Trạm bánh ngọt


Trạm xe lửa Ở Ven ngày một thưa khách, không còn mấy người ghé ngôi làng nhỏ này ngoài những người đi viếng chùa Mật. Vài chục năm về trước ở đây đông đúc lắm, người ta mang hàng lên thị trấn bán bằng phương tiện duy nhất là chuyến tàu này. Sau khi có đoạn đường nhỏ mà họ nghĩ sẽ giúp cho nơi này xung túc hơn, thì thành ra nó lại là con đường làm người ta tháo chạy khỏi đây nhanh hơn. Dân làng bị những thứ xa hoa thúc dục, đưa đẩy, cám dỗ với muôn vàn thứ kích thích hơn những ruộng lúa, khu rừng và đàn bướm mà ngày nào cũng thấy. 

Với Táo thì không như vậy, sinh ra anh đã dễ dàng thấy vui, chỉ một con ong bay lảo đảo khi say mật cũng đủ một ngày trọn vẹn cho anh. Cha mẹ anh kể khi sinh ra, Táo nhỏ xíu và yếu ớt, cha anh đặt Táo để có sức sống đương đầu với sóng gió cuộc đời, thứ mà đến giờ anh chẳng hiểu nó là gì. Táo có hai chiếc răng thỏ nên buồn thì anh chỉ cần nhìn vào gương lại tự thấy vui trở lại, hồi đi học bạn bè hay trêu thì anh bảo: “Hai cái gai của cây Táo đó”, cả đám cùng cười mà chẳng có chuyện gì phiền muộn cả. Nhỏ người yếu ớt, chẳng có gì đặc trưng, trí tuệ ở mức bình thường, nhưng anh chẳng mấy khi không giải quyết được việc của mình, vì anh không ném mình vào mấy việc phức tạp mà giải quyết. Học xong cấp ba thì anh xin phép cha mẹ ra ở riêng, đơn giản vì anh nghĩ ai cũng phải như vậy, anh chẳng coi đó là tự lập mà là lẽ đương nhiên như một cây táo trưởng thành. Anh xin việc ở trạm xe lửa Ở Ven rồi bán vé ở đó đến tận bây giờ cũng được 5 năm rồi.

Tuyến xe lửa chỉ vài km chỉ để vòng qua dãy núi thấp ven biển, từ khi người ta phá núi xuyên qua thì hầu như nó vô dụng với những ai đi tuyến dài. Chỉ vài người trong vùng đi nối nhau giữa các làng và thị trấn nhỏ xung quanh còn sử dụng, hoặc khách du lịch biết về trạm xe hiếm hoi còn giữ được nét địa phương này mà tiện thể ghé chùa Mật lễ Phật. Ngôi chùa cũng chẳng có gì đặc trưng, không tượng to, không lễ hội đặc biệt, hầu như người ta đến đây vì là nơi nhiều vị cao tăng ở lại học hành khi còn trẻ, xong thì họ lên con đường hoằng pháp của chính mình. Vị trụ trì cuối cùng đưa ra quyết định rằng sẽ không còn ai làm trụ trì tiếp theo ở đây cả, mà mọi thứ do các già làng cùng người đến tu tự vận hành. Hồi đầu mọi thứ cũng phiền phức với nhiều sự trái quy định, nhưng do tiếng nói của mấy sư từng học ở đó quá lớn nên mọi chuyện cũng êm xui, cũng chẳng mấy ai đến đây nên không ai thèm tranh giành làm gì.

Cuộc sống Ở Ven cũng như vậy, đôi khi có vài cơn sóng nhỏ rồi dập tắt nhanh, người già ở đây nói đó là tính cách của vùng này rồi, bình thản và một chút buồn chán. Táo thì chẳng có gì để buồn chán, mà cũng không hiểu bình thản là gì, anh chỉ quan tâm mấy cuộn vé của mình và an toàn của hành khách trên xe. Dù chỉ vài chục hành khách qua đây mỗi ngày, ngày đông nhất chắc tầm 100 khi có lễ Tết, vậy nên trạm thường chỉ có hai người. Ông quản lý ngày xưa thường hay ở đây, nhưng giờ thì cũng được chuyển lên làm ở trạm đường hầm, mỗi tuần ông ghé qua hai ba lần kiểm tra sổ sách, mà cũng chẳng có mấy thứ để xem lại. 

Nơi Táo làm việc mọi thứ đều làm bằng tay, chẳng có rào chắn thông minh nào cả, chỉ là người với người, đó cũng là điều anh thích. Anh không phải loại hoạt ngôn nói nhiều, nhưng nhìn ngắm mọi người trong nhiều hình hài khiến anh cảm giác như nhìn vào cánh rừng xung quanh chùa Mật, phong phú và dồi dào sinh khí. Việc đầu tiên trong ngày thường là bàn giao với ông Men, người trực ca đêm ở trạm. Ít khi có sự thay đổi nào về số tiền và vé bàn giao, vì ban đêm thường chỉ có 5-6 người đi tàu về nhà trong làng. Lão trực đêm thường bàn giao luôn mùi rượu rồi biến mất chẳng thấy tung tích vào ban ngày, đến giờ anh vẫn thắc mắc lão này có thật sự tồn tại không, ngay cả cái tên cũng do ông trưởng trạm đặt cho lão. Công việc mỗi ngày thường lặp đi lặp lại, điều tiết các đoàn tàu đi qua để chúng khỏi va chạm, một số chuyến chở hàng dừng lại, vài tuyến khách không dừng lại chỉ ghé ngang qua đi con đường vòng ngoài ngọn núi. Tuyến mà anh phải trực tiếp lên tàu bán vé thì chỉ có hai, một là dành cho mấy người đi đoạn dài từ đầu ngọn núi mà họ chưa mua vé từ trạm thị trấn Ngoại Ô, đoạn thứ hai dành riêng cho con đường vòng vào làng nối các làng với nhau, đôi khi có vài gia đình đi du lịch muốn ghé vào. Tào thích cầm hai cây cờ xanh đỏ ra hiệu cho các đoàn tàu dừng lại hay rẽ vào đường ray khác, chúng làm anh cảm giác mình như phù thủy vậy. 

