Nhấc cặp kính khỏi vòm mắt, bàn tay xương xẩu đập đánh chạt một cái xuống bàn, nhìn tôi, ông Thực bật reo khoái trá:
– Truyện này cậu viết được lắm. Một người con gái đẹp lấy chồng, đi khỏi chốn ấy thì đến cây cỏ cũng héo tàn chứ đâu chỉ có đàn ông ủ rũ. Chà, leo được lưng con hươu xanh rồi đấy, cây bút trẻ ạ. Văn chương là thế. Núi đâu có cần cao, nhưng cần có tiên đến ở. Nước đâu có cần sâu, nhưng phải có giao long vẫy vùng. Phàm vật loài gì cũng có linh thể bên trong. Như thế nghĩa là…
– Dạ.
– Truyện thì hay đấy, sắc sảo đấy, nhưng nói thật cây bút trẻ đừng tự ái nhé, mới chỉ là cái sắc, cái bén của lưỡi dao thôi. Của lưỡi dao thôi. Tôi nói thế, cậu có hiểu ý tôi không?
– Dạ…
– Thế tôi hỏi cậu nhé, dao sắc vì lưỡi hay sắc vì cán? Lưỡi sắc thì gọt được quả cam, rọc được tờ giấy, thái được miếng thịt. Nhưng như thế mới chỉ là bậc tiểu kỹ. Còn dao muốn đạt tới đại kỹ, tức phá được đá, chặt được đồng sắt thì dao phải dựa vào cán. Hiểu chưa?
– Dạ… dạ!
Tôi run rẩy thu nhận một hiểu biết siêu tầm. Nghề văn, chả ai dạy ai được. Nhưng phúc cho tôi, ngay từ mấy cái truyện ngắn đầu tay này, tôi đã được ông Thực hàng xóm để ý tới và nhận xét của ông vừa tạo nên phấn chấn vừa khơi dậy nỗi lo bời bời trong lòng tôi. Đường đi còn xa lắm đấy chú nhóc ơi! Và bây giờ đây tôi đang được ông dạy bài học nhập môn.
– Được chưa nào? Viết văn khó đấy. Bắt một con hổ sao nói là dễ được.
– Dạ.
– Nhưng đừng sợ, đừng nản chí, kể cả gặp kẻ ghét ghen, đố kỵ. Nhà văn bị kẻ xấu bụng nó vùi dập thì cũng như hạt đậu bằng đồng, càng ninh nó càng kêu loong coong thôi.
– Dạ.
– Tài năng là uẩn súc, là không biết đâu là cùng. Tài năng như mặt trời tự phát sáng, như trái đất tự quay, tự kiềm chế theo quy tắc. Tài năng ở thế cheo leo mà không ngã, như trên lưng con tuấn mã. Còn con chó cắn càn. Tên lưu manh chửi bậy. Gã hàng xóm vay không trả. Kẻ đồng nghiệp phản trắc. Tất cả chỉ là những kẻ tiểu nhân, tức với nó thì tức cả ngày.
Những câu nói cuối cùng của đoạn thuyết giảng của chính ông lôi ông ra khỏi sách vở, và có lẽ vì vận vào hiện thực đời ông nên ông linh hoạt hẳn lên và khi nói xong ông bật cười ha ha.
Ông Thực hàng xóm của tôi bật cười ha ha. Cười thật lớn. Thật sảng khoái. Lại có ý như tự nhạo. Và không thể ngờ bộ ngực lép kẹp như gián đói của ông lại có sản phẩm là tiếng cười to như thế. Ông Thực có vóc người trung bình nhưng thân hình đạt tiêu chí nhà nho, nghĩa là gầy gùa, mỏng mảnh lắm. Đúng ra ông chỉ là một khung xương bọc da. Mặt bọ ngựa. Mắt lỗ đáo. Tay chân xương xẩu rặt mấu là mấu. Ruột non cắt nửa thước. Dạ dày cắt một phần tư từ hồi còn trai trẻ vì căn bệnh đau bao tử, giờ vẫn thi thoảng lại giở chứng hành hạ. Hành hạ mà chẳng làm gì nổi ông. Ông chẳng than vãn. Trái lại lắm lúc làm ông nổi cơn ngạo nghễ âm thầm. Nhưng bây giờ, ông đứng dậy, như có ý bảo tôi về, rồi nói:
– Thôi, mặc như lôi chi, im lặng như trước khi nổi sấm sét, giũ tóc xuống mà viết đi.
