Anh trở nên quen thuộc với người trong khu phố tôi. Anh được mọi người tin cậy. Vì anh rất tận tình với công việc. Anh lấy giá rẻ. Anh không cậy tài, thừa cơ bóp khách. Chìa anh làm y như chính hiệu, đẹp và bền. Gặp ca hỏng hóc búa, anh mày mò cả buổi. Chưa bao giờ tôi thấy anh bó tay.
Bóng hình anh với con ngựa sắt già lênh khênh buổi trưa, xế chiều dầu dãi đảo qua khu phố tôi với tiếng rao nhẹ bẫng và yêu đời, ngày này qua ngày khác đã trở nên một kết cấu khó tách rời trong bức tranh đời của chúng tôi.
Bỗng một hôm không thấy tiếng anh rao.
Rồi hai hôm. Rồi cả tuần không thấy anh đi qua.
Vụt cái cả tháng trời vắng bóng anh. Người ta nhao nhao hỏi nhau. Một tháng, ba mươi ngày đủ để cả chục người trong vạn người đánh mất chìa khóa hoặc cần làm thêm chìa mới. Cái vòng tròn thế là hở một đoạn. Thế mà anh thì biền biệt. Anh về quê với vợ con? Hay anh nằm nhà vì đau ốm?
Đang băn khoăn thì bỗng như từ ký ức hiện ra, tiếng lộc khộc của cái hòm đồ nghề sau xe anh nảy và tiếng khóa ơ từ miệng anh bay ra đưa hồn người bổng lên tận trời xanh.
– Em bị công an họ bắt.
– Sao vậy?
– Họ nghi em mở khóa vào ăn trộm nhà ông tổng giám đốc công ty Mếch mung gì đó ở cạnh nhà.
– Sao lại nghi?
– Thì chữ tài liền với chữ tai một vần, anh còn lạ gì! Cũng vì em bướng, em hay lý sự, chết là vì cái mồm phát tiết anh hoa. Khổ thế, cái mồm, chả ai khóa được. Có lần đi qua nhà ông tổng giám đốc nọ, em đứng lại, ngứa mồm nói: Đừng tưởng kín cổng cao tường là chắc chắn. Có khóa thì có chìa. Cao nhân tất hữu cao nhân trị. En nờ chiều, thực ra chỉ là một chiều thôi.
– Nghi tại sao giữ lâu thế?
– Là bởi em ngang, em đùa dai. Hôm đầu bị gọi lên tạm giữ, em trổ tài mở còng số tám cho một thằng bé. Thằng này mười sáu tuổi, bố nghiện, mẹ bỏ đi lấy chồng, nó phạm tội ăn cắp xe đạp. Khổ, cái xe đạp cà tàng chỉ đáng giá yến gạo. Ông trung sĩ công an ngủ. Em mở khóa cho thằng bé, rồi em tự khóa tay em, thế chỗ cho nó. Ông trung sĩ tỉnh giấc ngơ ngác: Ơ kìa, vừa rồi là thằng bé? Em nói: Ông ngủ kỹ quá. Thằng bé đủ thời gian lớn lên thành anh thanh niên. Anh thanh niên đi bộ đội. Đánh nhau ở Quảng Trị, cả đại đội anh chỉ còn sống sót có mình anh thôi. Ông ấy tát em một cái. Ông đại úy đồn trưởng mắng ông trung sĩ. Rồi biết em là loại người không nên khinh nên mời nói chuyện.
– Vui nhỉ!
– Em bảo ông đại úy: Ông có thấy không? Tội ác, xét về mặt nào đó, nó đẩy lịch sử tiến lên. Có bọn ăn trộm nên nghề làm khóa ra đời và ngày càng tinh vi hơn. Vì có bọn lộng quyền nên đòi hỏi dân chủ mới mãnh liệt, có đúng không?
Anh thợ chữa khóa lại lóc cóc tháng ngày.
Một ngày kia, trên ti vi, nhà máy khóa M. K. quảng cáo một loại khóa mới và thách ai mở được loại khóa này sẽ thưởng cả triệu đồng và nhận vào làm việc với mức lương thợ tột cùng ngay.
