HEO MAY, GIÓ LỘNG


Một hôm, đang giữa bữa, con bé Thúy mười hai tuổi của vợ chồng Đoan bỗng đặt bát cơm xuống mâm, lơ lẻo hai con mắt, thảo lảo:

– Bố mẹ ạ, hình như bác Thảo bác ấy sắp lên chơi nhà mình hay sao ấy! Đêm qua con ngủ mê, thấy bác ấy gọi cửa. Con chạy ra, mừng quá, reo ầm lên. Nhưng con mời thế nào bác ấy cũng không vào nhà. Cứ đứng ở cửa khóc mếu. Mà mặt thì sưng vù, tím bầm. Còn quần áo thì rách tả tơi, trông thương lắm cơ!

Vợ Đoan, mặt đang vui vẻ, nghe con gái nói, bỗng như bị dị ứng, nặng bình bịch. Y gắt:

– Mê với mẩn! Nghe mà phát kinh!

Không nhận ra thái độ khác thường của mẹ, Thúy nghênh má, hồn nhiên tiếp:

– Tự dưng con mê thấy thế thật mà, mẹ.

– Ban ngày ban mặt mải đi xem các đám đánh chửi nhau ở phố nên đêm mới mê thế chứ gì. Thời buổi gì mà khiếp quá! Anh em ruột thịt có khi chỉ vì vài câu nói, mấy mét vuông nhà tranh chấp nhau là có thể vác dao ra chém nhau rồi.

– Con có ra phố chơi đâu nào!

– Lại còn cãi! Thôi ăn đi. Ở nhà quê bây giờ là sướng nhất. Có đâu bữa sớm lo bữa tối như cán bộ, công nhân thành phố, như nhà mày. Tự dưng tự lành, ai đánh ai đập mà mặt mày sưng vù với lại tím bầm!

Đoan vốn ít lời, ngậm miệng nhai miếng cơm. Tâm tưởng do giấc mơ của con gái gợi bỗng vương vương một hoài cảm man mác. Cuối thu rồi. Nắng như dát vàng. Và heo may như một linh hồn xa vắng từ cõi nào trở về, xao xác mỗi vòm lá rậm, quẫy động trong các khoảng trống vắng nơi cõi lòng. Mấy năm trước, cứ vào quãng này là chị Thảo, chị gái Đoan, lấy chồng ở nông thôn khăn gói lên chơi với gia đình Đoan. Không hẹn mà chẳng bao giờ sai. Không có lời ước định mà chính xác như thời tiết tuần hoàn, như việc đồng áng quay vòng. Lúc ấy, vụ mùa đã gặt hái xong. Thóc lúa đã đầy hòm, đầy bịch. Vụ xuân còn ở xa. Đang là lúc nông nhàn ở quê chị. Chị xởn xơ, thanh nhã, lại như cố kiềm giữ niềm hứng khởi tràn đầy, ngầm ngập vào việc sửa soạn, rồi tay xách nách mang, vất vất vả vả, chen lấn lên tàu xuống xe, cuối cùng xuất hiện ở giữa nhà Đoan, hớn hở đứng giữa ngổn ngang là sản vật miền quê, xởi lởi chuyện trò, chầm bập hỏi han, tưởng chừng như đó là những khoảnh khắc không bao giờ gặp lại, để xả thoát tình thương, nỗi nhớ ruột rà đã tích tụ cả mấy chục năm trời.

Bức tranh đã đóng khung ổn định.

Nhớ tới chị Thảo là Đoan nhớ tới ngọn gió heo may lồng lộng và khoảng trời cuối thu tràn trề làn sáng phản quang niềm vui mùa màng. Là Đoan nhớ tới hình ảnh một người phụ nữ đẹp, duyên dáng, tâm hồn cực kỳ trong trẻo và giàu có tình thương yêu, vừa dung dị vừa cao quý, hòa quyện với cảnh sắc đồng quê lộng lẫy, tạo nên một bức tranh vừa hoành tráng vừa thân thiết dị thường.

Ấy là những ngày được nạm bằng vàng hiếm hoi. Người phụ nữ từ nông thôn lên còn giữ nguyên được sự tinh tế, thanh lịch trong ứng xử. Niềm vui vừa chân chất vừa huy hoàng chan chứa trong gia đình, tràn sang cả xóm giềng. Cây mía. Vài lạng đậu xanh. Nửa cân bột sắn. Lời thăm hỏi người già.