Giũ tóc xuống mà viết đi! Giũ tóc xuống mà làm việc, mà trước tác, dịch thuật! Hình ảnh phác họa có phong vị cổ xưa nọ không ngờ lại hợp người hợp cảnh. Vào tuổi năm mươi tám, khuôn mặt bọ ngựa của ông Thực gân guốc, rắn rỏi thật hòa hợp với vầng trán cao và cái đầu to, tròn thu lu, thóp nhẵn bóng chỉ còn lơ phơ những sợi tóc dài, khi ông viết những sợi tóc ấy thường rủ xuống, chấm gần tới trang giấy.
Ông Thực dọn đến ngõ chúng tôi từ lúc nào thực tình tôi cũng không hay. Nhà ông là một túp nhỏ lợp ngói, trát toóc xi, nằm kề bên con đường vành đai, giống như một con chạch, phân chia nội thành và ngoại thành. Nguyên xưa kia đất đó chỉ là nơi đổ rác của dân trong ngõ. Nhìn túp nhà sơ sài thấy nó giống một vật thể ngẫu nhiên ai đem đến vứt ở đó. Cũng có cảm tưởng nó là cái cây hoang mọc lên bất ngờ từ một cái hạt do một con chim bay qua để rơi xuống.
Đi không ai biết, về không ai hay, ông thui thủi một mình một bóng. Mãi sau mới biết ông là ông giáo vì thi thoảng lại thấy một đám học trò đạp xe qua lại, í ới hỏi đường. Đầu năm nay, bố tôi và mấy ông cán bộ hưu trí khác, tình cờ đọc được một bài báo nhỏ, mới biết thêm ông là nhà dịch thuật, biên khảo uyên thông đã có một quá trình dài lâu và công trình trước tác của ông thì thật đồ sộ, quý giá. Ông là tác giả của hàng chục cuốn sách khảo cứu về nền văn sử phương Đông, mà tiêu biểu là Trung Hoa. Người ta gọi ông là một nhịp cầu văn hóa. Đọc bài báo thấy tiếng tăm ông nổi như cồn. Nhưng có cảm giác với ông đó chỉ là chút phù du nổi trên mặt nước, còn ông, ông vẫn là con cá kình nằm lặng dưới đáy nước sâu, phớt lờ mọi chuyện.
Từ đất miền Trung lắm sông nhiều núi, quê hương của gió Lào khắc nghiệt, ông ra Hà Nội học xong bậc đại học thì đi dạy. Hơn hai chục năm lăn lội từ miền núi Lào Cai đến vùng biển Thái Bình, trong vai ông giáo, lúc dạy bổ túc văn hóa cho người lớn, khi bồi dưỡng năng khiếu cho lớp trẻ, ở đâu thì ông cũng một tấm lòng tận tụy và một kiểu sống: Cư bất u, chí bất viễn, diện bất sầu, tư bất quảng. Ở không nơi u tịch, chí khí sao cao xa, mặt không ủ dột, nghĩ sao rộng lớn được! Giờ đây cũng lại một lối sống như vậy, ông về ở trong ngõ chúng tôi, trong túp nhà nhỏ sơ sài nghe nói là của mấy anh học trò cám cảnh thầy góp công sức dựng cho. Cám cảnh gì? Chả ai biết. Chỉ biết, đến đây ở, chỉ có một mình ông. Hộ khẩu cũng chẳng có nên ông vẫn bị coi là kẻ cư trú bất hợp pháp và thi thoảng, những người trông coi nền hành chính khu vực này lại đến hỏi han và làm rầy rà ông.
