HOA LAU BẠC


Len lỏi qua những búi lau già hoa trắng bạc phất phơ trong ngọn gió đông hàn lúc chiều tà, cuối cùng ông Thụ đã nhìn thấy bà vợ cùng chiếc xe đạp lẻ loi trên con đường mòn vắt qua rừng vầu ở phía bên kia quả đồi. Và thế là ông chạy.

– Kìa, Nhân, sao lại dắt xe thế?

Qua mấy cái dốc ngắn, lát sau ông đã đến trước mặt bà, tay đặt lên tay lái xe, hổn hển tiếng nọ lấp tiếng kia.

– Khổ, anh đi đón em làm gì cho vất vả ra!

– Xe hỏng, hả em? Chết, gió rét thế, khăn đâu sao em không quàng?

Người phụ nữ tuổi đã ngoại năm mươi có gương mặt tròn, dẫu đã heo héo vì tuổi tác, vẫn còn vẻ duyên dáng ở hai con mắt lóng lánh, sâu trầm và cái sống mũi thanh tú, khóe môi đầy đặn, thò tay vào cái túi lưới treo ở tay lái, kéo ra một cái khăn len xanh và trong động tác ngửa đầu, hất mái tóc dài rậm về phía sau, phô một cái cằm nõn nà, điệu bộ thật thanh tân, tươi trẻ.

– Dạy xong tiết cuối cùng, thấy mây đen kéo tới, em chỉ sợ mưa ập xuống. Thế là vội vội vàng vàng. Lốp xe non hơi từ lúc sáng đi, cũng không kịp bơm.

– Không sao! Không sao!

Quay lại sau, khom tấm lưng dài, người đàn ông cao lỏng khỏng, đưa tay bóp bóp cái lốp sau, chặc chặc lưỡi, lắp bắp:

– Cũng sắp về tới nhà rồi. Ngày mai em nhớ mang bơm đi theo nhé. Đấy, lại còn đèo những cái gì lủng củng ở sau xe thế này?

– Măng khô, mộc nhĩ bà con cho. Không nhận cũng cứ buộc bằng được vào.

– Bà con người Dao trong bản quý em nhỉ!

Thít múi khăn dưới cằm, người đàn bà bước lên ngang chồng, bỗng như thất thanh:

– Kìa, mũ anh đâu? Lại để quên ở đâu rồi! Mình có tuổi rồi, không coi thường sương gió được đâu. Mà đi đón em làm gì!

– Mặc anh, anh thích thế!

– Về, đêm lại rên rẩm đau xương đau cốt cho mà xem.

– Anh còn khỏe chán!

Lướt qua mặt vợ một cái cười trống không vì hàng răng cửa đã rụng tiệt, ông Thụ hóm hỉnh:

– Thật đấy, đừng coi thường anh nhé!

– Em coi thường anh bao giờ. Nhưng hôm nay trông anh xao xác thế nào ấy!

– Chậc! Già rồi nó vậy. Với lại anh vừa nhổ cái răng số sáu!

– Không phải!

Khe khẽ như chỉ nói với chính mình, bà Thụ đánh tia mắt qua mặt chồng. Mặt ông nhô cao đôi lưỡng quyền, trũng sâu hai con mắt, trông xao xác, hốc hác đã đành. Ông còn lúng túng, lập cập, còn như có điều gì ẩn khuất, mắc mớ, buồn phiền không tiện nói ra. Đã thế cái dáng đi lại cũng ngượng ngập thế nào. Có lẽ ông bị đau ở bên hông, nên mỗi bước đi mặt lại căng căng gắng gượng cố giấu đi vẻ khó nhọc, đau đớn.