Bàn tay vỗ về trẻ nhỏ. Thật giản dị và chẳng bao lâu, chị đã tạo lập nên một mối quan hệ thân tình, đậm đà hương vị thôn dã, với cả những gia đình lân cận nhà vợ chồng em trai mình.

– Có đến hai năm nay bác ấy chưa lên chơi nhà mình, mẹ nhỉ? Hay là bác ấy quên?

Thúy vẫn ngây thơ, lay láy nhìn mẹ. Đoan nhận ra, nó là đứa trẻ rất hay mặc cảm. Nó toét miệng:

– Năm nay thế nào bác ấy cũng lên, mẹ nhỉ? Mà lên thì thế nào cũng cho nhà mình bánh đa thái. Con thích bánh đa thái ở quê bác ấy lắm cơ!

Vợ Đoan, đậy nồi cơm đánh cạch, ngước hai hàng mi dày rậm lên, nhìn con gái, đột ngột:

– Sang năm, thi hết cấp xong, tao cho về quê bác ấy hẳn một tháng mà chơi. Mà ăn bánh đa thái với gạo mới cho nó sướng. Về đúng vụ gặt mà xem. Trong nhà, ngoài sân, trên trời, dưới đất, đâu cũng thóc. Cơ man là thóc. Ngao ngán là thóc. Ngồi trên thóc. Ngủ trên tiền. Thật là vô sư vô sách mà vô lo vô lự, sướng cả đời! Bác mày giàu, giàu lắm, chứ không xác vờ như bố mày đâu!

Đoan quay đi, cố giữ giọng đều hòa:

– Nông thôn đúng là nơi làm ra hạt thóc nên hơn thành phố về mặt thóc gạo là phải rồi! Nhưng còn những nhu cầu khác? Nói chung… thì vẫn là cái cảnh nghèo khó thâm canh của dân mình thôi.

Như được thể, Thúy nối lời bố:

– Nhà bạn con có ông chú ở nhà quê lên ở nhờ chữa bệnh, nghèo ơi là nghèo, bố ạ. Quần áo ông ấy còn rách bằng mấy quần áo nhà mình thải ra cơ. Có mỗi cái chăn chiên đắp cả mùa đông, bố ạ. Ra đây, ông ấy nhặt nhạnh từ cái chậu thủng, đôi dép đứt quai, đến cái bô vỡ đem về dùng. Quê ông ấy, cả xóm chỉ có độc một nhà có ti vi thôi.

– Quê bác Thảo thì không đến nỗi thế.

– Bố ơi, hay con viết thư cho bác Thảo nhé?

Vợ Đoan từ nãy mặt vẫn nằng nặng, nghe con gái hỏi, liền đập mạnh đôi đũa cả vào rìa nồi, đứng phắt dậy quàu quạu:

– Thôi đi! Khách với khứa! Y như bò thấy nhà táng ấy, tôi sợ khách lắm rồi!

Chẳng cần thư từ, hẹn định, nhắc nhở. Mấy năm trước là vậy. Là cứ vào dịp này, lúc heo may dạt dào thổi, chị gái Đoan lại lên thăm gia đình Đoan, chẳng sai lạc, chẳng lỗi nhịp bao giờ.

Các cuộc viếng thăm định kỳ ấy thường bao giờ cũng có vài ba mục đích cụ thể. Hàng đầu là việc thăm nom, sang sửa phần mộ ông bà, cha mẹ. Sau nữa là mua bán, sắm sanh, chữa bệnh… Tuy nhiên dẫu những việc trên có quan trọng và cấp bách đến thế nào, cuộc thăm viếng còn có một ý nghĩa thiêng liêng sâu thẳm rất khó diễn đạt bằng lời nhưng ai cũng cảm nhận được. Đời sống tâm linh còn có bao nhiêu nẻo đường khuất khúc. Trẻ con vẫn cứ lưu giữ một xứ sở thần tiên trong ký ức. Thiên đường, Cực lạc còn sống trong tiềm thức nhân loại. Chị gái Đoan lên thăm gia đình, chị hành hương về quê tổ, về cõi nhớ xa xăm!