Không! Ông chẳng than vãn. Cũng chẳng giãi bày. Ông cứ thong dong một mình một nết. Không hé lộ bản thân, ông như ngôi nhà đóng kín cửa. Ông là khối đá im lìm. Ôi, mấy chục năm trường đất nước trải qua bao biến động, như cha tôi vẫn thường than thở đó, mỗi người như hạt cát hạt bụi trong cơn gió lớn, số phận chìm nổi khó lường, gian truân uẩn khúc không ít, không nói thì thôi, chứ ai mà chẳng đầy bầu tâm sự vui ít, buồn nhiều, thậm chí oan khiên chồng chất. Thôi thì còn thiếu gì cảnh khổ sở hiểm nguy vì bom đạn chiến tranh, đói rét, khi bơ vơ không nhà không cửa, không nơi nương tựa, lúc ốm đau, mệt mỏi, trong túi không một đồng bạc lẻ. Cũng có lúc gặp phải kẻ trên mình đã ngu dốt lại hẹp hòi thiển cận, bị trù úm thở không ra hơi. Chẳng hiếm ngày phải sống với thằng lừa thầy phản bạn giữa khung cảnh xu thời, cơ hội, gió chiều nào che chiều nấy phổ biến tới mức nghĩ thói tật ấy đã mang tính lịch sử và thời đại. Ấy là chưa kể thói đời đen bạc, những chuyện bội nghĩa bội tình đâu có ít. Cứ nghe lỏm những buổi cha tôi tâm sự cùng lớp bạn bè của ông thì một gã trẻ ranh như tôi cũng thấy rằng, nếu không gào lên, tru lên như chó sói thì chí ít cũng phải cất tiếng kêu than, giãi bày non nỉ cùng bè bạn tháng ngày.
Nhưng mà đã là con người thì làm sao có thể bưng kín mình được. Con chim cất tiếng kêu. Mùa thu bày tỏ bằng hoa cúc vàng. Trai gái yêu nhau biểu lộ bằng ánh mắt, nụ hôn, niềm tơ tưởng.
Trong nhà ông Thực, trên bức tường đằng sau cái bàn ông ngồi viết, dán một trang giấy dó lớn đặc kín các hàng chữ nho viết kiểu chữ thảo, nét bút phóng khoáng, như phượng múa rồng bay. Đó là di bút của thân phụ ông viết bài thơ Đề bích ca, tức Bài ca đề tường tác giả là Hàn Tín, một danh sĩ đời Hán. Bài thơ có đại ý: Con người ta không gặp vận thì thôi. Chứ nếu đã gặp vận thì phải như chim loan, chim phượng, chim hoàng vỗ cánh tung bay phỉ chí khắp bốn phương trời.
Bài thơ nói cái chí của ông? Hay nó còn vận được vào hoàn cảnh của ông? Ông đã vỗ cánh tung bay và khi không gặp vận, ông vẫn là kẻ giữ được sự thung dung an hòa?
Cha tôi tuổi kém ông Thực một giáp, cũng nho nhe dăm ba chữ và ham học hỏi nên hay sang ông hỏi han nghĩa lý sự việc và dốc bầu tâm sự. Một lần, buồn bực vì đang đảm nhiệm chức phó giám đốc ở một trung tâm văn hóa lại gặp phải kẻ trên mình hống hách, giở trò yêu ma, gây chuyện lăng mạ, rắp tâm hãm hại nên rất khó chịu, bèn đến thổ lộ nỗi lòng và hỏi ông nên xử sự thế nào.
– Nhẫn nhục phụ trọng!. Ông đáp.. Phụ là gánh vác. Trọng là gánh nặng. Anh hiểu chứ? Làm quan là để gánh vác việc nặng. Tư cách người làm quan là vậy. Vì mục tiêu là làm ích quốc lợi dân nên phải biết nâng cao mình hơn sự xúc phạm.
Nâng cao mình hơn sự xúc phạm? Hay chính ông là biểu tượng của tư tưởng cao quý này trong hình ảnh giũ tóc xuống mà viết của mình? Giũ tóc xuống mà làm việc, mà làm điều ích quốc lợi dân! Vì bọn ỷ thế cường quyền giẫm đạp lên phẩm giá người khác thời buổi nào chẳng sẵn như ruồi. Tức với nó thì cũng như tức với con chó cắn càn, tên côn đồ chửi bậy. Tức mà làm gì!