Nhận ra vẻ nghi ngại trong ánh mắt vợ, ông Thụ liền hậc một tiếng cười cụt lủn:

– Quên, anh chưa nói với em. Trưa nay anh lại dở thư hai con Quê Hương và Ái Việt ra đọc. Đọc chưa hết đã thiếp ngủ. Ngủ nhưng mơ gặp cả hai con. Thế nào mà cả anh, em và Quê Hương cùng đi một chuyến máy bay sàng Sýtruyện ngắni thăm Ái Việt. Xuống máy bay, đi ra cửa nhà ga, bắt gặp một cánh đồng cỏ xanh ngắt. Có một chú căng gu ru thật to nó nhẩy đến, giơ tay chào chúng mình.

Chả có gì bằng con. Toàn bộ hạnh phúc của vợ chồng ông giáo Thụ là ở đấy. Nhắc đến con là họ quên hết cả mọi chuyện, cả bản thân mình. Đường về nhờ vậy ríu ran vui vẻ, hết cả nhọc mệt và băn khoăn.

Bữa cơm tối dọn lên, chuyện về con trai du học ở Úc và con gái đi học trường Luật ở Hà Nội cũng vẫn chưa dứt.

Bưng bát cơm lên, bà Thụ lại đặt xuống, chớp chớp mắt:

– Vậy là có đến nửa năm mình mới nhận được thư Ái Việt gửi về. Thư đi từ Úc về hóa ra cũng chỉ hơn tháng, anh nhỉ?

– Nó bận trăm công nghìn việc. Học hành đã bận lại còn phải làm thêm lấy tiền chi dùng mới đủ được

– Sao không thấy Quê Hương nói đã nhận được một triệu tư em gửi bưu điện về cho con, nhỉ?

– Thì đầu tháng chú Diệp qua đây đi Sa Pa nó chả nhắn lên rồi là gì.

– Sao con nó cần nhiều tiền thế, anh?

– Chuyện, đất thủ đô có như miền rừng mình.

– Chắc con nó không ở nhà bác Lạng nữa.

– Ở riêng, tuy có tốn kém, nhưng tiện cho học hành của con hơn, em ạ.

– Thì cũng chỉ mong con học hành nên người. Nhưng mà anh à. Sao hồi này hễ cứ nghĩ đến hai con là em lại thấy nóng ruột thế nào ấy. Lắm lúc còn giật thột mình. Chỉ lo lỡ có làm sao thì…

– Thôi ăn đi, em. Khéo không lại hóa ra lẩn thẩn!

– Anh cũng đã ăn hết bát cơm đâu mà giục em.

Cười hè hẹ, ông Thụ nhấc bát cơm. Mắt bà Thụ long lanh sung sướng. Cơm trắng bông, chín tới, gạo mới thơm lừng gian bếp lạnh, lại có thịt gà rim và rau cải xào tim gan. Vừa miệng quá mà mới chưa đầy bát cả hai vợ chồng đã thấy lưng lửng dạ, chả thiết ăn nữa.

Ôi, con cái, chúng là cái gì vậy mà huyền diệu lạ lùng! Nó là một nửa đời ta. Là phân thân của ta. Là bóng hình của ta. Không, là cả đời ta. Không! Còn hơn nữa. Là cái ước ao sở cầu của ta. Là cái siêu trên, là điều ta khát muốn, ta hóa thân, ta thanh lọc ta mà thành. Con cái, chúng từ ta sinh ra, nhưng cuối cùng chúng lại là kẻ chi phối ta, biến ta thành kẻ phụ thuộc; thú vị thay nghịch lý tự nhiên này!

Câu chuyện về hai con râm ran suốt tối, đến tận khuya, không còn cả tiếng đài phát thanh loa công cộng ngoài phố vọng về, chỉ còn nghe thấy gió rừng chạy lạt xạt trên mái gianh, khi hai vợ chồng bảo nhau đi nằm.

– Có lạnh không, em? Ông Thụ lên giường sau, vén màn hỏi vợ: Hay là để anh gầy thêm đống lửa ở giữa nhà?