Người gốc gác đô thị nhưng đi trái chiều lịch sử, chị gái Đoan lấy chồng nông thôn. Ấy là vì tình yêu có một nấc cao hơn cả lịch sử. Anh là thợ cày, nhập ngũ trở thành chàng Vệ quốc quân từ năm 50. Chị là gái thành phố tản cư, thanh sắc hơn người, trở thành diễn viên văn công cùng những năm đó. Họ gặp nhau ở chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Phải duyên, mê nhau là kéo nhau về làng anh, làm lễ cưới ngay sau khi hòa bình lập lại. Chị tình nguyện từ bỏ nếp sống nghệ sĩ và thành thị, quen dần với đời sống gái quê lam lũ nơi thôn ổ. Vì tình yêu, cuộc hòa hợp nếu có khúc mắc cũng có thể vượt qua.

Nhưng mà thực tình chị Thảo của Đoan chuột sa chĩnh gạo. Đất đồng bằng cấy cày trồng tỉa đã dư ngàn năm, còn mấy nơi bờ xôi ruộng mật được như thế. Đây là vùng trọng điểm lúa. Thêm đặc sản lợn và lạc nên còn gọi tắt là vùng Ba Lờ. Trù phú, ấm no hiển hiện từ tên các xóm làng bao giờ cũng khởi đầu bằng tiền tố Gạo. Gạo Nam, Gạo Bắc, Gạo Đông, Gạo Đoài. Ruộng ăn tới chân bờ tre. Địa giới xã này xã kia phân ngay trên mặt ruộng. Ruộng liền ruộng. Đi cấy, dậy từ tờ mờ, phải sáng bửng mới ra tới mảnh ruộng của mình ở giữa đồng để cắm cây mạ. Mùa gặt, thôn xóm như mạ vàng mười. Cây rơm nhà nào nhà nấy cao lút mái ngói. Đập ngay vào mặt khách lạ khi vào nhà là cái hòm khóa chuông vẫn một kiểu thô sơ, cổ giả như đẽo gọt bằng rìu từ thời Hùng Vương, nằm chềnh ềnh như khoe khoang và rất vô lý về mặt thẩm mỹ ở chính gian giữa.

Đời sống no đủ và tình yêu vừa sâu sắc vừa giản đơn, mang dấu ấn thời cuộc, thích hợp với một mô hình gia đình chồng đi công tác xa, vợ ở nhà làm lụng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, phân ly hai ngả mà vẫn hài hòa, lại kiêu hãnh và giàu chất thơ mộng. Đóng quân trên Tây Bắc, nức tiếng anh hùng tiễu phỉ, được ít lâu thì anh chuyển sang làm đội trưởng một lâm trường khai thác gỗ, cũng có thể coi như chuyển môi trường để anh thi thố tài sức cống hiến cho sự nghiệp miền núi tiến kịp và vượt miền xuôi. Ở quê chồng, chị như được phép lạ, hóa thân trở thành hết kiện tướng phân bắc, phân xanh, lại chiến sĩ thi đua làm thủy lợi. Thư viết cho nhau toàn kể chuyện thành tích sản xuất, chiến đấu và động viên nhau gắng sức để xứng đáng là đoàn viên, đảng viên. Một năm, mười hai ngày anh về phép là mười hai ngày hội hè lễ tết. Khách vào ra nầm nập từ sớm chí tối. Đàn gà mấy chục con vỗ béo được dịp vãn dần. Bếp rơm suốt ngày um khói. Chè Thái Nguyên bã đổ đầy ụ mấy gốc nhài. Chị vào ra, má đỏ rạn, tưng bừng từ trong sâu xa. Bức toàn cảnh thật sự định hình trọn vẹn là từ ngày anh về hưu ngồi nghễu nghện trên lưng một chiếc xe tải thồ bốn khối gỗ quý, tặng phẩm đặc biệt của lâm trường dành cho người có công khai phá. Thợ xẻ, thợ xây, thợ mộc dựng công trường liền một năm trời. Năm sau, tóc râu đã đốm bạc, lưng đã còng dáng ông lão, khoác cái áo đại cán sờn cổ nhưng ngồi trên cái sập gụ, tay thông nõ điếu, mắt anh nheo nheo, vẻ vô cùng mãn ý ngắm vuốt cái giang sơn xinh xắn, toàn bích của mình. Nhà mái bằng rồi. Tủ ly, tủ lệch, tủ gương, tủ đứng, giường đôi, giường một toàn lát hoa, lát chun kiểu mô đéc nhất rồi. Tường vôi ve sáng trưng cả dãy khung kính lồng huân chương các loại cùng ảnh kỷ niệm thời trai trẻ dọc ngang kiêu hãnh. Tối thứ Bảy, bạn bè cùng trà lứa quây quần đôi hồi chuyện cũ và theo dõi vở cải lương phát đi từ cái đài Xiong Mao mua cung cấp đã có vỏ giả da, lại lồng trong cái túi vải hoa chị may tay mà đẹp như máy.