Tôi mách anh Thiều thợ chữa khóa tin đó.
Anh cầm cái mũ lá tuột vành múc gió hất vào khuôn mặt gồ ghề, chành miệng cười:
– Em đã mở thì khóa nào cũng thua. Ra tay mở khóa động đào cũng còn được nữa là…
– Thế thì dự thi đi.
– Em chưa nói hết. Khóa thiên đình, khóa cổng trời em mở cũng được. Nhưng mà em tội gì bó thân về với họ. Thời chiến, em đi bộ đội, góp xương máu cho Tổ quốc, tròn nghĩa vụ rồi.
Rời quân ngũ em còn làm thợ xây một thời gian. Ít lâu sau biết em là dân có học, họ cho em làm kế toán. Ôi, làm kế toán em mới biết… thì ra bọn sâu mọt nó đục khoét tàn tệ quá. Thế là em bỏ. Dẫu hèn cũng là ngựa nhà quan. Không tố cáo được bọn họ thì em xuất lực đi chữa khóa rong, kiếm đồng tiền sạch sẽ.
Anh nhe răng cười một hơi, rồi tiếp:
– Chuyện rõ như ban ngày thế mà khi giam giữ em, họ cứ bẻ hành bẻ tỏi: Tại sao đang làm kế toán lại bỏ về đi chữa khóa rong? Đời nay, thấy không có ai treo ấn từ quan nên các ông nghĩ thiên hạ hèn hết rồi chăng? Em tức quá nói vậy. Họ lại truy xem em thường chữa khóa cho những ai. Em càng điên tiết. Em nói: Mỗi người có một phương thức tồn tại. Ăn trộm là phương thức tồn tại của thằng ăn trộm. Xét đơn thuần về mặt triết học, không phương thức nào hơn phương thức nào. Những người tôi chữa khóa cho họ, bình đẳng với các ông, trong tư cách khách hàng của tôi. Họ chả hiểu. Em nói: Quân tử cầu chư kỷ, người quân tử trông vào mình. Họ cũng chẳng hiểu. Em nói thêm: Quy luật quan trọng là tự hoàn thiện, làm tròn đầy mình. Họ càng không hiểu. Ôi, ngày nay sao lắm anh dốt thế!
Khóa ơ…
Anh thợ chữa khóa tâm hồn thanh khiết với đôi tay vàng lái chiếc xe cà khổ, len lỏi vào đủ các ngóc ngách phố phường, rong ruổi hành nghề, sống giữa đời nhẹ nhõm như một cuộc dạo chơi vô tư lự.
Xuất hiện lần thứ hai ở khu phố tôi, như rất nhiều nhân vật lịch sử, anh gần như thay đổi hẳn phong thái, điệu đi, cách đứng. Anh mặc quần pho, áo sơ mi màu hồng, cổ cứng. Cái mũ lá cọ rách thay bằng chiếc mũ cối. Mặt mũi anh sáng sủa hơn, trau chuốt hơn, tuy vẫn một vẻ hồn nhiên, như cây cỏ, chưa hề qua rèn giũa. Anh có vẻ phởn. Anh bảo nhiều việc quá, làm không hết. Cả cái con ngựa sắt già nua của anh cũng được trẻ lại. Nó đeo một cái chuông kép của xe Phượng Hoàng Trung Quốc. Cái chuông reng reng đổ hồi, sau khi anh cất tiếng khóa ơ, giống như một vĩ thanh rền rã, vui nhộn. Tiếng rao thì bay vút lên không trung. Còn tiếng chuông thì đi một đường thẳng ngang tầm xe. Tiếng chuông bao giờ cũng đến trước, rồi mới thấy xe anh phanh kèn kẹt dừng lại. Anh dừng xe ở xế nhà tôi: nhà chị Thoan.
