ÔNG NGẪU


– Anh sang nhà tôi chơi nhá! Tôi phải làm cho hàng xóm biết rằng. Kiếm đâu cho được một thằng như tôi.

Ông Ngẫu nắm chặt bàn tay tôi, nói vần, rồi cũng vẫn cái giọng eo éo lọt qua hàm răng đều khít, ông nghiêng đầu, nheo mắt:

– Như tôi, tức thị là như Ngẫu tôi, bán vé số ở chợ Kim Ngưu, hàng xóm của ông ấy. Sang tôi chơi nhé. Hay là sang ngay bây giờ?

Ừ, thì sang! Người ta mới dọn đến cạnh nhà mình, lại thân sang làm quen, rồi mời mọc. Tình nghĩa xóm giềng trước sau thế nào rồi cũng phải có. Vả lại, lúc này tôi đang vơ vẩn chẳng biết làm gì cho hết ngày.

Mùa thu có những ngày ủ dột, u ám, khó chịu vô cùng. Nóng chưa đi hẳn. Rét tới chập chờn, vài hạt mưa lắc thắc dấm dẳng. Trời ngu ngơ, chẳng chẳng biết đi về đâu, không hiểu đang là sáng hay chiều. Khung cảnh, thời tiết chỉ muốn những rủ rê con người đi vào nỗi buồn nhân thế mênh mông. Lúc này có bạn, lại là người hàng xóm mới, mau mồm mau miệng, quảng giao lịch lãm, lại xuất khẩu thành vè, thành thơ, âu cũng là cái vui tự nhiên đáng được hưởng.

Hàng xóm của tôi ở bên trái là ông Cẩm Thủy. Ông Cẩm Thủy mặt tà, mũi vọ, sỉ lộ, môi dầy, tiếng nói the thé như người ngạt mũi kinh niên. Về hưu đã ba năm, ông vẫn chưa thoát khỏi thói háo danh và tính huênh hoang, hợm hĩnh. Không đến nỗi như mấy ông, hễ cứ họp tổ dân phố là đứng dậy tràng giang đại hải dạy bảo mọi người, ông Cẩm Thủy nói năng lúng búng, hình dong xấu xí, chỉ biết đập bồm bộp vào ngực, khoe cộc cằn và đơn giản thế này thôi: Tôi mà còn làm giám đốc Nhà xuất bản một năm nữa thì tôi sẽ lên… thứ trưởng các đồng chí ạ!

Nghĩ đi thì cũng thấy tiếc cho ông Cẩm Thủy, nhưng nghĩ lại thì thấy chẳng nên tiếc, vì ông có thiệt thòi gì đâu, tài năng ông vẫn có cơ phát lộ. Vì đúng như Simon Freud vĩ đại, bậc sư tổ của khoa phân tâm học thế giới, nói: Đôi khi bản năng dục vọng lại thăng hoa sang lĩnh vực nghệ thuật. Ông Cẩm Thủy bỏ lỡ cơ hội giữ chức thứ trưởng thì ông lại phát triển khả năng thơ ca.

Ông Cẩm Thủy làm thơ. Say mê lắm, có ngày ông làm liền tù tì bốn bài. Một tháng ông hoàn thành một tập thơ trăm bài. Khổ! Thấy ông say sưa cặm cụi mà ngại cho ông quá. Vì những câu, những bài ông rặn ra, ông chế tạo ra, nó không phải là thơ. Đã thế ông lại còn cao giọng khoe khoang ở các cuộc họp. Rồi hông hênh dọa rằng sẽ in một tuyển tập hai trăm trang ở một Nhà xuất bản lớn ở Thủ đô. Nghe vậy, người có trình độ vỡ lòng về văn thơ cứ rơn rởn gai gà! Chết cha thật! Cái thằng cha sản xuất ra thứ thơ con cóc, đăng báo tưởng chưa đáng kia, lại đã có một thời kỳ dài nắm quyền quyết định bỏ bài thơ này, in bài thơ kia ở một cơ quan xuất bản quan trọng thì không trách có những lúc nền thơ ca tỉnh này giật lùi cả thập kỷ. Thằng mù không tự biết mình mù, lại còn dẫn đường người sáng, sao mà vô lý vậy!