Anh thường mang đồ ăn mua quanh chợ làng cho vào tủ lạnh của trạm để tự nấu bữa trưa cho mình, còn dư thì để ăn chiều hoặc chia sẽ cho Củi người làm cùng anh hiện tại. Củi là một tên hoạt náo, chẳng rõ hắn từ đâu đến nhưng ăn nói lưu loát và luôn được khách hàng yêu thích. Khách du lịch hay nhờ anh ta dẫn đi tham quan vài nơi, những lần như vậy Táo phải một mình cáng đáng mọi việc, nhưng như vậy anh lại thấy thoải mái. Lúc ở cùng nhau, hắn luôn khoe khoang về mấy mối tình trước khi đến đây và những cô anh ta đang chơi bời, vài người khách nữ đi tàu hồi đầu khó chịu cũng dần bị cái miệng anh ta làm dịu bớt. Nhìn chung khách hàng còn thích đến đây có khi cũng nhờ Củi và món bánh gạo vị chè xanh trong vùng. 

Gạo và chè nơi đây được tưới nước chảy từ trong núi, người già bảo nhờ vậy mà thơm ngon hơn những vùng lân cận. Hơn 10 năm trước có một người đàn ông thành đạt xa quê về đây vì nhớ vị của chúng, ông ta phát triển dòng bánh gạo chè xanh rất nổi tiếng hiện tại. Nghe nói những năm qua, tiền lương thưởng của nhân viên trạm này duy trì bởi cái bánh gạo đó. Họ có một quầy bán hàng bên trong trạm, Táo thấy vậy nên cũng ké vào một số món ngon trong vùng rồi tự mình vận hành chúng, xem ra việc đặt tên của cha mẹ anh hiệu nghiệm một cách dễ thương đến vậy. Nhưng thời gian gần đây doanh số của bánh bán ra trên toàn quốc giảm vì quá nhiều thương hiệu nước ngoài ùa vào lấn áp, chuyện đó không quan trọng với Táo vì lượng bán ở tiệm tạp hóa ở trạm chẳng có mấy khi thay đổi, giống những thứ khác ở đây. 

Ngoài lương ở trạm và một ít tiền từ tiệm bánh kẹo, Táo còn một công việc mà anh rất thích khác, đó là dọn dẹp nhà cửa vườn tược cho một bà lão ở một mình trong làng. Mười bữa nửa tháng anh ghé qua để quét dọn, cắt tỉa và sửa chữa lặt vặt khi cần thiết, thường thì công việc cũng nhàn hạ mà tiền công cao và còn thêm ăn được món bánh gạo ngon đặc biệt hơn loại đóng gói. Mọi thứ trong nhà bà lão dù giản đơn nhưng trông chúng rất đắt tiền, ngay cả những cây bonsai, đồ gỗ hay gốm sứ trong nhà nhìn toát ra vẻ thượng đỉnh của chúng. Bà lão cũng vậy, bình dân nhưng phong thái thì không phải người tầm thường. Mà Táo nào quan tâm mấy thứ đó, điều anh thắc mắc và luôn hỏi là tại sao món bánh gạo của bà ngon một cách khác thường như vậy, chẳng bao giờ nhận được câu trả lời ngoài nụ cười hiền hậu. Những lần anh đến làm việc cho bà xong, Táo thường dẫn bà dạo quanh chùa Mật rồi đến trạm Ở Ven để nghe tàu chạy, bà bảo thích âm thanh ấy. Khi nhỏ bà hay đợi con trai đi học về, đôi lúc cùng nhau du ngoạn rồi ngắm nhìn ngọn núi và khu rừng con tàu đi qua. Táo không tiện hỏi, chỉ nhìn từ xa cái vẻ hoài niệm buồn da diết làm anh muốn làm gì đó, thường thì anh chỉ biết ngồi cạnh và cho bà viên kẹo me cùng câu nói: “Miễn phí” và nụ cười tươi. Nhưng ngày hôm đó một sự ồn ào ngọt ngào xảy ra chen vào không gian tĩnh mịch giữa anh và bà lão, ngọt và ồn theo đúng nghĩa đen của nó.

Hôm ấy trời se lạnh với cơn mưa phùn lâm râm, mây thưa thớt từng gợn làm ánh nắng cũng cạn dần sớm hơn, gió quên mất cái làng nhỏ này mà chẳng thấy đến, con tàu thì vẫn đi theo lịch trình của mình. Vài ba người bước xuống rồi tỏa ra về nhà , riêng cô gái nhỏ cầm tờ giấy cùng cái rổ mây đan nhìn qua ngó lại, trông từ xa bà lão và Táo đều cười vì cái dáng ngoài ngộ nghĩnh. Cô đội cái nón rộng vành vừa phải, nguyên bộ váy dài màu trắng chấm bi màu đỏ hình mấy lát dâu tây cùng đôi giày vải trông như ổ bánh mì màu nâu sậm. Dáng người nhỏ, gương mặt bầu bĩnh cùng sự tròn trịa vừa phải, nổi bật hơn cả là cặp kính đường kính rộng với gọng đen thanh mảnh, trông cô như lạc đường bước ra từ bộ phim hoạt hình chibi. Cái rổ mây có vẻ nặng, với cô mang thêm cái balo nên đôi lúc có phần loạng choạng, cô cặp nách cái rổ trông giống bà mẹ bỉm sữa đang ôm con thật hài hước.