Làng quê ông có tên là An Hòa. Nó ở cách thành phố V hơn hai mươi cây số ngược lên phía tây. Từ làng ông nhìn ra phía trước, cách khoảng một cây số đường chim bay là làng Yên Lạc. Chếch một chút là những làng Đồng Thuận, Lạc Viên, Nhân Ái. Thuần những tên làng mà nghe ngân nga nguyện vọng một đời người. Nguyện vọng ấy được thể hiện ở các buổi lễ kỳ yên được tổ chức trong một ngày đẹp trời vào dịp đầu năm. Chẳng cầu kỳ, tốn kém mà sao vẫn thành kính, thiêng liêng thế! Người con gà đĩa xôi, người be rượu, người choẻn cau, góp lễ đặt trên bàn thờ, dưới bầu trời sao lung linh, ông nội ông trong vai chủ lễ, rung rinh trên tay tờ sớ viết đầy chữ nho, xuỵt xoạt khấn vái, khẩn cầu xin thần linh tiêu trừ tai họa, sâu rầy, dịch tễ, thủy hỏa đạo tặc, phù hộ cho mưa thuận gió hòa, hòa cốc phong đăng. Thuở ấy đâu đâu cũng chữ Nho, chữ Nôm. Cổng làng, đình làng, miếu mạo, quán xá, từ đường, văn chỉ, mộ địa. Trong nhà thì từ hoành phi, câu đối, bình phong, đến cái bát, bộ ấm chén. Ngoài nhà thì thậm chí đến cả cái cầu ao cũng là lời cầu mong an cư lạc nghiệp, tiết sạch giá trong, tài cao đức lớn. Thuở đó, tóc để chỏm, ngày ngày bò rạp trên chiếu, hết tập tô sao cho một đường bút mà kín hết nét son viết làm mẫu của thầy, lại lải nhải hết Khổng Tử viết lại Sách Kinh Thi có câu. Trong khi bên cạnh là ông nội, tay cầm roi mây, mắt thâm trầm và nghiêm nghị: Cháu phải nhớ, trong Luận ngữ có năm mươi tám từ nói về điều nhân, còn Đức Khổng Tử nói tới điều nọ những một trăm linh năm lần. Học tập là nếp nhà. Vì ấu bất học, lão hà vi, trẻ không học, già làm nổi cái gì. Ra rả suốt ngày, hết Hiếu Vấn, Dương Hóa, Tử Trương lại Tử Lộ, Nhan Uyên, Ung Dã, Tư Hãn… Từ chưa hiểu đến hiểu lờ mờ, rồi thấy hun hút như cái giếng sâu chứa đầy điều bí ẩn lý thú và thẩm thấu đã trở thành người thầy lớn nhất, cho mỗi điều hay lẽ phải biến thành bản ngã của mình.
Tự học đã trở thành gia phong, trở nên nếp nhà. Ngẫm ra tự mình khai phá con đường học vấn chính là cách học đến nơi đến chốn của các bậc danh gia. Học hành là cơm ăn nước uống hằng ngày. Nên ngồi bên bàn trà lúc rỗi rãi là cha lập tức chấm ngón tay vào chén nước, viết ngay vài chữ lên mặt bàn. Đây là chữ hồi có nghĩa là về. Còn đây là chữ khuy, có nghĩa là nhìn trộm, con hãy nhớ lấy. Dắt con đi chơi, gặp con chim sẻ, cha chỉ cho con xem, giải thích cho con hiểu vì sao người đời lại ví nó như kẻ tiểu nhân. Trong câu: Kinh Kha để chủy thủ dưới bản đồ mưu sát Tần Thủy Hoàng, khi dịch ra tiếng Việt phải để nguyên từ chủy thủ chứ không thể dịch là dao găm được, con à. Cách dạy gọi là huấn hổ, cử tử, nôm na gọi là học thuộc lòng này giờ đây đang bị quan niệm giáo dục hiện đại mới chê bai hết lời, có biết đâu chính từ cơ sở nọ mà một nền học vấn và nhân cách đã được tạo lập. Một nền học vấn được tạo lập trên nền tảng tôn sư trọng đạo, coi người dạy ta một chữ là thầy ta, người dạy ta nửa chữ cũng là thầy ta. Một nền học vấn có móng nền vững chắc xây cất trên đó cái mộng ước góp sức để có được một xã hội trong đó lão giả an chi, thiếu giả hoài chi, người già được yên vui, trẻ nhỏ được săn sóc; trong đó, bằng hữu tin cậy nhau, người học rộng biết nhiều phải dốc hết chí khí giúp đời, điều sâu sắc nhất là điều ở trong có chữ nhân, phép biện chứng cuộc sống là nhận ra thực giả hư chi, trong vật có linh thể, linh hồn, xa rời nó thì tầm thường, khô cạn ngay; và ước ao của con người ta là nước nhà yên ả, mọi người được thong dong, thư nhàn.
Suốt cả mùa đông năm ấy, đóng cửa lại, quấn mình trong cái mền bông, tay trái ôm bụng nén cơn đau âm ỉ của cái bao tử muốn giở chứng, câm lặng như sấm sét chưa nổ, ông Thực ngồi viết sách.