Ông bạn hàng xóm mới của tôi dễ chịu hơn ông Cẩm Thủy nhiều. Đã có chút ít từng trải, tôi nhận ra, phàm những ai trong đối xử mà cởi mở, khiêm nhường, nhũn nhặn, thậm chí xuềnh xoàng nữa, thì thường là những người rất đáng nể trọng. Vì đó là những người biết thu gom, biết dồn nén cái tài cái đức của mình vào khuôn khổ. Họ không cần cái vỏ hào nhoáng. Họ thường là người tốt bụng nữa.

Ông Ngẫu thấp bé, nẹ cân, cằn khô, nhưng săn chắc. Tướng lạ tập trung ở đầu, ở mặt ông. Đầu ông to vượt so với người, nên trông hơi giống hình người trong biếm họa, khá vui mắt. Gương mặt hẹp, dài, chứa toàn các chi tiết đối nghịch nhau cũng là một vẻ đặc biệt nữa. Mắt ông dài tới gần mang tai; cũng như vậy, cái miệng quá rộng không cân xứng tẹo nào với cái cằm nhỏ. Tai ông to nhưng mỏng dính, mềm oặt. Chân mày ông đóng cao, lông mày đã rậm lại mọc tán loạn. Ông là một sản vật chất phác, chưa hề qua đẽo gọt theo một khuôn mẫu ổn định nào. Tinh thần toát ra từ dung mạo là hỗn tạp, không nhất quán, ông vừa thật thà vừa láu cá, vừa tinh khôn, vừa bỗ bã, ngỗ ngược và bất cẩn; đó là cảm tưởng đầu tiên khi tiếp xúc với ông.

– Mời ông ngồi đây. Ta coi nhau như đồng chí thân tình nhé.

Rải manh chiếu sờn xuống sàn nhà, ông Ngẫu đập tay bồm bộp, mời mọc vồn vã. Tôi kéo ống quần, ngồi xuống, đảo mắt nhìn quanh, nhận ra căn buồng của ông như một cảnh quan môi trường thật khéo hòa hợp với ông. Sơ sài và tạp. Chẳng có đồ đạc gì gọi là quý giá. Cũng không thấm nhuần một phong cách chung. Đồ vật lặt vặt đủ loại do tính hay nhặt nhạnh mà có, rất nhiều và bộn mắt. Ghế con chục cái nhưng thuộc ba bốn loại. Ấm chén thì cóc gặm. Vại muối dưa hàn vá một vệt dài xi măng to tướng lại đặt ngay cạnh bộ xa lông đóng bằng gỗ tiết kiệm, chẳng ăn nhập gì với cái tủ lệch kiểu Đức nho nhỏ, trên đặt cái đài Melodia to đùng, cũ kỹ.

– Cổ nhân có câu nói: Thức lâu mới biết đêm dài, Ông Ngẫu rót nước, mắt nheo dài vút nhìn tôi – Tôi biết ông là nhà văn, là cây đại bút. Nào, mời ông.

Tôi đỡ chén nước, xuýt xoa:

– Cám ơn ông. Nhưng ông nói thế tôi phát ngượng. Ngộ nhỡ tôi tưởng tôi là thế thật thì còn nguy hiểm nữa.

– Không sao! Không sao!, Ông Ngẫu cười, phô hàm răng khít rịt, đầu lắc lắc – Tôi đề cao ông là để tôi đề cao tôi. Tôi cũng không phải là cái bã mía đâu, ông ạ… Tôi đây…

Mười năm thiếu úy

Chín năm đại úy

Ba mươi tám năm

Nhà nghỉ không đi.

Quân y viện không hề nằm.

Chà! Ông lại xuất khẩu thành thơ, thành vè rồi. Tôi gật gật. Ông đập tay tôi:

– Chưa hết! Chưa hết!

Quân y viện không hề nằm

Phép năm chưa một lần nghỉ

Chỉ có làm và làm!

Mà quân hàm chỉ đến thế

Nhưng Ngẫu này khí thế vẫn hăng

Nên nhiều thằng còn đuổi khướt.

Thơ ca hò vè quý ở sự tự nhiên. Nó không có phẩm chất riêng. Phẩm chất của nó phản ánh phẩm chất của con người. Mà con người ở đây là ông Ngẫu. Ông Ngẫu chỉ vài nét sơ qua, tôi đã nhận ra cả lịch trình và tính cách của ông rồi. Ông Ngẫu có cả một quá trình dài ở trong quân ngũ. Ông tận tụy, ngay thẳng, lại khí khái, an nhiên.