Ngoi đầu ra khỏi cái chăn bông cũ, bà Thụ lắc lắc:

– Lạnh lúc đầu một tí thôi. Anh nằm sát vào em một lúc sẽ ấm ngay đấy mà. Sang năm, Ái Việt tốt nghiệp về nước mình sửa lại cái nhà cho đỡ trống hở, anh ạ.

– Ừ.

– Anh nằm lui vào. Thế! Mới ngày nào Ái Việt vào học lớp 1, đêm còn rúc nách bố. Em vừa cai sữa cho Quê Hương, rồi bà ở quê lên chơi, khâu cho cái đệm bằng xô màn và quần áo cũ.

– Chóng thật đấy!

– Anh còn nhớ hồi Ái Việt bị sơ nhiễm vi rút gan không? Thật em không còn hồn vía nào nữa. May, hồi đó có bác sĩ Hân bạn anh. Hồi này ông ấy ở đâu nhỉ?

– Chuyển công tác về bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội rồi.

– Đấy, khi nào Ái Việt tốt nghiệp phải đưa con đến tạ ơn ông ấy. Ơn ông ấy là ơn cứu tử. Hồi Quê Hương bị sởi biến chứng vào đường tiêu hóa cũng kinh quá, anh nhỉ? Hồi ấy sao mình gặp nhiều tai họa thế, anh? Lại cái lần Ái Việt đá bóng ngã gẫy tay nữa. Hồi đó em rất muốn đi hỏi thầy bói, chỉ sợ anh không bằng lòng nên lại thôi. Thật không hiểu là tiền oan nghiệp chướng gì mà dồn dập hết tai nạn này đến tai nạn khác cứ giáng xuống nhà mình. Mà mình cả đời ăn ở hiền lành. Hóa ra sông có khúc, người có lúc, anh nhỉ!

Cái chăn bông ủ hơi người ấm sực lên. Cựa động khe khẽ, ông Thụ rút cánh tay trái ra khỏi chăn, giơ lên cao và nhận ngay ra vẻ quen thuộc của động tác này, bà Thụ liền nhấc cao đầu để cánh tay chồng lọt xuống thành cái gối của mình. Nghe làn tóc ấm của vợ áp trên bắp tay, ông Thụ nhận ra bà vợ đã xoay nghiêng người, vòng tay ôm ngang sườn ông. Thân quen quá là cái cảm xúc râm ran âu yếm, nó khiến ông chuyển người sang ngay phía bà, vừa lúc bà ý tứ co chân, thu người lại, nhỏ nhắn và nhẹ nhàng lọt vào lòng ông. Ký ức như bừng dậy xôn xang khiến cả hai cùng ngây ngây lặng phắc.

– Chóng quá, anh nhỉ? Ngoảnh đi ngoảnh lại, con đã lớn bằng hồi chúng mình mới quen nhau!

– Ừ, dạo đó anh hăm bẩy, em hăm hai, bằng Ái Việt và Quê Hương bây giờ.

– Em nhớ hồi đó anh hay mặc cái áo ba túi màu trứng sáo, chiều chiều từ lớp Chính trị sang cổng trường Sư phạm. Rồi hai đứa đi dọc bờ sông. Khiếp, chuyện gì mà lắm thế, hết đêm này sang đêm khác không hết! Mà anh tán cũng khiếp nhỉ!

– Ai bảo em xinh đẹp? Anh không mau mồm mau miệng mất em như chơi.

– Hì. Anh có nhớ năm chúng mình cưới không?

– Nhớ. Liên hoan bánh kẹo xong mình về ở cái chái nhà Phòng giáo dục thị xã. Cái giường đôi là nhờ ông Hoằng phụ huynh học sinh thợ mộc ghép từ hai cái giường cá nhân Ty giáo dục để lại cho.

– Cái giường ghép, mộng mẹo kẽo kẹt làm em xấu hổ quá.

– Tại em xinh quá!