Dường như cơn gió chiều chợt nhớ ra mình bỏ quên gì đó ở làng nên quay về, bụi và lá khô mù mịt làm cô gái nấm lùn che mặt vứt luôn tờ giấy ra xa. Tờ giấy rơi xuống đường ray, cô hoang mang đuổi theo nhưng vẫn ôm chặt rổ mây trong tay, khi đến gờ ray thì cô chao đảo. Chút xíu nữa thì bổ nhào, may sao bà lão không hiểu sao nhanh tay quay đầu cây gậy chống móc cổ áo cô lôi lên. Cô ngã lăn ra đất, cái rổ lông lốc dưới nền, mọi thứ đổ tháo ra hết dưới sàn xi măng của trạm. Bánh mì đen và bánh su kem vương vãi khắp nơi, cô gái nhặt nhạnh được vài cái bánh cho vào rổ thì ngồi chồm hổm cúi mặt, hai đầu gối cô che đi vẻ mếu máo. Táo không biết làm sao cũng rón rén nhặt bỏ vào phần bánh còn lại, tay anh dính một ít kem mà chẳng có gì để chùi. Lúc đó như một phản ứng tò mò, anh liếm luôn ít kem dính trên ngón tay rồi trố mắt ồ lên: “Trời đất ngon dữ vậy, bà bà ngon lắm”. Vậy là anh cũng tưng tửng mang cho bà lão cái bánh su vỡ hai và ổ bánh mì không bị rơi ra ngoài, bà lão ngắt mũi Táo rồi cũng ăn thử. Bà cười tươi như hoa rồi cũng ăn thêm vài miếng nữa. Cô gái đứng lên, có chút chưng hửng vì vẻ tự nhiên có phần ngớ ngẩn của mấy người nhà quê, nhưng rồi gạt nước mắt hỏi: “Ăn được không bà”.

“Cái này cháu dùng men bia làm bánh mì phải không ?” – Bà ăn xong thì đứng lên đi lại gần cô nhìn vào rổ bánh hỏi.

“Ủa sao bà biết ?” – Cô mở to mắt như thể cánh cửa bên trong mở toang, cô đặt rổ bánh vào người Táo rồi đẩy anh lọt luôn ghế xuống đất, “Xin lỗi” cô nói nhanh như lấy lệ, còn chẳng thèm nhìn anh.

“Lâu rồi làng này cũng tự trồng tự nấu rượu nấu bia, rồi bả của chúng được dùng làm nhiều việc lắm, như một vòng tròn khép kín liên tục sinh sôi” – Bà nhìn về phía đoàn tàu đi xa tầm mắt nhớ về những ngày gia đình bà còn quay quần với những người hàng xóm hiền lành chăm chỉ, họ lao động trong niềm hân hoan tương trợ lẫn nhau.

“Chuyện gì xảy ra bà, vì cháu chỉ biết ở đây có bánh gạo chè xanh thôi. À mà còn mật ong ở chùa Mật cũng ngon nữa” – Cô nói giọng lúc trầm lúc cao.

“Vội quá thôi, lên men tự nhiên tốn thời gian, họ không đợi được đám vi khuẩn nên bỏ đi hết” – Bà lão chống gậy đứng dậy bước đi, Táo đỡ một tay bà lên rồi đi theo một bên, cô gái giật lại cái rổ bánh đi phía còn lại.

“Cũng khó lắm bà, con làm bánh nên biết, chi phí duy trì tiệm cao, tùm lum thứ cả” – Mặt cô gái bí xị khi nghĩ về khó khăn của mình.

“Con biết không, ngày xưa nướng bánh bằng lò cũi, một lần đốt lò nướng được rất nhiều bánh, cái lời không nằm ở mẻ đầu tiên, mà hơi nóng còn sót lại vài ngày sau, thậm chí tay nghề đắp lò cao như cha bà thì còn có thể duy trì gần một tuần đấy. Bà nghe nội học bên Tây về bảo ở Áo thợ làm bánh họ sẽ làm việc 4-5 tiếng một ngày là đủ nuôi gia đình, thời gian còn lại họ đi thăm thú khắp nơi. Con men về bản chất là mình chẳng cần làm gì cả, chọn lựa nguyên liệu tự nhiên rồi đợi và cầu nguyện thôi” – Bà kể câu chuyện khi đi ngang một ruộng lúa mì nhỏ, người nông dân vẫy tay chào rồi kêu: “Táo, mày mà cũng có bạn gái hả”, vậy là làm anh bối rối xua tay còn cô gái kia thì vẫn lườm anh từ đầu đến giờ.

“Câu nguyên ?” – Cô gái nheo mắt có vẻ bối rối.

“Men là quá trình sống của vi khuẩn làm biến đổi vật chất còn gì, mà sự sống làm sao đoán trước, chúng ta chỉ có thể làm hết sức, tương tác và liên tục học hỏi từ chúng” – Bà lão dừng lại ngắm một đồng ruộng bỏ hoang hoa xuyến chi mọc trắng toát với li ti những chấm vàng rực rỡ trên nền lá xanh mướt.