Ông Ngẫu sĩ quan về hưu nay bán vé xổ số ở chợ phường tôi, quả là có tài làm thơ, làm vè để bộc lộ tư tưởng, tâm hồn và tâm sự chuyện riêng đời mình. Ông đã có tới bốn tập vở học sinh viết đặc các sáng tác như vậy. Ông thuộc vanh vách cả trăm bài.

Ông nói: Thơ tôi giản dị nôm na. Buột ra khỏi miệng gần xa hiểu liền. Rồi ông đọc:

Thơ tôi là dạng thơ vui

Không hề kê, kích, không vùi dập ai

Thơ tôi toàn đúng không sai

Đọc thơ tôi, ông Ngẫu, ai ai cũng phải cười bò.

Ông bảo, hồi ông ở bộ đội, thơ ông được in ly tô vài chục bài, dùng làm tài liệu học tập trong các cuộc rèn cán chỉnh quân, trong các chiến dịch. Dân quân du kích, đặc biệt các nữ dân công rất thích thơ ông. Họ học truyền khẩu thơ ông. Đêm lửa trại nào ông cũng đọc thơ. Thơ ông được dùng trong điệu hò lơ lý lơ, để động viên quần chúng trong các phong trào.

Mọi người yêu quý ông vì cốt cách mộc mạc, thẳng băng của ông. Vì cuộc đời ông trong sáng vô ngần. Ông xuất thân tá điền tỉnh Thanh. Năm một chín bốn sáu, được Việt Minh huyện giác ngộ, một buổi sáng đi làm, cắm phập lưỡi cày giữa mảnh ruộng địa chủ, đánh con trâu lên rừng; một mình ông trói, hạ thủ chọc tiết, lột da, lọc thịt con trâu; rồi gánh một gánh nặng thịt trâu đến biếu bộ đội; đoạn gia nhập đơn vị đó luôn. Đi kháng chiến vào bộ đội răng còn đen, chữ chưa biết. Cấp dưỡng là công việc đầu tiên ông đảm nhiệm, cũng ở công việc này ông tiến từng bước chầm chậm mà chắc. Qua tổ trưởng lên tiểu đội phó, tiểu đội trưởng, thăng dần lên. Cấp trên thoạt đầu hơi ngại vì lai lịch có vẻ là anh cố cùng không căn cốt, manh động, bất thường, sau tin dần rồi yêu quý. Vì việc gì khó đã có tôi. Vì cái chết đây cũng không sợ thì những cái khác là nghĩa lý gì! Có thời ông giữ chức thiếu úy quân nhu, trông coi kho lẫm quân trang, thực phẩm của cả sư đoàn. Ngày nào cũng giống như ngày nào, mấy trăm mấy chục đút vào túi riêng dễ như bỡn nhưng ông không thèm. Ông không thèm. Ông không tơ hào từ cái kim sợi chỉ. Giữ cả tỷ bạc trong tay, muốn tiêu gì, muốn cho ai, hợp pháp hóa giấy tờ có khó gì, nhưng ông không tặc lưỡi: Để làm quái gì? Không tham ô lãng phí, ông cũng không dâm ô trụy lạc. Đời tôi không hề mang tiếng mang tai. Đồng thời không để bất cứ ai chê cười.

Cốt cách chính trực của ông được kể lại khá hùng hồn, qua việc ông về hưu:

Mặc dù tôi chẳng có nghề

Thế nhưng trên bảo, tôi về, về ngay!

Không thêm xin xỏ một ngày

Để cho trên thấy Ngẫu này rất chi là nghiêm.

Ngẫu này rất chi là nghiêm!

Ông Ngẫu nhắc lại rồi hỏi tôi:

Ông có biết bài hát này không?

Đồng chí ta ơi!

Lê mài đã sắc

Chắc tay súng, đạn lên nòng

Hai nhiệm vụ phản đế phản phong

Ra tiền tuyến thi đua giết giặc

Về hậu phương tham gia phát động

Chúng ta là bức trưởng thành.