– Tại anh thì có! À mà ông Hoằng hồi này sao lâu không thấy? Hôm rồi em có gặp cậu Tường con trai của ông ấy. Cậu Tường là học sinh của anh đấy, giờ cậu ấy làm chủ mấy cái xe ngựa chở khách. Nhà ấy, cả bố lẫn con đều hiền lành, ăn ở nhân nghĩa sau trước anh nhỉ?

Không thấy chồng đáp, chỉ thấy cánh tay làm gối cho vợ của ông dụn dịn rung động, bà Thụ liền nghển đầu. Người ông Thụ bỗng dưng nóng dâng. Kéo đầu vợ xuống, ông ghé tai bà. Bà khẽ cười, nằm xuống, duỗi chân, ngẩng mặt. Hàm răng trong đêm trắng muốt như hoa huệ, bà quài tay ra sau lưng, hơi thở chộn rộn, nhột nhạt:

– Để em bỏ cái áo con đã! Nhưng mà em sợ anh mệt!

– Không, anh không mệt.

– Em… già rồi.

Nghển dậy, mặt ông Thụ nóng bừng. Ký ức từ đâu trở về cùng hiện tại trộn lẫn, trôi dạt bồng bềnh. Trong bóng mờ của tấm chăn che, hiện lên như ảo thể một vùng da thịt trắng mờ và tiếng kêu e thẹn ngập ngừng của người phụ nữ mơ hồ như từ xa thẳm vọng về, ông Thụ run rẩy và chòng chành như đang sống giữa chiêm mộng.

– Nhân ơi, anh yêu em.

– Anh…

– Nhân ơi, mãi mãi em của anh còn tươi đẹp. Mãi mãi ta ở bên nhau, em nhé.

Ngột thở quá, ông Thụ lắc lắc đầu đưa tay bứt khuy áo cổ. Người phụ nữ nâng hai bàn tay đón đợi và nhận ra hơi thở của chồng nóng ấm tỏa khắp gương mặt đang căng nức sung sướng của mình. Nhưng, chính lúc ấy, bà bỗng thót mình, vội níu lấy ông. Anh bị làm sao thế ? Nghe thấy một tiếng khục nho nhỏ như tiếng trật trẹo của một khớp xương, bà vừa chợt kêu, đã thấy ông chồng đổ nghiêng xuống bên mình.

Vội vàng xỏ tay vào ống tay áo, bà Thụ nhổm dậy, ông chồng bà đã xoay người, duỗi thẳng chân, mặt ngửa lên đình màn.

– Anh bị đau ở đâu? Sao không bảo em?

– Không! Không! Bình thường thôi mà!

– Bình thường là thế nào! Chiều nay lúc đón em, em đã thấy chân anh đi ngường ngượng thế nào ấy. Anh ngã xe à? Hay là anh còn có điều gì khúc mắc còn giấu em?

Cùng với những câu hỏi dồn, tay người phụ nữ rối rít lần sờ khuôn ngực, cánh tay, hông sườn chồng. Bà cũng lờ mờ đoán được đã có một tai nạn nho nhỏ chồng bà vừa phải chịu. Nhưng bà không hiểu trạng thái tình cảm lúc này của ông. Việc bỗng dưng ông đi đón bà, cũng như cuộc ái ân vừa như ngẫu hứng vừa như được dự định sau cả mấy năm trời ngắt quãng vì tuổi tác, chẳng lẽ chúng là biểu hiện khát vọng được hiệp nhất để chống trả nỗi cô độc, lo âu và sợ hãi của ông trước tình yêu con cái đang có nguy cơ bị phản bội, điều ông mới nhận ra.

 

May mắn thay cho vợ chồng ông giáo Thụ. Hai đứa con ông từ nhỏ cho đến khi học hết trung học phổ thông, xa cha mẹ bước lên bậc đại học, đều là những đứa trẻ ngoan ngoãn, giỏi giang.