“Làm con nhớ lúc đầu con học làm bánh, có khi làm y chang hướng dẫn, thầy giáo đứng chỉ tay luôn mà một mình vẫn gặp khó, dần phải thử nghiệm bung bét lên hết cả. À mà hồi đó bà cũng làm bánh hả” – Cô thoải mái hơn nên khoác tay vịn bà lão, Táo thì vẫn đi sau nghe câu chuyện.

“Một chút thôi, cha bà mới giỏi” – Giọng bà có chút buồn.

“Bà làm bánh gạo còn ngon hơn trong gói nữa” – Táo giờ mới nói được một câu. 

“Mà con đi tìm ai hay sao vậy ?” – Bà lão chợt nhớ ra dừng lại hỏi.

“Ấy chết con đi giao bánh mì cho tiệc mà trễ mất 30’, tờ giấy cũng bay đi luôn. Họ chỉ nhắn trên mạng là gần chùa Mật có hàng táo rừng đầy gai”.

“Sao, sao giống nhà cha mẹ tôi quá vậy” – Táo giật mình gãi đầu nói.

“Nhà con hôm nay có tiệc à ?” – Bà lão hỏi.

“Con có nghe nói gì đâu ?” – Anh ngó trời nhìn mây cố nhớ.

“Thôi cứ dẫn bà và cô đây đến đi, gần đến rồi” – Bà nói rồi chỉ cây gậy về phía ngôi nhà nhỏ dưới chân con dốc đi lên ngọn núi có chùa Mật cư ngụ.

“Chỉ còn vài cái, thôi tôi đến tặng cho nhà anh rồi xin lỗi vậy” – Cô nói.

“Sao cô phải đến tận đây, thường trạm tàu có nhận ship cho người trong vùng, nhân viên sẽ nhận luôn việc giao hàng lặt vặt” – Táo có vẻ bớt ngại ngùng hỏi.

“Tôi hay mua mật ong của chùa Mật làm bánh ở tiệm mà chưa ghé bao giờ, định đi sớm để ghé nhưng hành trình tàu vào đây lộn xộn quá, không bán vé online. Thật ra tôi cũng không khó chịu, tôi nghe về trạm xe này lâu rồi, cũng muốn đi” – Cô vừa nói vừa đi như nhảy múa, bước chân cô có vẻ không có gì là lo lắng khi giao hàng trễ, cô còn lấy cho Táo ít bánh mì đen chấm mật ong.

“Trời đất ngon dữ. Vậy là cô được sống như con vi khuẩn rồi” – Táo nói lơ ngơ xong thì bịt miệng tỏ vẻ nhỡ lời.

“Ý anh là sao ?” – Cô lại liếc anh ta.

“Nãy bà nói đó, không đoán định, ba con vi khuẩn còn gì” – Táo nói rồi cả ba cùng cười vang, 

“Anh Táo, chú anh tìm anh kìa, về nhà cha mẹ anh đi, coi chừng bị ăn roi táo gai như mọi lần nát đít đó” – Có đám nhỏ chạy xe đạp trên dốc xuống nhìn anh nói rồi cười hăng hắc, anh nổi giận định rượt theo mà không kịp. Cô gái quay mặt đi chỗ khác cười.

“Anh tên Táo thiệc hả ?” – Cô hỏi.

“Ừ dễ thương, nó cũng giống cây táo” – Bà lão cười nói khi vừa đến cổng.

Ngồi nhà yên ắng với cửa khép hờ, chẳng có dấu hiệu gì là có tiệc cả. “Trời đất, tôi tưởng chỉ vài cây thôi, ai mà ngờ cả một rừng táo xung quanh làm hàng rào”, cô gái kinh ngạc với cái hàng rào quá đỗi xinh tươi của khu đất cha mẹ Táo. Dù sao cũng là nhà người lạ ở một vùng đất chưa quen, cô rón rén vịn tay nép mình phía sau bà lão. “Ui da” cô với lên cao chạm vào quả táo vậy là bị gai đâm vào tay, nhưng khi cửa mở ra cô còn mất hồn vía hơn. Cha mẹ cùng họ hàng Táo ùa ra nháo nhào chúc mừng sinh nhật anh, bà lão cũng được chào mừng, họ không nhận ra cô gái nên vu đại là người yêu của anh rồi kèo đẩy họ vào nhà. Bàn ăn với đủ món vẫn còn nóng ấm, mấy thằng nhỏ đạp xe khi nãy cũng hăng hắc chạy vào chọc quê Táo bị xí gạt. Hóa ra đám con nít ấy là lính thám thính.

“Ủa hôm nay sinh nhật con hả ?” – Táo chưa hết ngạc nhiên hỏi.

“Thấy chưa con nói mà, anh Táo dễ gì mà nhớ” – Một cậu thanh niên nhỏ hơn anh vài tuổi bưng bếp gas nồi lẩu lên nói.

“Cái thằng này sao đâu á ta ơi” – Một bà dì nhăn nhó bạt vai anh.

“Sao trăng gì, con làm chung ảnh con biết, ảnh tập trung làm việc lắm, chắc không nhớ phải rồi” – Chẳng rõ ai mời thằng Củi đến, Táo tự hỏi không biết có bữa tiệc nào mà nó không xuất hiện.

“Thì con chỉ nhớ mẹ nói con sinh lúc táo vừa ra quả” – Anh lại cười cười nói.

“Có cái bánh nhỏ xíu này thôi” – Cô bé em họ của Táo mang cái bánh bông lan méo mỏ cắm một cây nến lên bàn.