Tôi lắc đầu. Ông tiếp:

– Đó là bài hát đơn vị tôi sáng tác tập thể trong cải cách ruộng đất. Tôi còn nhớ một hôm hát cùng bà con nông dân xong. Đội cải cách gọi người lên đấu tên địa chủ Đặng Ngọc Chén. Thằng cha vô cùng ngoan cố. Nói câu nào nó cãi lem lẻm câu đó. Đồng chí đội trưởng uất quá, hô: Treo nó lên, đốt chân! Chính tôi xông ra trói nghiến thằng cha lại rồi leo lên cành đa, kéo dây, treo nó lên đốt.

Nháy mắt một cái, ông Ngẫu cười:

– Nhưng, chớ có nên nghĩ Ngẫu này bảo gì cũng được đâu. Ở mặt trận Điện Biên năm một chín năm tư, tiểu đội anh nuôi của tôi bị pháo nó rập, một đêm chết chín đồng chí. Xót đau quá! Chôn cất anh em xong tôi liền lia cha nó một băng tiểu liên lên trời. Đó là tôi kêu với trời đất bốn phương đấy. Thế mà thẳng tiểu đoàn trưởng của tôi nó túm ngay cổ áo tôi giật lấy, giật để, rồi chửi tôi là thằng hèn. Tôi để yên cho nó thở, từ từ cởi khuy áo, rồi đi đến trước nó, phanh xoạc ngực áo ra: Này, bắn đi! Bố mày là thằng hèn, bố mày sẵn sàng chết vì đồng đội đây! Bắn đi!

– Chà!

– Đó là lần thứ nhất tôi và thượng cấp va chạm nhau quyết liệt.

– Còn những lần khác?

Ông Ngẫu miệng bai rộng, túm tím cái cười im lặng trên đôi môi mỏng.

– Để lần lần kể. Nhưng tôi xin phỏng vấn nhà văn một câu đã. Theo ông, thế nào gọi là con người nghiêm chỉnh?

Một câu hỏi thật dễ và cũng thật khó trả lời, nếu muốn câu trả lời đặc sắc lại ngắn gọn. May thay, tôi còn đang lúng túng thì ông bạn hàng xóm mới của tôi đã mau mắn tranh lời:

-Nghiêm chỉnh nghĩa là: Cơm nhà, lờ vợ, lệnh cấp trên, đúng chưa? Hà hà… Cơm nhà, lệnh cấp trên thì không có vấn đề gì. Chỉ có cái khoản kia: Hớ, đã biết mặt ngang mũi dọc nó thế nào. Nói thật là hồi còn là tá điền cũng có tí tỉnh. Cái con bé út nhà địa chủ Chén; hàng ngày đưa cơm, mắt ốc nhồi, hông to, vú nở, khoang khoáy đều hay lắm, nhưng cũng chỉ ở công đoạn sờ soạng thôi. Đến khi đi bộ đội lên Tây Bắc, húi, con gái Thái, Mèo quanh năm suốt tháng nó cuốn vải chặt chịa, kín như bưng thế kia, họa chỉ biết khi nó đi tắm. Cái thế lờ tù, cu hãm lâu ngày anh nào mà chả thèm, nhưng cam đoan với ông là bọn này chỉ ngắm thôi.

– Ngắm thì tha thứ được!

Tôi nói. Ông Ngẫu chặc lưỡi: Rồi cả hai cùng bật cười. Ôi, cái chuyện đàn bà của cánh đàn ông. Nhất là đã vào cái độ tuổi ngoài năm mươi như tôi và ông Ngẫu. Thì có thể coi nó như một loại chuyện đời nói phiếm cho nó vui chứ không sợ mắc tiếng đồi phong bại tục. Trời sinh ra, trừ cao nhân dật sĩ, còn thì sàn sàn như nhau cả, đã là đàn ông anh nào chả có tí máu gái.