Nghiêm cẩn và cao quý thay, công việc của người trước tác, dịch thuật. Bởi vì có những cuốn sách thiêng liêng như lời của một đấng tối cao, để biên khảo nó, hoặc chuyển nó từ ngôn ngữ nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ, cần đến không chỉ là trình độ kiến thức uyên bác, ngôn từ xảo diệu mà còn cả đức tin. Công việc lao động hao tâm tổn sức ghê gớm! Vì ngay công việc dịch thuật cũng không thể coi là đơn giản. Vì ngoài công sức mang tính cơ học thuần túy là chuyển đổi ngữ nghĩa sang cách thể hiện khác, còn là tạo nên một giá trị, nên không thể chỉ dựa vào sự học tập đơn thuần ở sách vở, trường ốc. Công việc dịch thuật chất chồng thường được bắt đầu bằng cảm hứng sáng tạo. Khác chăng, so với nhà văn sáng tác là trong khi tạo ra cuốn sách đó ông phải tuân theo một số quy tắc và chịu một số hạn định, vì cuốn sách của ông sẽ phải tương đồng với một cuốn sách khác đã có và được viết bằng một ngôn ngữ khác. Tương đồng, nhưng cuốn sách của ông vẫn là một sáng tạo mang tính độc lập, có cuộc sống riêng và có quyền lực riêng!
Xuất thần, quên mình trong say mê sáng tạo, đã có lúc ông Thực không biết đến xung quanh. Tuy nhiên một mình một bóng cặm cụi mà ông không có cảm giác cô đơn. Trái lại, ông thấy ấm áp và như là được liên tục tiếp sức. Ấy là bởi vì trong nhà ông lúc này đã có thêm một người, một phụ nữ. Trạc bốn mươi, vai hẹp, hông nở, ngực lớn, sung mãn tốt tươi, người phụ nữ này có phong tư văn vẻ, lộng lẫy, đài đệ khác thường. Gương mặt tròn mảnh như chiếc lá khoai, chị ẩn hiện mình qua hai con mắt phượng lúng liếng, đôi mày cong lá liễu và đôi môi mọng chín đỏ. Chị là sự xáo trộn giữa chất liệu e lệ tươi vui của thiếu nữ măng tơ và tính nữ phồn thực dồi dào của đàn bà thuần thục đường phong tình.
Mới đến nhà ông Thực chưa đầy tuần lễ, người đàn bà đẹp vừa phong lưu đài các vừa phảng phất vẻ lẳng lơ tơ tình này đã cho cả ngõ xóm biết tên tuổi, tính nết, khẩu khí mình; nói cho đúng, chị tạo nên một cơn xung động ở cái ngõ phố bấy lâu hiền lành, yên ả và ngưng đọng, buồn tẻ này.
– A, tôi đang đi bán dưa lê, bê dưa bở, lê la trò chuyện với cô bạn tôi ở Nhà xuất bản Văn chương thì gặp ông ấy đến lấy tiền nhuận bút. Thế là ông ấy xoắn xuýt lấy tôi, rồi ông ấy mời tôi về đây đấy chứ. Con bạn tôi nó bảo: Thôi, tao bờ ra xin mày, vừa vừa thôi kẻo lão ấy ra tóp đấy. Nghe nó nói vậy, tôi đã định e lờ đi rồi. Nhưng ông ấy lại năn nỉ: Loan à, anh đang cần một người đàn bà… Đàn ông không cần đàn bà thì cần con chó cái à? Hí! Xem ra chữ nghĩa bề bề thì cũng vẫn vậy thôi.
Bằng thứ ngôn ngữ dung tục và những biệt ngữ chợ búa, chị tự giới thiệu xuất xứ của sự kiện. Và công việc đầu tiên của chị khi đến nhà ông Thực là gọi một con bé mua giấy cũ đến. Sách báo, giấy tờ thải loại của người làm sách lưu cữu cả chục năm nay chồng đống chất ngất đầy hiên nhà.
– Này, con lỏi kia!. Chị quát con bé mua giấy cũ.. Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người. Bắt nạt lão già thì được chứ đừng có qua mặt tao. Muốn sống muốn tốt thì cân đi, và nôn ra đây, đúng hai ngàn một cân. Đưa tao xem cân. Mày mà cân điêu thì chết với tao!