Chị Thoan là thợ làm đường trên Công trường Thủy điện Hòa Bình. Năm khởi đầu xây dựng cái công trình thế kỷ này chị là cô thanh nữ ôm hoa tặng khách đến dự lễ khởi công. Hơn chục năm chị cặm cụi trong nghề rải đá, vá đường, đào rãnh, bạt ta luy. Công trường mở ra, rồi khép lại. Mở ra nó hút người vào, khép lại nó đẩy người ra. Ba mươi bảy tuổi chị Thoan bị nó đẩy ra với một đứa con ngoài giá thú và mấy đồng bạc hưu non lĩnh một lần. Nhưng cũng như bao kiếp sống nhờ cậy ở chính đôi tay mình, chị về thành phố, lập tức gia nhập đội quân dịch vụ đủ hình đủ sắc của thời kinh tế thị trường. Chị làm bánh trôi, bánh chay, nấu chè đỗ đen, đồ xôi, hấp bánh bao… Một tay xoay xỏa, cố gắng trở thành một mắt xích trong guồng máy xã hội, khép kín cái vòng tròn nhu cầu ẩm thực của con người. Chị chỉ còn dang dở mỗi đường tình ái thì may thay, anh thợ chữa khóa tài hoa tới xắn tay mở khóa động đào, rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Thôi thì các nhà đạo đức hãy đại xá cho anh. Vợ con anh ở Phủ Lý hãy thứ lỗi cho anh. Anh cũng như tôi, như mọi đấng bậc từ xưa đến nay đều hay mủi lòng, đều thích sự chiều chuộng vuốt ve gần gụi, đều khoái những khoảng đời ngoài vòng luân lý. Cuộc tình của anh thợ chữa khóa với chị Thoan có đủ các duyên do đó. Nó là vậy. Cho nó là xấu, là tốt thì tùy. Còn đối với chị Thoan, sự sắp xếp như vậy là tròn trịa. Chị đã có bạn tình. Rồi chị sẽ có chồng. Ai ở hoàn cảnh chị cũng vậy thôi. Tất nhiên để có chồng phải qua một số thủ tục nữa và phải kín kẽ để che mắt pháp luật. Chị có một ông chú làm ở Ban Tổ chức hay Ban Tuyên giáo gì đó ở Trung ương. Sẩy cha còn chú. Vì vậy chị còn phải xin ý kiến ông. Ngặt cái, ông đây đó liên miên vì đang mùa tổng kết. Thành ra anh và chị vẫn giữ quan hệ trong vòng khuôn mẫu đạo lý phổ thông, quá lắm cũng chỉ là già nhân ngãi, non vợ chồng, mặc dầu duyên tình đã bén rồi.
Từ hôm bén bện nhau, trưa nào, sau một tua đi rong, anh thợ chữa khóa cũng tạt vào nhà chị Thoan. Anh ở đó, ăn uống, trò chuyện, tâm sự, âu yếm chị tới khoảng ba giờ, con bé con chị Thoan đi học về, mới ra khỏi nhà. Anh đèo xe chị ra chợ, để sớm mai chị có hàng bán.
Mấy tháng sau, một buổi sáng chị Thoan vừa mới dọn hàng ra chợ được một lúc, bỗng thấy có tiếng người gọi nhau í ới. Lát sau, nhìn ra thấy hai bà tuổi dòng dòng đang xốc nách chị, dìu chị vào nhà. Chị ngoẹo đầu, so vai, thở khò khè, tóc xổ rối bung. Chị bị cảm đột ngột, các bà bạn hàng xúm lại đánh gió, xoa dầu giải cảm cho chị. Chị nằm một lúc, rồi tỉnh. Tỉnh rồi bắt đầu nôn ọe. Nhưng chị vẫn cố lần ra, cố tình mở rộng cửa để đón anh thợ chữa khóa. Lúc này là lúc cần có nhau là một chuyện. Mặt khác có cái gì đó như là nụ hoa, lại như cái mầm oan nghiệt đã nảy sinh, cần thông báo để anh biết nên mong ngóng da diết lắm.
Nhưng trưa chiều ấy, chị Thoan mong đỏ con mắt. Ngày hôm sau, chị mong mòn con mắt. Cả tuần ấy, anh thợ chữa khóa biệt tăm. Cả tháng ấy, anh thợ chữa khóa vô nhân dạng.