– Này ông, nhưng quả thật là cho tới giờ tôi vẫn cứ bàng hoàng: Sao thủ trưởng thiếu tướng của mình có bà vợ trẻ mà xinh thế. Trong khi cụ xuýt xoát bẩy mươi rồi., Ông Ngẫu đột ngột ngắt tiếng cười, hạ giọng. – Dạo đó được điều động làm cần vụ cho cụ, tôi nghiêm chỉnh, hết lòng. Thằng cần vụ trước, cụ ghét bắt đổi đi vì nó hay xà xẻo lương khô, bột trứng, đường sữa, nhân sâm của cụ để gửi cho vợ con. Còn tôi, tuyệt đối không. Tiêu chuẩn ai người nấy hưởng. Qua bãi B52, võng cáng bao giờ cũng đầy đủ, qua suối, a lê hấp, mời cụ lên lưng. Suốt chín tháng hầu hạ cụ, cụ có vẻ cảm động lắm. Hết chiến dịch, về đến Hà Nội, định chào từ biệt thì cụ quát: Mày đi, lúc cần tao gọi đứa nào? Ở lại nhà tao!. Ở lại? Thì ở lại. Nhưng tôi gãi tai. Ở lại thì khó xử lắm. Nhất là với cụ bà. Cụ bà, ôi trời, mũm mĩm lắm, phốp pháp lắm, chỉ đáng tuổi con gái cụ thôi. Mà cụ cưng chiều như con gái thật. Đòi gì cũng cho. Riêng cái khoản kia… là cụ nằm riêng. Ha ha… thế cho nên, một hôm cụ đánh xe, vác súng đi săn, mình đang bổ củi ở sân, bỗng nghe cụ bà thánh thót: Anh Ngẫu ơi, lấy hộ mình cái khăn tắm mới. Biết ngay rồi. Thế là thằng cu bé chổng phộc ngay dậy.

Chúng tôi cùng bò lăn ra cười. Ông Ngẫu ràn rụa:

– Anh Ngẫu ơi. Em hận lão ấy lắm. Lão ấy cho em uống rượu pha thuốc mê nên mới chiếm được em đấy chứ! Chúng mình thỉnh thoảng lại thế này với nhau, anh Ngẫu nhé. Xong việc yêu đương, nàng còn lần sờ sống lưng mình, thỏ thẻ vậy. Chết cha! Lộ toẹt ra, thì không ra tòa án binh cũng ăn mấy cái bạt tai và cầm chắc là tước bỏ quân tịch rồi. Thôi, ái ân ta với nàng có ngần ấy thôi. Chào nhé! Thú thật với ông, đó là lần duy nhất. Còn thì xin thề… cực kỳ nghiêm chỉnh!

Ông Ngẫu bán vé xổ số thật là con người nghiêm chỉnh! Đi bán vé xổ số, nhưng ngày nào cũng như ngày nào, đi về rất đúng giờ. Trên bàn găm vé số, ông dán tờ giấy kẻ hàng chữ ngắn: Chỉ bán đúng giá! Tham gia vào công tác an ninh ở phường, con người vốn ưa động này, chẳng nề hà công việc vất vả đêm hôm. Ông lại còn là thành viên của Câu lạc bộ Cựu chiến binh, tổ thơ hưu trí của quận và uỷ viên ban quản trị trường văn hóa phường. Thoắt chỗ này lát sau lại thấy ông ở chỗ công việc kia. Con người này nhanh nhẹn lắm, năng động lắm. Bà vợ ông là công nhân xí nghiệp bánh kẹo mới về nghỉ cùng hai cô con gái kháu khỉnh, hợp với ông thành một cộng đồng xinh xẻo gia đình hài hòa. Chẳng bao giờ họ to tiếng với nhau. Trái lại, chỉ thấy ở nhà họ tiếng cười vui vẻ, chan hòa. Ấy là những buổi tối quây quần, ông bố moi từ cái tổng kho hiểu biết của dân quê ra, đố giảng cho ba mẹ con. Từ bài toán chia trâu dân gian cho đến câu đố thanh giảng tục, đố tục giảng thanh, rồi ca dao, tục ngữ giàu nghĩa lý, có nhiều hàm nghĩa ẩn. Để rồi phạt, rồi thưởng, rồi tung lên những trận cười đổ nhà, đổ cửa hả hê, vì những bài thơ vui ông mới ứng khẩu trong ngày.