Hai ngàn là giá kịch trần, đem bán lại cho các đầu nậu, con bé hóa ra làm không công cho chị, vậy mà nó cũng đành chịu ép. Tiếp đó, chị lục lọi, tìm từng bài viết trong sách báo của ông, gạn hỏi ông số tiền nhuận bút ông được lĩnh. Được lĩnh rồi thì chị hỏi: Nó đâu? Chưa được lĩnh thì chị đích thân đi truy hỏi.
Ôi! Những câu chuyện vặt vãnh, dung tục, cái sắc điệu đa tạp suồng sã đời thường! Bấy lâu nay nó ở đâu, giờ mới trở về lay động bầu không khí học thuật trang nghiêm ở nơi này và tạo nên cơn náo hoạt sôi động vừa vui vẻ vừa phồn tạp ở mảnh đất này.
Chưa đầy tháng, người phụ nữ trẻ đẹp nọ đã quen biết suốt lượt đám dân cư ngụ ở ngõ phố này. Đầu tiên là các bà hàng quà và từ họ là những câu chuyện ngồi lê đôi mách. Ăn quà như mỏ khoét, nhưng khéo tay hay con mắt. Chị đến hàng nào là hàng ấy gặp duyên may. Chả ông bà nào lọt qua mắt chị. Chị biết đến củ tỉ âm ti tính tình, gia cảnh, đặc biệt là quan hệ tình ái của đàn ông, đàn bà trong ngõ này. Ấy đấy, cái lão Chiền ở đầu ngõ lẻo khoẻo lèo khoèo cò hương vậy mà phải hơi vợ, đố có xa vợ được một đêm. Còn cái gã võ sĩ tên Lực chiếm giải quán quân, thể hình to đẹp như tượng đồng lực sĩ Hy Lạp thời cổ đại kia ở cạnh nhà chị hóa ra là thằng cha vô tích sự; về đường tình ái lão hoàn toàn lực bất tòng tâm. Lão thầu khoán nọ ba vợ. Thằng cha tài xế xe tải chạy đường Tây Bắc kia ấy ba lần bóp cổ bố mà bố không chết vì anh con rể phát hiện kịp thời. Nhà nọ có cái dớp uống thuốc sâu tự tử. Mụ chủ cửa hàng kính nhôm ấy lớn bùi bé mềm, ngủ cả với bạn con, quái tởm khác gì thằng cha chủ đề ở giữa ngõ, ngủ với con vợ đã bỏ cách đây năm năm, như thế gọi là vợ bỏ còn mó l theo đấy.
Chị vặn bẻ người thu tiền điện thoại cả tiếng đồng hồ, chỉ vì tháng ấy bỗng dưng tiền trả vọt lên gấp rưỡi. Có một anh cầu thủ bóng đá nhờ chị mối lái mua được một căn hộ trong ngõ, giá một trăm cây, cám ơn chị, anh nọ biếu chị cân nhãn. Chị ném trả lại anh ta, nhất quyết đòi anh ta phải chi hoa hồng cho chị một phần trăm. Thôi thôi, Loan ơi, một sự nhịn chín sự lành em ạ. Nghe ông Thực nhăn nhó khuyên can, chị trừng mắt, giãy dọn. Ấy là vụ chị xung sát quyết liệt với nhà người hàng xóm. Nhà người này phá căn nhà cũ, xây căn nhà mới ba tầng. Chị nhất quyết bắt họ bịt cái cửa sổ ở bức tường giáp nhà ông Thực. Cãi chửi nhau suốt một tuần. Chị đi đâu lôi về cả một xấp luật lệ, gí vào mặt nhà nọ, rít róng: Mở cửa sổ để đêm nhìn lão già nó đè tao, hở? Chị chửi nhà hàng bún ở sau nhà ngày nào cũng cứ ba giờ sáng là bật đèn làm hàng khiến chị không ngủ được. Trước cửa nhà ông Thực nhiều hôm bốc mùi khăn khẳn. Chị rình mò, bắt được quả tang một ông già đái bậy. Và cuộc đấu khẩu giữa đôi bên, bên cáo buộc gay gắt, bên cù nhầy ba bửa, kéo dài suốt một buổi sáng, khiến ông Thực sáng ấy không viết nổi một trang sách nào.
Cái ngõ buồn tẻ hóa ra là một thế giới tạp vặt, đa sắc và lắm chuyện quái kiệt. Những chuyện ấy ông Thực chưa hề biết và ông có cảm giác, từ ngày người phụ nữ trẻ nọ đến ở với ông, chúng mới phát sinh ra. Thậm chí có cảm giác chị là người tạo ra chúng. Ở đâu có chị thì tạo ra ở đó một trường lực, một khung cảnh tương hợp với tính tình, phong thái, sở thích mình.