Chuyện một kẻ trong đám đông người vô danh mất tăm đột ngột trong chiến tranh xảy ra nhiều hơn, còn trong thời bình cũng vẫn thường có. Giống như một âm thanh cất lên từ đâu đó, rồi mất hút vào cõi hư vô thăm thẳm. Con người ta nào ai có được chủ động trong việc sinh ra mình. Cuộc sống của nó cũng là tình cờ. Và nó biến khỏi trần gian thì cũng tùy tiện, bất tuân theo một luật lệ nào. Hàng triệu người, cả trăm triệu người đã là như thế, họ biến đi không rõ lý do và chẳng để lại dấu vết gì ở mặt đất cả. Họ sống như một cái bóng và mất đi vô tăm tích như một sợi khói tan.
Về mặt này thì anh thợ khóa của chúng tôi may mắn hơn họ. Ở đâu nữa thì tôi không rõ, chứ còn ở khu phố tôi thì rõ ràng anh thợ khóa không hoàn toàn biệt tăm, vô hình tích. Anh còn có ảnh hình trong tâm trạng khắc khoải của chúng tôi. Anh để lại một kẽ hở trong một cái vòng tròn nho nhỏ ở đời. Và bụng chị Thoan như có một nguồn lực gia tăng, mỗi ngày một căng tròn.
Đến một ngày kia, bụng chị Thoan đã phình to cực đại. Tôi nhận ra khi ấy nó đã trở thành một khối nặng u uất, quá tải với chị Thoan. Chị Thoan đã ôm cái khối nặng quá tải, u uất ấy lăn lộn, gào khóc ai oán ngay trước cửa nhà mình một chiều thu ẩm nọ. Chị gào khóc, rồi ngất xỉu luôn. Đã nhiều lần chị lăn lộn, gào khóc như thế rồi. Nhưng lần ấy chị khóc lóc, chị than thân trách phận. Rằng chị ăn ở hiền lành, tử tế thế, sao trời cứ nỡ đày đọa chị. Chị kêu chị bị lừa! Chị vạch mặt cái thằng thợ chữa khóa, cứ tưởng nó là con nhà có học, biết điều hay, lẽ phải, nào ngờ cũng loại Sở Khanh, trắng trợn vỗ nợ ái ân. Chị chửi cái con đĩ có tông nào đó đã quyến rũ thằng thợ chữa khóa ngây dại, cả tin của chị! Nhưng lần này cũng là lăn lộn, khóc gào mà khác lắm. Lần này chị khóc cho chị và cho cả người khác. Ai oán lắm! Xót đau lắm! Khi mọi người nhận ra điều đó đến vực chị đang thiếp trên mặt đất dậy thì thấy trên tay chị còn nắm tờ báo.
Đó là tờ báo chuyên đăng tin về các vụ án. Ở trang bốn, tờ báo cho biết anh thợ chữa khóa đã bị giết chết một cách thảm thương. Hai tên cướp khét tiếng gian ác hiện đang ở ngoài vòng pháp luật đã đâm chết anh, chặt đứt đôi tay vàng ngọc của anh, khoét đôi mắt anh, rồi ném cả thi thể anh cùng hòm đồ nghề, chiếc xe đạp của anh xuống sông. Chính đôi tay vàng của anh đã làm cho chúng những chiếc chìa khóa. Anh đâu có biết chúng dùng những chiếc chìa khóa do anh tạo ra để làm việc gian phi. Bọn này biết nhìn xa, chúng phải thủ tiêu anh để anh không thể trở thành một nhân chứng buộc tội chúng.
Hỡi ôi, cuộc sống phi logic, cái sống thì nhỏ nhoi, cái chết thì tùy tiện, vô nghĩa thế này! Hay bấy nay, cái sống nó vốn phù vân vậy, thật thà và tự nhiên như vốn dĩ mà ta cứ bị học thuật ràng buộc mà chẳng nhận ra!