“Ủa sao kỳ vậy, bánh kem chứ” – Đám con nít loi nhoi mặt bí xị ồn ào hô hào, còn người lớn thì xầm xì: “Lâu lâu mới có cái sinh nhật vui mà trời”.

“Đặt bánh xịn hằn hoi, mà cái tiệm trên thị trấn mất dịch thất hứa, gọi điện cũng đâu mất tiêu, làm ăn vậy trù cho ế chỏng vó” – Mẹ Táo đứng chống nạnh chí ra ngoài nói, Táo khều vai vì hiểu ra chuyện thì mẹ anh quát: “Khều cái gì, mẹ bực mình hồi chiều rồi, con chủ đó mà đến mẹ vạt mông nó cho coi”, bà ta còn mang điện thoại ra cho mọi người coi rồi bấm luôn vào nút gọi.

Cả nhà giật mình nghe tiếng chuông đỗ kế bên, không gian im ắng không một tiếng động. Bỗng bà lão cười vang còn Táo thì khua tay kêu mẹ mình đừng nói nữa. Nhìn ra ngoài thì cô gái đang ngồi chồm hổm ngay vạch cửa cúi mặt quay đi, tay cô cầm rổ bánh đưa về phía sau cho mọi người. “Con bé lạc đường do trạm xe khó tìm, còn mém té xuống đường ray nữa” bà lão đứng lên phân trần dùm cô, cô òa khóc to làm con chó lông vàng trong nhà chạy đến liếm tay rồi húc đầu vào tay. 

“Tui đã nói rồi cái trạm đó làm khó khách du lịch không hà” – Một ông chú đừng đằng xa với lon bia trong tay nói.

“Thôi đi chú ơi, nhờ điên khùng làm khó vậy mà mới có khách du lịch, chứ ai mà thèm tới đây” – Thằng Củi xen lời vào.

“Phải rồi còn gì, chán gần chết” – Một bà cô xồn xồn nói trong khi ngắt mấy cọng rau sống để nhúng vào lẩu.

Vậy là cả căn phòng xôm tụ trở lại át luôn tiếng khóc của cô gái lạ, như một vở cải lương biến động chóng mặt. Mẹ Táo đến nâng cô lên lau nước mắt rồi xin lỗi lia lịa, xong thì mấy đứa em họ và cô dì cũng vây lại lôi cô vào trong cùng bà lão, chẳng mấy chốc cô lại cười tươi rồi rôm rã cùng họ về bánh và đồ ăn. Khi được hỏi cô tên gì thì họ lại được một tràn cười, mọi người gọi cô là Bột vì làm bánh, nhưng thật ra cô tên Thuyền, tiếng anh là Boat nên khi mở tiệm bánh họ kêu thành Bột, nghe vui tai nên cô cũng chịu luôn kể từ đó.

Táo lẳng lặng đi ra ngoài sau khi mọi người ăn uống no say xong. Không phải anh không muốn cùng họ cười đùa, mà vài ngày trước anh nhận được tin từ trưởng trạm làm anh nao lòng lắm. Người ta sắp dẹp trạm Ở Ven vì không đủ kinh phí duy trì, hãng bánh gạo hỗ trợ họ những năm qua làm ăn thua lỗ nên không cấp tiền xuống nữa. Anh dạo bước về phía chùa Mật đón chút nắng tàn còn sót lại, dưới chân dãy bậc tam cấp duy nhất đi lên khuôn viên chùa có nhà sư trẻ ngồi uống trà với chút bánh mì bình thường và mật ong. Hai người hay gặp nhau nhìn mặt trời lặn mấy hôm Táo tan ca sớm vì không có khách nào ở ngoài vào nữa. Họ chỉ ngồi nhìn mặt trời mà ít khi nói gì với nhau, Táo chẳng có chút hình hài nào của đạo trong đầu để mà đàm với vị sư trẻ, nhưng như vậy có vẻ lại làm anh ta thoải mái lạ thường. Cứ mỗi khi xuống chân núi ngồi một mình là vị sư mang theo hai ổ bánh thay vì một hồi ban đầu, để phòng khi Táo về sớm. Có hôm hiếm hoi Táo hỏi: “Ở trên đấy thế nào ?”, vị sư cười đáp một cách cân nhắc: “Ngồi dưới này an hơn”.

“Sao người ta cứ bỏ nơi này mà đi vậy” – Táo hỏi.

“Thế nào, bạn gái bỏ rơi anh sao ?” – Vị sư trẻ cười hỏi.

“Không, họ sắp đóng cửa trạm tàu rồi” – Táo ngồi trên gờ tượng con nghê.

“Anh lo lắng sao ?” – Người kia rót tách trà cho anh.

“Tôi không lo cho minh, mà cho người nơi đây” – Anh hít một hơi trà nóng.

“Cụ thể thì nó là gì”.

“Họ sẽ đánh mất một nơi tươi đẹp để sống” – Táo uống một ngụm nhìn màn đêm trước mặt.

“Anh thật kỳ lạ. Có khi nào nơi này đang chối từ và từ bỏ họ không, nó không còn kiên nhẫn với con người nữa”.

“Thiên nhiên từ bỏ chúng ta sao ?” – Táo quay sang nói chậm rãi.

“Ừ có thể lắm, quyền năng nó lớn hơn ta mà. Có loại thuốc nào tốt một cách hiền lành như mật ong không ?” – Vị sư trẻ nhìn dòng mật chảy từ ngón tay xuống cho đán kiến bên dưới.

“Tốt một cách hiền lành sao, cũng có cái tốt hung hăng à ?”