Ông là thầy giáo dạy các môn khoa học xã hội ở trường cấp hai. Bà là hiệu trưởng một trường tiểu học. Họ là những con người lương thiện, trong sạch nhất thế gian. Như hàng chục triệu người lao động bình thường, không địa vị cao, không của cải lớn, chất phác thật thà từ bản tính, ngày đêm họ chỉ canh cánh một mối bận lòng là làm tròn bổn phận được xã hội giao và nuôi dạy con cái nên người. Ôi, con cái! Chúng là tất cả hy vọng, thậm chí là niềm ngưỡng mộ, tôn thờ của cha mẹ chúng!

Ái Việt và Quê Hương thừa hưởng trọn vẹn và trên mức yêu cầu tình yêu thương hết lòng và sự săn sóc tận tụy, có phương pháp khoa học của mẹ cha, hai nhà giáo dục mô phạm. Vượt qua cấp Trung học một cách dễ dàng, Ái Việt thì đậu vào một trường đại học ở Úc và sau đó bốn năm, Quê Hương đỗ vào trường Luật ở Hà Nội, khi bố mẹ vừa đến tuổi hưu trí.

Anh à, em nghĩ, có gì thì mình giật gấu vá vai, tằn tiện ở nhà. Chứ nhất quyết không để con thiếu thốn, ảnh hưởng đến học hành, anh ạ. Ý nghĩ của bà vừa thổ lộ đã bị ông gạt phắt. Có gì mà phải nghĩ với ngợi, tính với toán. Con cái là hòn ngọc hòn vàng, huống hồ bây giờ lại đang thênh thang vận hội, nào mấy người đã được như thế, thì dù có đói khổ, cực nhọc đến thế nào, cũng xin là vui lòng chấp nhận.

Tinh thần là như vậy, nhưng đi vào cụ thể, vợ chồng ông giáo Thụ cũng phải tính toán cụ thể đến từng chi tiết. Nhất là bây giờ họ đã về hưu. Ba ngàn đô la chu cấp cho Ái Việt đi du học đợt đầu là cả một tài sản. Bán chác cái gì, vay vỏ ở đâu thêm vào cho đủ? Và dẫu rằng không thể so với sự chi dùng của anh trai, các khoản tiêu pha của Quê Hương cũng vẫn là một gánh nặng quá sức với ông bà. Ăn uống thì cứ coi như không kể, vì ở đâu chả phải ăn uống. Nhưng còn ở? Tiền thuê nhà một tháng ở đất Hà Nội đã nuốt gọn lương hưu một tháng của mẹ rồi. Còn tiền sách vở, giấy bút, học thêm? Con gái đang thì không thể như đứa trẻ. Không phải là đua đòi, nhưng mức sống chung của xã hội là thế, mình không thể, trông nó kỳ lắm. Người ta mắc điện thoại cả, mình không có, mình bị loại ra khỏi vòng bè bạn. Bè bạn chọn người đồng đẳng. Ấy thế! Nhưng, một thỏi son Mỹ là nửa tháng lương của bố. Một đôi giầy cao gót, một bộ váy áo, một chiếc quần bò, đều là những khoản tiền không nhỏ. Ấy là chưa kể, lương phạn của cả một đời thầy giáo dành dụm chắt bóp chắc gì đã đủ để tậu nổi một chiếc xe máy cho con!

Chao ôi! Bài toán hóc búa càng giải càng thấy bế tắc. Nhưng trách nhiệm cha mẹ và tình yêu thương con cái không cho phép thoái thác. Làm sao mà có thể thoái thác trách nhiệm và tình yêu? Vậy nên đáng tuổi nghỉ ngơi mà không được phép nghỉ. Sáu mươi tuổi, ông lại lao vào công cuộc mưu sinh với nụ cười vừa héo hắt vừa sung sướng đậu trên môi: Con bé lo đằng con bé. Con lớn lo đằng con lớn. Đó là hạnh phúc của cha mẹ có phải vậy không, em?