Sau cái cau mày khó chịu về tất cả những gì đã xảy ra là nỗi ngờ ngợ và tiếp đó, người trước tác già buông bút, vuốt tóc ngẩn ngơ. Gia nhập vào cơ cấu gia đình, người phụ nữ tươi đẹp này lập tức bộc lộ nữ tính mạnh mẽ của mình, nhưng chả lẽ chị chỉ thuần túy là cái tạp nhạp, sàm sỡ, thô phàm, đối lập hoàn toàn với ông, hay trong sâu xa chị còn biểu thị cho tự nhiên, chân lý, dẫn dắt con người đến với nhân tình thông tục, cái nền tảng, căn cốt của đời sống con người? Thì chẳng phải từ ngày có người phụ nữ này ở bên, ông bỗng như gia thêm hưng phấn, dồi dào thêm năng lượng, sắc bén mạnh mẽ như lưỡi dao có được chỗ tựa là cán dao đó ư? Chẳng phải là cùng với cơn lốc của niềm say mê sáng tạo, ông còn bị cuốn vào dòng thác lũ ngập lụt của cơn mê đắm ái tình tạo nên từ chị? Người đàn bà trẻ này mang nữ tính nồng nàn hơn tất cả mọi người đàn bà. Ôi, cái đời sống tình ái muôn đời xanh tươi! Thân xác ông là cái mảnh ruộng cằn khô, kiệt lực đã gặp người đàn bà là trận mưa xuân tưới nhuần. Dòng ái lực của ông được chị khơi nguồn, dẫn dụ, bỗng dạt dào tuôn chảy như suối nguồn thời trai trẻ. Ông nhận ra sự sống ở dạng song trùng; ngọn lửa cháy trong ông là hợp thành từ hai ngọn nguồn hòa quyện vào nhau, kích thúc nhau để cùng bốc cao ngùn ngụt: lòng ham mê sáng tạo và niềm ái dục vô bờ. Và như vậy, cơn tức hứng đã tới vạch xuất phát, trở thành bột phát của ý chí siêu phàm, các ý tưởng lập tức biến thành con chữ, đổ ào ạt xuống hết trang giấy này đến trang giấy khác.
Giũ tóc xuống mà viết, ông Thực như bị lôi cuốn vào cơn cảm hứng bất tận với bao bồi hồi và những dự cảm lớn lao!
Tuy nhiên, chiều hôm ấy bỗng dưng ông đã phải buông bút. Đã tháo sức nên đến lúc suy cạn? Hay đã là con thiêu thân khi lăn lóc quá lâu trong nhịp sống đa dục? Hay lao lực tạo cơ hội cho bệnh tật ấp ủ đâu đó trỗi dậy? Hay tác nhân chính là người phụ nữ nọ, thái quá bất cập, những xúc động đã quá ngưỡng chịu đựng do chị gây ra, đã khiến căn bệnh đau bao tử của ông tái phát? Đau quá! Đau như có dao cắt, có dùi đâm trong ổ bụng. Đau quặn thắt, đau vã mồ hôi, đau không thở được, đau đến bập răng vào thành ghế mà cũng không đỡ, đau đến mức muốn chết đi cho rồi. Cơn đau đột ngột tới từ lúc người phụ nữ nhấc ống nghe bắt đầu đàm thoại với một người đàn ông ở đầu dây đằng kia và càng đau dội lên trong tiếng nói chen lẫn tiếng cười chớt nhả, vui vẻ vô tư của chị.
– Còn lâu nhé!. Người phụ nữ thản nhiên tiếp tục câu chuyện đang dang dở trong điện thoại, sau khi đã ngừng lại giây lát, nhìn ra buồng ngoài thấy ông Thực vì cơn đau đột ngột vừa gục mặt trên bàn viết.. Đâu có! Lão hói chưa thành bã đâu! Vì lão không thuộc nhóm máu dê như anh. Bất quá như chuột ngoáy lọ mỡ thôi. Ham công tiếc việc lắm. Với lại, em chăm sóc lão như vỗ lợn giống. Tam thất mật ong ăn đều. Vừa tráng dương ích khí vừa phòng bị bệnh dạ dày tái phát. Anh hỏi gì? Em ấy à? Vẫn thế thôi. Cả tháng, cả năm không động chạm đến cũng được. Mà liên tục cả đêm cũng được. Úi giời! Chỉ nói phét! Chắc là nộp thuế cho con mụ lác rồi, hả? Nghe giọng nói thấy có vẻ lử lả lắm. Liệu có được thành dũng sĩ ba mươi giây không? Được! Được! Cứ thuê buồng đi! Cho thử đấy! Này, ở ngõ này có một lão già lẻo khoẻo lèo khoèo mà phải hơi vợ, đúng là loại đêm bảy ngày ba vào ra không kể nhé. Có biết lão gạ em thế nào không?