Tuy nhiên, trò chuyện với ông bạn hàng xóm ít lâu, khi đã quen hơi bén tiếng, tôi nhận ra, đúng như người xưa đã nói: trong mỗi con người chúng ta thường có cả cái mặn lẫn cái nhạt, cái chua lẫn cái ngọt, cái cứng lẫn cái mềm; mà tất cả đều là bền vững, cốt lõi cả. Ông Ngẫu cũng vậy, cũng pha nhiễm đủ mùi. Vừa chân phương, ông vừa bốc đồng, vừa uẩn súc, vừa am tường lý lẽ, ông vừa bực bội, tối tăm, vừa minh bạch ông lại vừa ngất ngưởng, phồn tạp khôn lường. Ông cũng tham lam cố chấp, hẹp hòi ra trò.

Có một ông bạn phong phú, đa tạp như thế cũng là trời cho!

Thành ra nếu không mắc bận thì vài ngày lại một lần, chúng tôi lại rỉ rả với nhau bên ấm trà, chén rượu. Nhưng tháng tư năm ấy, có việc phải đi Sài Gòn, tôi đột ngột phải tạm biệt ông. Ông bảo tôi: cứ đi, về sẽ tiếp tục. Chuyện còn dài. Đời ông có thể viết truyện ngắn, tiểu thuyết được. Ông hứa kể cho tôi nghe chuyện ông đang gánh cơm đi tiếp tế cho đơn vị thì bị địch bắt, ông lừa nó thế nào rồi dùng đòn gánh phang chết một lúc ba thằng. Ba thằng chết tươi, giẫy đành đạch nhé, ông nói.

Ba tháng sau tôi trở lại nhà cũ.

Mệt mỏi, cả ngày tôi nằm lì trong nhà. Nằm lỳ nhưng để ý thấy không có tiếng ông bạn hàng xóm vọng sang nên sinh nghi, vì vậy sáng ngày thứ hai, tôi liền ghé cửa nhà ông.

– Chào bác gái, bác trai mấy hôm nay đi đâu mà vắng tiếng thế?

Vợ ông Ngẫu vóc nhỏ, tóc đen ánh, mặt trái xoan, mắt lá răm, vừa hiền hậu vừa ý tứ, mời tôi vào nhà, rồi cho biết ông Ngẫu đi nhận công tác.

Đi công tác? Chưa kịp để tôi kịp hỏi, bà đã mau miệng tiếp:

– Chả nói giấu gì bác. Cũng là chỗ quen biết cũ, lại đã tin cậy nhau nên các bác cấp trên quen thân ngày xưa lại gọi nhà em đi làm!

 

Ông Ngẫu đâu có chịu ngồi yên ở cái bàn bán xổ số. Con người này vốn ưa động, thích bay nhảy lắm. Nhưng ông đi làm ở đâu, làm gì mà cả tuần, cả tháng chẳng thấy ló mặt về?

Tôi có ý mong ông. Ông để lại chí ít cũng là một khoảng trống vắng vẩn vơ trong tôi. Ông là bạn của tuổi già, lại cũng là cái hình dung còn dang dở của tôi, và ông đã trở về trong mong đợi của tôi. Nhưng, trở về mà như không trở về. Vì nửa đêm về sáng bỗng nghe thấy tiếng kê dọn lịch bịch, tiếng ông, rồi tiếng hai ông bà rầm rì ở bên nhà, sớm bửng tôi sang thì bà vợ nói, ông sấp ngửa đi từ bốn giờ sáng rồi.

– Bác giai có việc gì mà gấp thế?

Tôi ướm hỏi. Bà vợ rầu rầu:

– Thấy ông ấy nằm cứ vắt tay lên trán, trằn trọc, thở dài, em cũng không dám hỏi.

Tôi trở về, ngày qua, trong mong đợi có thêm phần e ngại, băn khoăn. Nhưng lần này tôi chẳng phải chờ lâu. Trưa ngày thứ tư, nghe tiếng xe công nông chở nặng nổ máy phành phạch ở trước nhà ông, tiếp đó tiếng ông trò chuyện với ai đó, tôi pha sẵn ấm trà, có ý đợi.

Phải nửa tiếng sau ông mới sang tôi. Cái áo đẫm mồ hôi lưng. Chân tóc cũng nhơm nhớm ướt. Ông vừa khuân vác một đống bàn ghế cũ nhặt nhạnh ở đâu đó vào nhà và xếp dọn lại căn buồng. Xách cái túi vải bạt lớn nặng chịch, đặt xuống sân nhà, ông cúi xuống và nâng trên hai tay một hòn đá cuội lớn bằng cái mũ, hình bầu dục, nhắn nhụi, nói là cho tôi để tôi nén dưa muối.