Anh thợ khóa chết. Chị Thoan không làm tang ma cho anh. Lấy danh nghĩa gì? Xưa nay đã có mấy ai chít khăn tang cho người tình? Chị chỉ lập bàn thờ và hằng ngày cúng cơm anh. Nhưng đừng thấy vậy mà nghĩ chị nhạt tình và sơ sài đối với linh hồn anh. Thật sự chị thương nhớ anh vô kể. Tình thương yêu của chị đối với anh chia làm hai ngả. Một ngả là nỗi xót xa về thân phận không may của anh. Một ngả là niềm yêu quý trân trọng giọt máu anh gửi lại nơi chị. Cái thai, tình yêu của anh chị lớn dần, tưởng chừng nó sắp bục vỡ cái vỏ bọc ngoài. Vậy mà, tính ngày, tính tháng thì nó vẫn ra đời sớm hơn thông lệ. Điều đó có thể là do chị bị động thai. Nhưng cũng có thể là do lòng mong mỏi da diết của chị, do bức bách của cái sống, để lấp đi một khoảng vắng trống do anh Thiều để lại.
Đúng đêm cái hôm chị Thoan đau đẻ và nở ra một thằng cu thì buổi chiều xảy ra một sự kiện chấn động tâm tư những người hàng xóm của chị. Lúc ấy, khoảng năm giờ chiều, sương mù lãng đãng, ngõ phố đang vắng ngơ thì mọi người nghe thấy lẹp kẹp tiếng dép của ba người. Ba bóng người xam xám và cùng một dáng đi lểu đểu và hấp tấp. Đi đầu là một người đàn bà ăn mặc nâu sồng chít khăn tang trắng, tuổi ngoài bốn mươi nhưng tóc xơ rơ vàng hoe, răng rụng, mồm móm. Theo sau bà là hai đứa con trai. Thằng lớn khoảng mười lăm, chân như sếu vườn, tay ống sậy. Thằng em giống anh ở cái mặt vêu vao và giống mẹ ở vóc còi cọc. Cả ba đều khoác bị cói, đội nón, cầm gậy, áo quần bám bụi đường trường. Họ đều từ xa tới. Mặt mày thảy đều in cái đói khổ kinh niên, trông vừa ngây ngô vừa hung tợn. Thấy họ xăm xăm rẽ vào ngõ và nhằm cửa nhà chị Thoan bước tới, mọi người đã ngờ ngợ, rồi cùng toát mồ hôi lo sợ. Xem ra câu chuyện lành ít dữ nhiều đây!
Hẳn nhiên, đến trước cái cổng sắt nhà chị Thoan, người đàn bà cùng hai con trai dừng lại, trút bị cói khỏi vai, gài lại tóc mai, dộng đầu gậy xuống đất, rồi cất tiếng xoe xóe rất khinh mạn:
– Nhà có ai không? Mở cổng cho chúng tôi vào nói chuyện đơi.
Đứa con gái đi vắng. Từ trong nhà, chị Thoan chỉ có một mình ôm cái bụng trồi vượt mặt ngó ra, nhễ nhại:
– Ai hỏi tôi gì đới?
Lập tức, hai đứa con trai bập bốn bàn tay vào cánh cổng, rung lắc liên hồi một cách hết sức dữ tợn, trong khi người đàn bà nửa quê nửa tỉnh chống tay lên sườn, cao giọng nanh nọc:
– Chúng tôi muốn nói chuyện với chị. Chúng tôi ở Phủ Lý lên đơi! Có mở cửa không thì bảo nào?
Thôi, thế là mười phần đã rõ cả mười một rồi. Đòn ghen sẽ kết hợp cùng với đòn thù, chập lại làm một việc trừng trị tội tranh vợ cướp chồng lẫn tội gây ra vụ án mạng, lại chênh lệch lực lượng thế này thì cái nhà chị Thoan kia không sứt đầu mẻ trán thì cũng què cẳng, gãy tay là cái chắc! Chúng tôi, những người hàng xóm của chị Thoan lập tức tuôn ra khỏi nhà, sẵn sàng cứu giúp kẻ yếu nhược và chuẩn bị những lý lẽ cao cả nhất để dàn hòa.
Tình huống thật cực kỳ căng thẳng.
Nhưng kỳ lạ thay, tự nhiên bao giờ cũng cao hơn luân lý, nó có sẵn lời giải đáp khác hẳn kịch bản do con người dàn dựng nên.