– Thôi!. Quay cổ lại, đập tay xuống bàn, ông Thực quát trong giận dữ và đau đớn, rồi ngã lăn chiêng xuống đất.
Ông Thực nằm ở bệnh viện K nửa tháng thì về. Căn bệnh ung thư dạ dày kịch phát may được kịp thời phẫu thuật. Ông đã được cứu sống. Cái dạ dày chim sẻ của ông do đã cắt một phần tư từ hồi còn trẻ, nay gần như không còn. Bây giờ, miếng ăn phải tính từng phân, miếng uống phải tính từng lạng. Một ngày phải ăn tới sáu bữa nhỏ, nhưng kỳ lạ, trông ông vẫn không nhận ra sự hao sút nào.
Không có sự hao sút nào ở sức lực ông Thực!
Ông trở lại dần dần nếp sống thong dong, tự tại như trước ngày phát bạo bệnh. Ông lại ngồi vào bàn và giũ tóc xuống viết!
Mùa đông và mùa xuân ấy ông viết xong sáu cuốn sách, mỗi cuốn dày chín trăm trang. Tính ra, bình quân một tháng ông viết xong một cuốn. Một ngày ông viết ba mươi trang chữ. Một bút lực trai trẻ cũng chưa chắc đã làm được như thế. Sáu cuốn sách khảo cứu ấy theo đánh giá của giới chuyên môn đáng đứng ở vị trí đầu bảng cho những ai muốn hiểu biết về nền văn hóa phương Đông. Nhiều người nói, sáu cuốn sách ấy đủ để làm nên danh giá một sự nghiệp, một đời người.
Thật là một sức làm việc kinh dị, vượt trên lẽ thường!
Xuân qua, hạ tới. Ngồi vào bàn ông lại giũ tóc xuống tiếp tục viết! Và hình như chẳng có gì xảy ra cả, mặc dầu trong nhà lúc này không còn thấy bóng dáng người phụ nữ tươi đẹp lẳng lơ nọ. Người phụ nữ ấy đã ra đi đúng lúc ông vào nằm viện. Nghe nói chị đã lấy đi toàn bộ số tiền mặt và số vàng ông có, tổng cộng gần hai trăm triệu đồng. Nghe nói thôi. Vì chẳng thấy từ miệng ông thốt ra một lời ca thán nào, kể cả lúc ông sang nhà tôi, trò chuyện với cha tôi.
Mãi về sau tôi mới được biết, người phụ nữ nhan sắc lộng lẫy và phóng đãng ấy là người trong giới giang hồ, chị nguyên là học sinh cũ của ông. Ông yêu chị từ lúc chị mười sáu tuổi, học lớp mười, nổi tiếng là phong tình. Và cứ như thế đấy, đến ở với ông ít lâu gặp khi ông gặp trắc trở, chị lại bỏ ông đi. Ông chẳng giận chị. Cũng như bây giờ ông vẫn yêu chị. Với ông, đã là tình yêu thì không thể có bất hạnh! Tình yêu của đàn ông với đàn bà một khi là thật sự thì chính là dao có cán. Cũng như là núi có tiên, là nước có giao long, là cuộc sống có linh hồn, căn cốt. Phải thế chăng mà ở bức tường sau chỗ ông ngồi, bây giờ cạnh bài thơ Đề bích ca di bút của thân phụ ông là hai câu thơ của Văn Thiên Tường, danh sĩ đời Tống, do chính tay ông viết, nét bút thật chân phương, ngay ngắn:
Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh.
Thủy bất tại thâm, phục long tắc linh.
1/10/2001
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương DAO SẮC NHỜ CÁN. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
Chú thích 1. Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh. Thủy bất tại thâm, phục long tắc linh Có nghĩa là: Núi chắc cốt ở độ cao, có tiên ở là nổi tiếng. Nước đâu cốt ở độ sâu, có rồng ở thì ắt thiêng.