“Anh muốn mọi thứ tốt hơn, nhưng nếu ép nó theo ý anh vì bản thân thì có còn tốt không ?”.

“Có giống lên men bánh mì không, vừa rồi tôi có nghe bà lão xóm bên kia nói một điều tương tự về ép mọi thứ nhanh hơn” – Táo nói.

“Tôi cũng chỉ đang tìm hiểu như anh thôi, lên men và thối rửa cũng không hề khác nhau, nhưng tôi nghe sư phụ đã qua đời của mình nói, mọi thứ phải trong sạch ngay từ đầu, từ suy nghĩ đến hành động thì cùng một hành động mới có giá trị thật, còn thứ khác chỉ là thối nát giả dối” – Anh ta chắp tay nhìn lên trời đêm dần le lói những ánh sao.

“Nghe giống nếu anh đi vé tàu giả thì kiểu gì cũng bị tống xuống giữa hành trình không thể đến đích vậy” – Táo cạn ly trà đưa trả lại cho vị sư trẻ.

“Anh thật thú vị, một người bán vé thượng hạng rồi còn gì”.

“Anh làm tôi nhớ ra mình phải làm công việc này tốt nhất cho đến ngày cuối cùng” – Anh tặng vị sư trẻ vài quả táo gai rồi rời đi. 

Anh quay lại trạm dù không phải giờ làm việc của mình, ông Men ở đó từ sớm thay cho thằng Củi đến dự tiệc, ông không hề có mùi rượu như những lần bàn giao sáng. Hóa ra người ta chỉ thấy một mảng cuộc đời bê tha mà quên đi vạn phần tử tế còn lại của người đàn ông có vẻ ngoài chán đến mức hận đời này. Táo ngồi chỗ hành khách đợi tàu, thử xem mình mong chúng đến đưa anh đi khỏi đây hay không. Cái cảm giác trốn khỏi nơi mình sống mà người ta hay nói là gì anh không hiểu, anh chỉ biết rõ mình có sự gắn kết chặt với mọi thứ nơi này, có khi anh đã từng là một con nấm truyền tin sống cả triệu nằm dưới chân ngọn núi kia trước khi quay về làm người. Chuyến tàu ghé ngang, thường thì giờ này anh không ở đây, có chút ngạc nhiên khi cũng đông người đến vậy. “Ông nhạc sĩ hát dạo về giờ này à” anh tự hỏi khi thấy ông ta cầm đàn bước xuống, mỗi ngày anh chỉ thấy ông ta bước lên mà thôi, hóa ra anh không chỉ nhìn lão Men bằng một mảnh nhìn mà còn mọi thứ khác nữa. Tự dưng anh thấy mình chẳng biết gì cả, dù bình thường anh cũng chẳng mấy khi biết gì. Tàu lăn bánh, từ xa cô gái giao bánh lại đến muộn, “Không biết bánh mì có hay khét không nữa” anh trêu cô khi cô vừa hì hục thở hổn hển. Cô đẩy vai anh mạnh sang bên, tay cô thật sự rất khỏe chứ không hề như cái tên, cô đặt cái rổ còn ít bánh xuống giữa hai người. “Mẹ anh gài tôi, bảo không lấy bánh này kêu ngày mai mang cái khác đến” vừa nói cô vừa lườm anh rồi cắn luôn một miếng, đưa anh một miếng.

“Chấm thử với cái này” – Lão Men đưa ra một lọ mứt gì nhỏ xíu, màu sắc trông không lấy gì làm hấp dẫn.

“Trời đất cơi, cha mẹ ơi nó ngon. Hơi chua với người thành thị nhưng sành ăn thì thấy thơm ngon bá cháy” – Cô ăn mà dậm chân xuống đất bèm bẹp.

“Chú lấy đâu ra vậy, ăn với bánh mì đen ngon thiệc” – Táo nhìn lên lão Men rồi nhìn xuống hũ mứt vài lần trợn mắt hỏi.

“Táo rừng gai nhà mày đó, tạo lụm về làm. Ở đây cái gì cũng ngon, tại bọn nó bỏ chạy do lười không chịu thử thôi” – Lão vênh mặt tỏ vẻ đắc ý.

“Chú dạy con nha, sẵn nhà con nó mọc hoang đầy ở sau” – Táo nói.

“Dễ thôi, mỗi ngày hai lon bia” – Lão Men cười to nói, Táo giờ ngón tay cái lên đồng ý rồi ăn tiếp một miếng. Lão ta vội chạy đi vào trong vì có điện thoại trong trạm.

“Cô không ghé chùa Mật sao, ban đêm có vẻ đẹp riêng của mấy cái đèn đá trong rừng hoa lẩn khuất hai bên đường đi lên” – Táo hỏi sau một hồi im lặng còn cô ngồi trầm ngâm nhìn hũ mứt táo ngon lành kỳ lạ.

“Không vội. Anh sẽ còn gặp lại tôi đấy, bà đồng ý chia sẻ về bánh mì cho tôi, nãy có ghé nhà bà, vài tài liệu đỉnh cực kỳ của cha bà bỏ lại và nhiều thứ khác. Mà anh nói đúng đấy, bánh gạo của bà ngon số dách luôn. Hay thật đấy, tưởng đâu là một ngày điên khùng, ai dè lại làm mình tỉnh táo không tưởng”

“Mình làm tỉnh táo hay táo làm tỉnh mình” – Táo lập bập nói.

“Ai chà, ai nói anh khờ khạo, biết chơi chữ thế còn gì” – Cô huýt vào anh một cái suýt té.