Đậm đà dấu tích ở mọi nơi mọi lúc vẫn là một cốt cách phụ nữ đô thành, có nền nếp gia phong, thanh lịch mà không xa cách, đảm lược mà không lầm lũi, thô mộc. Chị là điểm giao thoa của hai nguồn ánh sáng, nhưng trong tâm thức vẫn hướng về phía thành thị. Chẳng khác được, từ lời ăn tiếng nói đến cách giáo dưỡng con cái. Hai con, một gái một trai, lạy trời xinh xắn, giỏi giang giống mẹ như đúc, chuyện trò với bè bạn thi thoảng lại buột miệng: Quê mẹ tớ ở thành phố kia!

Người phụ nữ ấy sau hai năm vắng biệt, trưa nay dường như là đột ngột xuất hiện ở nhà Đoan. Dường như là từ tâm khảm Đoan bước ra, từ bức tranh định hình theo mường tượng của Đoan bước ra. Gương mặt cân phân, đầy đặn, chan hòa ánh sáng, miệng tỏa nụ cười hoa, đẹp trang nhã và cổ điển, chị đứng trong làn nắng hanh vàng, tay cầm nón múc gió, trong niềm vui hồi tổ không sao kìm giữ được, cất tiếng vang bổng gọi tên Đoan. Từ trong nhà chạy ra, Đoan thấy mình như đang ở trong mơ.

– Ối bác Thảo! Cháu biết ngay là thế nào hôm nay bác cũng lên mà. Sáng nay ngồi trong lớp mà cháu cứ máy mắt liên tục, bác ạ.. Thúy reo, cầm tay bác Thảo quàng lên vai mình.

Chị gái Đoan xoa đầu con bé:

– Thúy lớn quá rồi. Bẵng đi đến hai năm rồi đấy.

– Cháu tưởng bác quên rồi.

– Quên thế nào được. Hai năm rồi, năm thì bà cụ bên nội hai năm mươi, năm thì sang áo cho ông bác. Năm nay gặt hái xong đã định thu xếp lên ngay, biết là cậu mợ và cháu mong thì lại bập vào việc người ta đến xin cái Lượng. Rồi tôi ốm. Trở lạnh, bỗng dưng thấy tức ngực quá. Ốm nằm lệt bệt mới thấy mình già rồi. Cậu cũng có tóc bạc rồi kia kìa!

Người phụ nữ cúi xuống cởi gỡ đám hành lý và sản vật làm quà mang theo, giấu một niềm trắc ẩn nào đó, chép miệng:

– Đi đúng ngày xấu, xui quá. Ô tô chết suốt đường. Đến bến, chẳng còn cái ô tô buýt nào. Đành lên cái xe lam. Tưởng cũng giá nhà nước quy định. Nào ngờ đến giữa đường, ông lái xe mới dừng lại, bẩu mỗi khách nộp hai chục nghìn. Năm cây số, hai chục nghìn, hơn yến gạo. Quá bóp hầu bóp cổ khách!

Thúy đang đung đưa tay bác, bỗng giãy lên:

– Sao bọn họ ác thế? Bác nhất định không chịu chứ?

– Giời không chịu đất thì đất đành phải chịu giời, cháu ạ. Mình ở thế yếu mờ. Cực nữa là sờ đến cái túi xách tay lấy tiền thì… ôi thôi, kẻ cắp nó đã rạch ngang một nhát, móc mất cái ví rồi.

– Thế bác làm thế nào? Khổ thân bác quá!

– Bác vẫn còn tiền chứ, chỉ buồn là lắm cảnh người bức hiếp người, hãi quá! À mờ thôi…. Vừa hé mở, người phụ nữ lại vội vàng khép kín tâm tư.. Thúy giúp bác cất dọn các thứ này đi. Chả có gì đâu. Hai con gà này, thịt hay nuôi cho đẻ mờ ăn trứng. Bánh đa thái, bác đổi thóc của nhà. Bột sắn dây bác trồng… Còn chỗ này là quà biếu các bà láng giềng. Ơ, mẹ cháu đi làm không về buổi trưa à?