Hai vợ chồng ông giáo Thụ sống trong niềm hạnh phúc được bận rộn, được vất vả lo toan, được vắt kiệt sức lực để lo toan cho cuộc sống và tương lai của các con. Họ vay nợ lãi. Họ trồng rau, nuôi lợn. Họ làm giá đỗ. Họ đan lát, họ làm thuê gánh mướn. Họ không nề hà bất cứ công việc nặng nhọc bẩn thỉu. Họ không nản lòng, thối chí. Nhịn ăn cho con ăn. Chịu rét cho con ấm. Giảm thiểu đến tối đa các nhu cầu của bản thân để dôi dư từng đồng bạc gửi cho con. Không ngại mệt nhọc, khổ sở, không tính đến sức khỏe tuổi già, không nghĩ đến bản thân. Cuối cùng, may mắn bà trở lại nghề dậy học. Làng Dao xa gần hai chục cây số đang thiếu thầy đối với bà cũng trở nên gần gụi. Vì mỗi tháng chịu khó bỏ sức lực ra ở đó bà cũng thu về bốn trăm ngàn đồng. Còn ông, may quá có cậu học trò con ông thợ mộc Hoằng hảo tâm, thấy thầy gặp lúc khó, bèn mời thầy đến giữ chân bán vé xe ngựa chở khách cho hợp tác xã. Bán vé tháng được ba trăm, so với người phụ lái xe ngựa chỉ bằng nửa. Tất nhiên là công việc này nặng nhọc hơn. Nhưng, ông sợ gì nặng nhọc mà không đem tình yêu con cái ra để thử thách?

Ông giáo Thụ chuyển ngay sang công việc phụ lái cho người đánh xe ngựa chở khách trong thị trấn. Nhận vé, xếp sắp chỗ ngồi cho khách, hô một tiếng xong để người đánh xe ra roi cho ngựa chạy, rồi bước lên bậc xe, lẩy bẩy, phờ phạc vì cạn kiệt hơi sức, nhưng ông vẫn ngẩng đầu nhìn trời xanh trên cao, lâng lâng sung sướng. Cá chuối đắm đuối vì con quăng mình lên cạn cho kiến bâu đốt để lát nữa vật mình xuống nước làm mồi cho con liệu có cao cả, đẹp đẽ đến mức lý tưởng như ông bà vì ông bà hành động không chỉ là bản năng mà còn là từ siêu thức?

Ôi, hai đứa con, hai niềm kiêu hãnh của mẹ cha, chúng xứng đáng với sự hy sinh hết lòng của mẹ cha. Vì tin tức đưa về toàn những thành đạt. Ái Việt tốt nghiệp loại ưu, Quê Hương đạt sinh viên ưu tú. Ngất ngây cả người, đã có lúc ông tự nhủ: đến cái mức này thì chết cho con cái cũng sẽ là niềm kiêu hãnh lớn lao của ta!

 

Ông giáo Thụ định đem cái chết ra để thử thách tình yêu với con cái. Nhưng, ông giáo Thụ không chết! Ông giáo Thụ không chết. Sáng qua, ông chỉ ngã từ trên xe xuống đất lúc ông đang làm công việc phụ lái xe ngựa. Ông ngã từ đuôi xe xuống vì một cú giật bất thình lình của con ngựa kéo xe dở chứng kinh động. Ông ngã vì thất thần do gặp cơn kinh sợ đột ngột. Ông ngã nghiêng, đầu không chạm đất, nhưng hông phải và lưng dộng xuống đất, đau ê. Đau ê nhưng ông cố gượng dậy và ngửa mắt ngác ngơ nhìn trời: Chả lẽ hai đứa con ta lại hư đốn như thế ư? Ngồi dậy, nhìn chiếc xe ngựa phóng bụi mù ở phía trước, run rẩy mở lá thư của ông bác từ Hà Nội mới gửi lên, đọc lại một lần nữa vì không thể tin, ông tự hỏi? Chả lẽ con cái trả ơn cha mẹ như thế? Chả nhẽ Ái Việt tốt nghiệp xong, trở thành kỹ sư tin học, lấy vợ Úc, nhập quốc tịch Úc, tuyên bố từ bỏ đất nước dân tộc? Chẳng lẽ mấy năm qua Quê Hương con gái ông bà đã lừa dối bố mẹ, chẳng học hành gì, dùng tiền bố mẹ đổi bằng mồ hôi nước mắt để ăn chơi lêu lổng, hiện sống đời vợ chồng với một lão thầy bói tử vi tuổi ngoại năm mươi? Hư hỏng đã hoàn toàn, đó là sự thật được che giấu một cách vô liêm sỉ trong những lá thư chúng liên tục gửi về, tự tô vẽ mình, để nã tiền cha mẹ. Ôi! Kinh hãi quá là sự phản bội của kẻ ruột thịt in dấu hình của sự suy đồi đạo đức.