“Cô nên đến thường xuyên hơn, trạm sắp đóng cửa vì không có kinh phí duy trì” – Táo nhìn cô một hồi lâu rồi mới nói.

“Cái gì ? Thiệc hả ? Sao tiếc vậy. Mà thôi cứ tận hưởng đi cái đã. Ê Ê mà hay là anh dụ tui để tui tới thường xuyên, phải không” – Cô nhanh miệng đứng lên đi quanh anh nói.

“Không không, tôi không có ý đó, thiệt mà, có hỏi chú Men đi” – Anh bối rối chỉ tay vào trong.

“Đùa thôi, tôi nghe mẹ anh nói anh yêu quý chỗ này ra sao rồi. Tôi tiếc thật đấy, tuyến tàu yên bình này đầy những điều sống động bên trong” – Cô đứng lên khi thấy chuyến tàu tiếp theo đang tiến dần đến.

Kể từ hôm ấy, Bột thường đến làng của Táo hơn. Không chỉ cô đến nhà bà lão chuyện trò về nghề làm bánh, cô còn đi cùng gia đình Táo khám phá thiên nhiên nơi đây. Những ngày trùng hợp vắng lịch, cô và Táo hay đi viếng chùa Mật trò chuyện cùng vị sư trẻ có niềm đam mê bất tận với ong và hoa. Người ta thấy chàng trai trẻ bán vé có đôi răng thỏ cười tủm tìm nhiều hơn, nhưng đôi lúc cũng phải còng lưng mang vác đồ lỉnh kỉnh giúp cô đến nhà bà lão để thử nghiệm một vài phương thức. Những khi rảnh rỗi Táo thường mày mò thử làm mứt táo rừng do lão Men dạy, đến giờ vẫn chưa thành công. Dù sao hiện giờ anh cũng chỉ muốn tập trung làm tốt những ngày cuối cùng ở trạm.

Rồi ngày ấy cũng đến, ông trạm trưởng ở đó từ sớm để bàn giao, ông cũng tự tay mình dọn dẹp và trang trí để tạm biệt nơi ông gắn bó nhiều năm trước. Ông mua rất nhiều bánh gạo đặt ở trạm và miễn phí cho mọi người ghé qua, ông còn tự nấu bữa sáng thịnh soạn cho lão Men ăn cùng Táo và Củi. Họ cười nói kể những chuyện vui buồn gặp cùng nhau khi làm ở đây, hỏi thăm nhau về dự định tương lai và quan trọng hơn cả là chăm sóc cho những hành khách cuối cùng của trạm.

Ông trưởng trạm và lão Men ra về trước, họ tạm biệt và hứa sẽ còn gặp lại. Táo có một chút trông ngóng Bột, anh có cảm giác mình muốn chia sẻ khoảnh khắc nhìn đoàn tàu cuối cùng rời đi với cô như bao việc khác thời gian qua. Trời gần về chiều nhưng vẫn chẳng thấy cô đến, dù anh biết họ không hứa hẹn gì, anh cũng chưa từng thổ lộ mong muốn này. Từ xa thằng Củi dắt bà lão từ trên dốc xuống, xong thì nó cũng tạm biệt họ. “Em không đi xa đâu, gái làng này dễ thương quá mà” hắn vẫy tay rồi nói vậy và biến mất vào màn đêm bất định. Anh đến ngồi cùng bà lão, bà xoa đầu anh như hiểu cảm xúc trọn vẹn của nhau, bà chìa ra cái bánh mì đen nhỏ mà không đẹp như cái trong lần đầu Bột đến đây đánh rơi xuống nền đất. 

“Trời đất cơi, ngon dữ vậy bà, bà làm hả” – Hắn trố mắt nhìn bà lão.

“Không, bé Bột làm đấy, tối qua nó ở lại làm rồi bắt chuyến tàu sớm về, nó kêu bà chừa lại cái này cho con ăn” – Bà lão kể.

“Chắc quà tạm biệt rồi” – Táo nói trầm ngâm còn bà lão thì đứng lên nhìn đoàn tàu cuối cùng đằng xa.

Cảnh tượng kỳ lạ trước mắt hai người, trên tàu có hơn 12 người, bình thường giờ này chỉ có 2-3 người đi bán hàng bông trên thị trấn về nhà và ông ca sĩ hát dạo. Táo đều quen mặt những vị khách cuối cùng, họ là người làng này đi xa nhiều năm rồi, trên tay họ rất nhiêu hành lý, có vẻ là quay về ở hẳn luôn. Phía trên con dốc người làng cũng kéo ra đón người nhà rất đông, họ tay bắt mặt mừng hỏi thăm nhau, những cái ôm chào đón dù không biết chuyện gì xảy ra tiếp theo. Nhưng với bà lão, ánh nhìn chỉ hướng về một người. Người đàn ông trung niên ôm chầm lấy bà, Táo biết ông ta. Ông ta là chủ của hiệu bánh gạo trước đây thành công tài trợ cho trạm Ở Ven, hóa ra ông ta là con trai của bà lão. 

Không khí cũng dần lắng xuống, chỉ còn lại ông ca sĩ hát dạo và Táo, mỗi người một góc đợi tàu rời đi. Bỗng nhiên người lái tàu chẳng khi nào nói chuyện với anh bước xuống, ông đứng tựa lưng vào thanh chắn hành khách đi vào quầy vé, đốt một điếu thuốc phà hơi mù mịt như hơi nước một con tàu cổ điển. Ông ca sĩ bắt đầu đánh đàn trong không khí chẳng có tiếng động nào khác ngoài tiếng nói cười đằng xa của nhóm người vừa rời đi. Ông đàn hát bài “Long train running” của The Doobie Brothers.Tiếng đàn hát trôi đi trong chuyến tàu cuối cùng, ông lái tàu tận hưởng từng làn khói thuốc, Táo thì thấy cái bánh bổng ngon hơn vạn lần. 