Đoạn vớ cái quạt, ông vẩy phành phạnh:

– Tôi vừa gặp lão Cẩm Thủy. Tôi còn lạ gì hắn. Thơ phú đếch gì. Hắn học cùng lớp 3A Bổ túc công nông với tôi. Quần hồ áo cánh mà chi. Quần hồ áo cánh có khi ăn mày. Đấy, đời cứ nhìn nhau ở cái mẽ. Thật buồn cho mấy đứa trẻ ranh. Cứ tưởng ông Ngẫu là anh tầm thường. Cho nên chẳng quý chẳng thương. Ngược lại còn có vẻ coi thường anh ta.

Tôi rót nước:

– Ông đi làm ở tận đâu? Có bận không mà hôm nọ thấy nhảo về cái rồi lại đi ngay! Lần này lại còn vác hòm đá nén dưa về cho. Thật là của một đồng công một nén!

Ông Ngẫu nhấc chén nước, cười xòa :

– Vô thiên lủng! Cả bàn ghế, đồ đạc cũ nữa. Tội gì mà không khuân. Của chùa! Của chùa!! Giờ mới biết mình dại. Xưa, dưới quyền mình hơ hớ con gái binh nhất binh nhì. Không sờ dưới, không bóp trên. Thế mà họ có chịu lên quân hàm cho mình? Giữ gìn cũng chẳng được đếch gì. Nghĩa rằng là Việc nhỏ việc lớn các anh đều giao. Chỉ còn có sao là các anh còn tiếc. Vừa rồi tôi nói thẳng với các ông ấy đấy. Tôi nói: Xin cám ơn các anh lại gọi tôi lên trông nhà cửa, vườn tược cho các anh. Nhưng, nói để các anh biết: Con rô con riếc nó cũng biết vẫy vùng. Đừng để Ngẫu này nó phát khùng thì gay go.

Nói một thôi rồi ông Ngẫu vớ cái điếu. Chưa kịp thở khói ông đã ho sặc sụa. Ông đã ở cái tuổi hay bị nghẹn. Tôi nhận ra mới chỉ có mấy tháng mà ông đã già xọp. Má ông hóp sát hàm. Đôi lưỡng quyền đội cao. Viền quanh cái miệng rộng là hàng ria mép nửa đen nửa bạc lởm chởm, gai góc. Nét chất phác trên khuôn mặt đã mờ dần. Phản ảnh cái nội tại không yên ổn của ông là vẻ tợn tạo, bợm bãi thấp thoáng ở cặp mắt dài, sắc và hàm răng nhe nhe nghiến chặt nhiều lúc.

Ông Ngẫu đã đi làm. Ông ký hợp đồng làm bảo vệ cho một ngôi biệt thự của một giám đốc công ty cách đây mười ki lô mét. Ông này nguyên là cấp trên của ông hồi ông ở bộ đội. Tòa biệt thự xây để giữ của và sử dụng sau này chứ hiện giờ để hoang.

– Ông xem, có đúng cõi trần là cõi âm u. Thông minh thì ít đần ngu thì nhiều không? Đây là đãi nàng hầu về sáng thôi! Cái lão chủ nhà thuê tôi, ông có biết nó là ai không? Không phải cụ tướng quân tôi theo hầu đâu. Nó chính là cái thằng tiểu đoàn trưởng giật cổ áo tôi, chửi tôi là thằng hèn ở Điện Biên ấy. Nó bảo: Tôi biết anh là người kiên trinh từ hôm đó. Ấn tượng của anh với tôi thật không sao mà phai lạt được. Lúc nào tôi cũng thấy hình ảnh anh phanh áo ngực sắp tới. Có đúng là nước mắt hành, nước mắt ớt không? Nhưng mà tôi mo phú! Kệ nó! Tôi chẳng dại nữa.. Tôi đâu có còn là hòn đá muối dưa? Đồ đạc cũ của nó, tôi cứ khuân. Cả đá nó chở về để làm hòn non bộ, thích tôi cứ lấy. Ha ha… cả tủ rượu của nó. Rượu chó gì mà lại là rượu tăng lực, rượu ông uống, bà thích. Tôi cứ nốc. Chà, nốc xong mê thấy bà xã, thấy cụ bà trẻ nít phộp phạp, thấy con bé đưa cơm núng na núng nính. Mấy năm nay cứ nghĩ mình là gà sống thiến, hóa ra nhầm! Hớ!