 

Tỉnh giấc vì cơn đau nhói giật ở sống lưng, ông Thụ nhận ra bà vợ đã dậy và đi rồi. Cúi xuống tìm dép, thấy lá thư báo tin dữ nọ của ông bác rơi ở dưới đất, ông vội nhặt lên, chột dạ nghĩ rằng bà vợ đã đọc được, nhưng lại vội trấn an, gấp thư, nhét vào túi áo. Không bà ấy đi vội, chẳng để ý tới đâu. Tập tễnh bước ra cái tủ, ông lục tìm cuốn sổ khám bệnh, nhưng nghĩ thế nào lại cất đi. Đau quá, ở đốt sống ngang lưng đau như dao đâm. Còn ở hông phải, đưa tay sờ thấy da thịt nổi lên một vệt bì bì, nong nóng. Đốt sống L2 bị thoái hóa từ lâu gặp va chạm giờ kịch phát. Còn hông phải có thể là trật khớp xương, hoặc giãn dây chằng hay bong gân đây. Đi khám, xác định được căn bệnh, lại mất mấy chục ngàn tiền thuốc chứ không ít. Vậy thì tốt nhất là làm cho nó qua khỏi mà không tốn kém gì. Tằn tiện đã quen, không tằn tiện thì lấy đâu tiền cho con cái ăn học, nên có bệnh thì việc đầu tiên là phải tự chữa lấy cái đã. Tự chữa lấy, lá lẩu xằng xịt vậy mà qua khỏi khối lần đấy. Nếu không cứ mỗi bận đau răng, đau mắt, sưng khớp đều đến bác sĩ thì tiền đâu!

Quả nhiên, lần tự chữa lấy này của ông giáo cũng hiệu nghiệm. Đau thì uống APC, một viên không đỡ thì hai viên. Thuốc này chỉ làm ta quên cái đau chứ không chữa được gốc bệnh. Thì cứ thế đã. Còn chỗ sưng, không ngờ đoán mò rồi lê ra vườn, cắt mấy cái lá náng đem vào hơ lửa, áp lên vài lần đã xẹp dần, đi lại chỉ còn thấy hơi ngường ngượng.

Thế là lại như hôm qua, ngả chiều ông giáo Thụ lại đi đón vợ. Ông Thụ đi đón vợ vì cũng như hôm qua và có lẽ từ nay sẽ là như thế, ông sợ hãi cảnh đơn lẻ một mình. Khi chỉ có mình mình, con người ta yếu đuối lắm. Con người ta cần có người thân để chia xẻ, để vững tin. Mong mỏi gặp vợ khiến ông Thụ dấn bước. Nhưng lên tới đỉnh đồi lau, nơi hôm qua từ đó ông nhìn thấy người vợ thân yêu, ông liền đứng lặng. Hoa lau, chẳng có thứ hoa nào diễn đạt nỗi buồn sâu sa đến như thế. Từ những búi cây rườm rà những phiến lá dài, sắc như gươm, lau phun cả trăm, ngàn bông tơ bạc xác như muốn để nỗi sầu thương tràn ngập khắp thế gian. Tự nở rồi tự bạc, những bông lau trắng hắt hiu khiến hoàng hôn đã ảm đạm càng thêm buồn bã.