When the big train run

When the train I’m movin’ on

I got to keep on movin’

Keep on movin’

Won’t you keep on movin’?

Won’t you keep on movin’?

Ông ca sĩ đứng lên, vẫn đàn hát đoạn ấy, nhưng ông quay lại rồi đi chậm rãi hướng con đường về nhà, ông lái tàu cũng vứt điếu thuốc rồi lên tàu bật công tắc. Tiếng còi tàu cuối cùng vang lên, ánh đèn cũng dần xa không còn thấy, Táo cho đàn kiến dưới chân mẩu bánh mì sót lại rồi dọn dẹp tắt đèn về nhà. Anh thong thả dù vẫn còn nghĩ về Bột, nhưng anh đã biết mình làm gì tiếp theo.

Hàng táo nhà anh chín rộ tuần sau đó, anh xin về nhà cha mẹ ở cùng để giảm chi phí, và cũng phần vì anh muốn tập trung làm ra loại mứt táo rừng ngon như của lão Men. Cả ngày anh không đi đâu, không nói gì với ai, chỉ tập trung vào thử nghiệm, thiếu món gì đặc trưng quá thì anh mới ra ngoài đi mua, còn lại thì đặt online và nhờ người thân. Anh thật sự bế quan tỏa cảng với cái mong muốn tột cùng này, anh tin rằng tự nhiên không từ bỏ mình và người nơi đây sau cái đêm chuyến tàu cuối cùng ấy.

Ba tuần sau, anh la hét chạy ra ngoài với hàm râu lún phún trông đàn ông hơn rất nhiều. “Táo ngon hơn xưa rồi bà con ơi” anh hô vang làm cả nhà anh cười nghiêng ngả. Theo quán tính, bất giác anh chạy thẳng về phía trạm Ở Ven, anh vui mừng chuyện trò với hành khách vừa xuống, anh chạy vào trong thì bị người bán vé đuổi ra rồi mọi người cùng nhìn anh cười. Anh giật mình nhận ra con tàu đang hoạt động, mọi thứ vẫn còn đó. Trên cao có tấm băng rôn, “Mừng trở lại”, hóa ra anh không mơ hay điên, mà trong lúc anh ở trong nhà chuyện gì đó đã xảy ra. Giờ anh mới nhận ra thằng Củi đang làm cùng một nhân viên mới bên trong trạm.

“Chuyện gì, thế này là sao Củi ?” – Táo ngơ ngác hỏi.

“Thì chạy lại chứ sao, lại nhà bà già anh hay dọn vườn ấy mà hỏi” – Củi ôm bụng cười nói.

Táo chạy thục mạng đến nhà bà, cửa mở toang và nhiều vật liệu xây dựng ngổn ngang, ai đó đang sửa sang thay đổi ngôi nhà. Có tiếng lục đục nói chuyện của hai người trong nhà, với chút hoang mang anh bước vào, anh đá trúng cái thau nhôm còn dính ít bột mì dưới đất làm hai người kia quay lại.

“Anh ra khỏi hang rồi hả, chắc xong mứt rồi phải không, đưa em thử” – Thì ra là Bột đang bàn bạc gì đó cùng người con của bà lão.

“Chào em, cảm ơn chăm sóc mẹ anh thời gian qua, bà kể về em suốt” – Anh ta bắt tay Táo rồi cười vui vẻ hơn hẳn cách đây ba tuần.

“Bà, ủa còn bà đâu ?” – Táo vẫn dáo dác nhìn quanh tìm bà lão.

“À quên mất, mẹ anh có gửi em lá thư trước khi đi” – Người con trai đưa Táo mẫu giấy nhỏ với nét chữ rất cứng cáp và rõ ràng.

“Bà đã nghe kể lại cuộc trò chuyện giữa cháu và nhà sư trẻ, bà vừa vui vừa xúc động với sự tận tâm của cháu. Khi nhìn cháu ngồi buồn hôm trước, lúc vừa đợi chuyến tàu cuối vừa mong mỏi người bạn hợp ý, bà rơi nước mắt. Bà khóc vì nhớ tuổi trẻ của mình, khóc vì người trẻ bây giờ không còn nhiệt thành và tình cảm sâu đậm với mọi thứ như thế, cả con trai bà cũng vậy. Nhưng suy cho cùng người lớn cũng dần yếu ớt và không làm gì cả, bà thấy mình thua xa cha mình, ông nội mình. Chẳng ai có lỗi cả, chúng ta phải cùng nhau tiếp tục, trạm Ở Ven phải tiếp tục và những người trẻ phải giữ được ngọn lửa nhiệt thành. Đừng lo, bà có kha khá tiền trong ngân hàng đấy, giờ thì bà đi chu du trở lại đây. Các con làm việc vui vẻ”

Táo khóc rồi cười, cười lại khóc khi đọc lá thư. Bột buông mớ giấy tờ kế hoạch và bản vẽ trong tay ra rồi ôm Táo thật chặt, một cái ôm của những con người thấu hiểu nhau đang làm gì. “Sao nào, mình bắt đầu được chưa”, bên ngoài vị sự trẻ mặc quần áo trong rất ngầu bước vào, tóc trên đầu lún phún mọc, còn trên tay anh cầm một hũ mật ong vàng rực rỡ như ánh nắng ban mai trên đỉnh núi.