Đặt cái chén không xuống bàn, ông Ngẫu đứng phắt dậy, hai mắt cười phong tình, cúi xuống, ghé tai tôi:

– Thôi về nhé. Này, bà xã tôi thế mà còn hăng hái lắm! Một tuần không thấy về là gọi điện giục toáy lên đấy!

 

Ông Ngẫu lại đã đi làm.

Ông giữ chân bảo vệ một biệt thự, theo hợp đồng mỗi tháng được hưởng hai trăm đồng, mua được gần tạ gạo. Quá rẻ. Nhưng bà vợ ông giải thích: công việc vốn nhàn. Ở đó cạnh rừng, sẵn củi, không mất tiền chất đốt, ăn uống đỡ tốn kém lắm. Hơn nữa, lúc này, người nhiều, việc ít, ưu tiên cho người thân tín, mới được vậy.

Hai tháng qua, ông Ngẫu không về nhà. Hai tháng qua, tôi đồ rằng công việc gác xách, bảo vệ tòa biệt thự không nhàn nhã như người ta tưởng. Kiếm được đồng tiền chẳng bao giờ là việc dễ dàng. Lúc này, bất trắc lại khôn lường. Ba tháng qua, hòn đá ông Ngẫu cho tôi đã nén sang vại dưa thứ tư thứ năm, dưa vàng ươm, không hề ải, khú. Vẫn không thấy ông về. Cũng chẳng một lời nhắn nhe. Người sốt ruột bây giờ chính lại là bà vợ hiền từ, nhỏ nhắn của ông.

Quái, hay là có chuyện gì? – Bà hỏi tôi, một hôm.

Thì cũng đúng trưa hôm ấy, tôi đang đứng lơ vơ dưới giàn mướp vo ve tiếng ong soi tìm tổ, bỗng đột ngột có ba người công an đi xe máy tới, đậu lại: Bác cho tôi hỏi thăm nhà ông Ngẫu! Bà Ngẫu vội chạy ra, mặt xanh mày xám, tay vịn cánh cửa, run lẩy bẩy.

– Bác ơi, bác bảo em phải làm gì bây giờ? Xưa nay em cứ nghĩ là ông ấy ăn ở hiền lành, phúc hậu.

Tốp công an đi rồi, bà Ngẫu lồng sang tôi, khóc oà. Tiếng được tiếng mất trong kinh hoàng, bà cho tôi biết những người công an đang đi truy tìm ông Ngẫu. Từ một đột biến sai lệch phát sinh, do một hồn ma quỷ nào đó nhập vào, mà ông biến đổi tâm tính, trở nên một kẻ hung tợn, quái ác lạ lùng thế! Hay là đã quá mù ra mưa, cái sự phá bĩnh cuối cùng đã đến với con người không có căn cốt bền vững này !

– Em xấu hổ quá, bác ơi – Bà Ngẫu mếu máo. Hóa ra ông ấy không về cả ba tháng nay là vì có cô con gái của ông chủ nghỉ hè lên ở cùng. Hai người thân thiết với nhau như bác cháu ruột. Lúc rỗi là trò chuyện thân mật, khi đố bài toán dân gian, lúc giảng một câu tục ngữ. Nào ai ngờ, một đêm vui vẻ, ông ấy cho cô bé uống thuốc mê rồi cưỡng cô bé. Cô bé tỉnh dậy, ông ấy nhốt nó vào buồng, giết con chó béc giê, rồi phóng hỏa đốt tòa biệt thự và bỏ đi. May mà người ta dập được lửa, cứu được cô bé… Giờ, người ta đang truy lùng ông ấy. Bác ơi, bác bảo em phải làm thế nào bây giờ?

Phải làm thế nào bây giờ?

Tôi nghe, tai ù ù, như nghe một câu chuyện cổ ở thời đã rất xa. Biết nói với vợ ông thế nào bây giờ!

1/1995, 12/2010

.Đã in trong Tập TRUYỆN NGẮN Người đàn bà chơi vĩ cầm. NHÀ XUẤT BẢN Sân Khấu 2007.