Lúc đó, chị Thoan đã đứng dậy, ló mặt ra khuôn cửa. Tưởng chị sẽ sợ rúm vó, rụt vào và hô hoán bà con cứu trợ thì chị điềm tĩnh quay vào buồng trong tìm chùm chìa khóa, rồi chậm rãi ôm cái bụng ộ ệ xuống sân, bậm bạch đi ra cổng. Trông cái dáng đi bê bụng nặng nhọc, cứ nghĩ chị coi cái bụng to sắp đến ngày nằm chỗ như báu vật, hơn nữa như bảo vật bảo hiểm cho mình nên chị bất biết sợ là gì. Điều kỳ lạ đã xảy ra lúc đó! Không gian chật hẹp đã xuất hiện những sóng xung động và một mối giao cảm thần tình đã thiết lập một cách hết sức lặng lẽ và bất ngờ. Không mặc cảm e ngại, chẳng sợ sệt lo âu, nhìn rõ hình bóng ba mẹ con người nọ ở ngoài cổng, hai con mắt chị Thoan đã mưng mưng tủi hờn. Có cảm tưởng rằng chị đã nén đợi, đã nấu nung mong chờ, giờ mới là cơ hội giải tỏa một nội tâm chất chứa ứ đầy nên bước tới cánh cổng, đôi môi chị run liền bật mở, khóc òa: Ối, chị cả ơi, anh Thiều mất rồi! Sao giờ em mới được gặp chị và các con, chị ơi? Ai oán quá! Trong giây lát đã có cái gì đó sụp đổ và một cái gì đó ấm cúng, trang trọng cùng thiêng liêng đã sinh ra, mở ra tràn đầy và mong manh. Người đàn bà đứng ngoài cổng sắt, bất giác áp mặt vào giữa hai gióng sắt, cất tiếng khóc hu hu, tự nhiên đến mức tưởng như chị đến đây chỉ là để bày tỏ điều đó.
Những người hàng xóm của chị Thoan vừa tẽn tò vừa ứa nước mắt mủi lòng. Thay cho cảnh lăn xả vào cắn xé nhau, hai người đàn bà xô lại, ôm chầm nhau, giàn giụa nước mắt, cùng rống lên nỗi đau lòng thê thiết. Mất mát to lớn quá nên có sức thanh lọc tâm hồn và cả hai đều thấy mình quá bé nhỏ và đáng thương như nhau. Trong khi đó, hai đứa con, như hai gã công sai không người chỉ bảo đứng ngây đờ, tay mân mê những ngón tay thừa thãi của chính mình.
Đứa trẻ ra đời nửa đêm hôm xảy ra cuộc giao hòa kỳ lạ nọ. Nó cũng trở thành một hiện tượng lạ kỳ. Nó cao hơn cả sự vô tội. Nó là cái gạch nối ruột thịt giữa hai người đàn bà vốn xa lạ. Hai người đàn bà thế là trở thành môn đệ chung một tôn giáo có giáo chủ là ông chồng thợ khóa đã khuất của họ; tình yêu bao giờ cũng tẩm hương phụng thờ là vậy.
Bản nhạc đã lập được giai điệu khai đề. Ở kề, tôi chưa bao giờ thấy họ cắn rứt, diếc lác, hạch lạc nhau, chứ đừng nói là xung sát, hành hạ nhau. Dì để quần áo dì và tã lót con đấy cho tôi giặt. Dúng nước vào, ba tuổi nữa chân tay run rẩy như bà già thì khổ! Dì Thoan, dì đi bít tất ngay vào hộ tôi. Gái đẻ, chân lông hở hoác, bấy bớt như cua lột đấy, dì ơi! Người đàn bà ở Phủ Lý lên chốc chốc lại hét lên như vậy. Và Để đấy cho tôi! Tôi không khiến dì làm gì cả! là câu nói cửa miệng của bà. Bà còn chỉ bảo từng ly từng tí cách cho con bú, cách quấn tã đứa trẻ cho chị Thoan. Rồi ép, rồi dỗ dành chị mỗi sớm uống trọn một bát nước tiểu của đứa con thứ, vì đó là thứ thuốc bổ cực quý với gái đẻ. Còn chị Thoan, chị tiếp nhận sự săn sóc và chấp nhận thứ bậc dì em một cách hết sức tự nhiên, thưa gửi, vâng dạ một cách hết sức khiêm nhường. Sau khi xin phép, chị đặt vành khăn trắng trở tang anh Thiều lên đầu. Còn hai đứa con trai thì trở thành những thành viên gắn bó của gia đình chị, tự nhiên như lời reo gọi âu yếm của chị: Anh Lục, anh Ngô, chị Liễu ơi, em Quang ngoan, em Quang lớn, đi chơi, đứa nào bắt nạt em, hai anh đánh bỏ xừ nó đi nhé! Thằng cu được đặt tên là Quang, hợp với tên bố thành chữ Thiều Quang, tức ánh mặt trời. Tên đó do anh Thiều, thợ chữa khóa, nguyên con trai ông đồ nho, chọn đặt trước khi con anh ra đời.