– Khổ! Anh đi đón em làm gì cho vất vả ra!

Cảnh huống lặp lại mà không hoàn toàn. Người phụ nữ tuổi đã ngoại năm mươi có gương mặt tròn, dầu đã heo héo vì tuổi tác, hình như hôm nay đã đánh mất vẻ duyên dáng ở hai con mắt long lánh, sâu trầm. Mặt bà thật hoang vắng, vô hồn.

– Sao, em làm sao thế?

Giật mình, ông Thụ giật giọng hỏi vợ khi đưa tay đỡ tay lái chiếc xe. Ông kinh hãi. Chả lẽ vợ ông đã hiểu hết mọi nguồn cơn câu chuyện? Thì chẳng phải đêm qua bà ấy bảo hồi này cứ nghĩ đến con là bà ấy nóng ruột. Và lá thư của ông bác từ Hà Nội gửi lên có thể là bà ấy đã đọc rồi, đọc rồi và hiểu hết mọi chuyện rồi. Ôi, con với cái. Con cái mãi mãi chỉ là con cái, là sự ích kỷ được bảo hiểm. Con cái, chả lẽ mãi mãi chỉ là ước ao của bố mẹ chúng mà thôi ư?

– Kìa, em! Sao lại thế!

Chợt cất tiếng vì nhận ra bà Thụ vừa dấn lên đi ngang ông vừa cởi bỏ chiếc khăn quàng cổ đúng lúc có luồng gió lạnh thổi rung xào xạc rặng lau rậm, ông Thụ càng lạ hơn khi bà vợ quay sang nhìn ông, giọng bỗng nhiên thanh thản và trong trẻo khác thường:

– Chân anh đỡ chưa?

– Có gì đâu mà đỡ!

Đón nhận một ánh cười thoáng qua trên đôi môi đầy đặn, hậu tình của bà vợ, ông Thụ ngây người. Bà vợ ông đã biết hết mọi sự tình rồi, nhưng bà giả tảng? Bà muốn an ủi ông? Hay, bà cũng như ông, đang sống trong một tình yêu sâu sắc, một tình yêu vĩ đại, không suy suyển, không biết đến điều gì khác và do đó không thể tin có sự phụ tình? Đó, bà đã giành tay lái xe từ tay ông, mặt nghiêng nghiêng một lát cắt duyên dáng và một vết nguýt yêu mềm như nhung lướt qua mặt ông khiến ông lại ngây đờ:

– Ai bảo đêm qua còn hăng hái! Bận sau em không nghe đâu đấy. Thôi, ngồi lên em đèo, kẻo đau đi không nổi đâu. Mà em bảo này: Từ mai thôi không làm phụ xe ngựa ở Hợp tác xã nữa. Nhiều no ít đủ. Cố mãi đột quỵ thì làm sao, anh!

Không còn cách nào nữa, ông Thụ đành ngồi lên sau xe để vợ đèo. Nhưng xe đi được một đoạn, nhìn lên thấy một trời lau trắng bạc, lại nghe thấy tiếng thở gắng sức của bà vợ, ông Thụ liền tụt xuống đất. Anh làm sao thế? Không! Không thể nói được. Chắc bà vợ ông sẽ cũng vậy thôi. Nỗi đau này phải nín nhịn, phải nuốt vào bên trong, vì đó là nỗi đau nhân thế, cao cả và thánh thần. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông đã bật khóc nức nở ngay lúc đó và ông đã nhận ra tiếng bà gọi hết sức hoảng hốt và não nùng.

23/6/1999

.Đã in trong Tập TRUYỆN NGẮN Một mối tình si. NHÀ XUẤT BẢN Hội Nhà văn 2000