Thằng Quang trở thành hòn ngọc của hai người đàn bà. Được hơn một tháng, bà ở Phủ Lý lên đã bế nó sang chơi hàng xóm. Bà bảo, nó giống bố nó ở tính thích đi rong. Bà khoe, chân tay nó dài rộng y sì anh thợ khóa. Bà không che giấu được dấu vết quê kiểng chất phác cổ truyền của mình trong ngữ âm tiếng nói, trên gương mặt dãi dầu khổ ải, trong tấm lòng thơm thảo, ở bản năng bảo tồn cái quan hệ máu mủ ruột rà thiêng liêng.
Rung rinh thằng bé trên tay, bà rưng rưng:
– Chết thôi, bện hơi tôi thế này, mai tôi về quê thì lại khóc hết nước mắt mất.
Tôi ầu ơ với đứa trẻ sơ sinh và quay sang hỏi bà:
– Sao, chị lại về Phủ Lý dạy học à?
– Tôi về hưu non rồi. Giờ chỉ chạy chợ thôi.. Bà đáp. Tôi nói:
– Thế thì chị ở đây mà chạy chợ cũng được chứ sao? Bà gật đầu:
– Dì Thoan cháu cũng bảo vậy. Nhưng có nhẽ cũng phải dần dần. Sấp ngửa lên đây, nhà cửa còn tanh bành, vả việc của bố cháu, tôi đang còn theo đuổi, anh ạ. Thời gian đầu cứ để hai cháu ở đây đã. Tiếng thế ở đây, có sức vẫn còn có việc, vẫn có người thuê mướn. Thế nào, cu Quang có thích anh Ngô, anh Lục ở đây với em không?
Mọi việc diễn ra như đã có sự an bài.
Và tôi đã thật sự kinh hoàng, vì từ trong sâu thẳm tâm tưởng đã vỡ ra một nhận biết đau đáu cùng những xúc cảm trùng phức vừa bồi hồi vừa tiếc nuối bâng khuâng, khi một trưa mùa đông bằng lặng đến thót tim ấy, bỗng nhận ra một tiếng rao khóa ơ như từ xa thẳm vọng về, vẳng trong thính giác.
Khóa ơ… Tiếng rao đã được chế định, đã được thừa nhận từ trong ký ức dân gian, nốt nhạc trong trẻo, hồn nhiên của anh Thiều thợ chữa khóa quen thuộc góp vào bản hòa tấu vui vẻ và nhọc nhằn của cuộc sống hôm nay. Khóa ơ… Anh Thiều đã sống lại trong hình ảnh thằng Ngô, con trai anh, mười lăm tuổi lộc ngộc. Nó chưa có xe đạp. Nó xách tay một cái hộp gỗ đồ nghề, quai hòm mắc hai chùm phôi chìa nặng. Nó đội cái mũ lá như cái mũ của bố nó, mặc quần áo bạc màu, vá víu của bố và giọng rao mời của nó thì không thể lẫn với bất cứ ai.
Khóa ơ… Khóa ơ… Khóa ơ…
Một cái vòng hở đã được nối tròn, khép kín. Khóa ơ… Khóa ơ…
9/1993