Sâm sẩm vợ Đoan mới từ nhà máy về. Y đi lối sau, vào buồng đang thay quần áo thì cái Thúy nhảy lò cò vào. Mẹ ơi… Không để con kịp nói, y đã lừ mắt, khe khẽ rít: Biết rồi! Lên từ trưa chứ gì. Khiếp! Nom cứ như bà lão nhà quê! Rồi vừa cài cúc áo vừa bước ra phòng ngoài, đổi mặt vồn vã:

– Bác Thảo mới lên đấy à? Lâu nay bác vẫn được bình thường chứ? Thúy ơi, vo gạo nấu cơm bác ăn đi, con!

Trực giác đàn bà ít khi sai. Đoan ra khỏi ảo giác. Sau hai năm không gặp lại, giờ đây, ngồi đối diện với Đoan không còn là chị gái tươi đẹp, óng ả năm xưa. Trước mặt Đoan lúc này là một hình hài khác, một kiếp phận khác, một tâm trạng khác. Trước mặt Đoan là một bà lão quê mùa còm cõi, mệt mỏi và bất an. Trước mặt Đoan là thân xác và tinh thần của một đời sống lao lực quá sức và triền miên trong giày vò, cắn rứt, tuy cố nhẫn nhịn mà vẫn tiết ra xung quanh một nỗi buồn hiu hắt.

– Cám ơn mợ, tôi vẫn còn gánh gồng, cày cấy được. Còn mợ, hồi này hồng hào, khỏe mạnh hơn trước đây nhỉ!

Đáp lại giọng nói rầu rầu của người chị gái chồng, bà em dâu cười ré lên, rồi rổn rảng:

– Khỏe gì mà khỏe! Sắp chết đói đến nơi rồi đấy, chị ơi! Dạo này, nghe báo, đài nói, ở thôn quê làm ăn khấm khá lắm có phải không? Sao mấy năm rồi chị không lên chơi? Bố nó nhắc luôn. Còn cái Thúy thì mê thấy chị lên luôn ấy.

Cái vui, sự niềm nở thực sự chỉ là giữ lễ.

Đoan là nhà báo, từng trải, hiểu đời, hiểu người, nhận ra từ hôm đó, vợ Đoan ngoài mặt thì giữ sự vui vẻ, còn bên trong thật tình y bực bội, khó chịu hết sức.

Nhà có khách, khách lại là người ruột thịt mà chủ nhà lại bực bội, khó chịu thì thật là vô lý. Vô lý, nhưng lại rất dễ hiểu. Về mặt này, Đoan hiểu, vợ Đoan rất ngại phải chi tiêu tốn kém. Vợ Đoan là thợ dệt, lương bổng tàm tạm. Mức sống gia đình, nhờ có Đoan chống đỡ, cũng không đến nỗi. Nhưng vợ Đoan cũng như bao nhiêu kẻ xuất thân từ nghèo khó, lại trải qua mấy chục năm trường với cuộc sống thiếu hẳn sự an toàn cần thiết, con người bó buộc phải phát sinh tập tính tự vệ nên cần kiệm, tính toán đến thành chắt bóp, hà tiện đã trở thành thói quen nhiễm vào máu thịt, nếp sống. Dạo còn chế độ tem phiếu, lĩnh lương xong, mỗi khoản chi, to nhất như mua gạo, mua dầu, nhỏ như tiền cắt tóc, xà phòng, kim chỉ, y đều chia, cho vào từng phong bì, phân miêng, không khoản nào được lẹm sang khoản nào. Đậu kho cả nồi nhưng mỗi bữa mỗi người ba miếng là không có hơn. Hai lạng giò để ăn hai bữa, ngon miệng ăn liền một bữa, y ca cẩm cả tuần. Gạo đong thiếu vài lạng, thịt mua thiếu vài hoa, y cũng đạp xe đi cả giờ, đòi bù bằng được. Khách chồng đến chơi, vui miệng hút liền ba, bốn điếu thuốc là y lườm y nguýt. Thóc đâu mà cho chó ăn no, cho gà ăn đủ. Y nói. Y xót từng trăm bạc, vì trăm bạc là hai mớ rau, vì trăm bạc là một phần mười lăm tiền công một ngày của y. Beo thắt, bủn xỉn, không cho ăn mày đến cả tờ hai chục rách nhưng cũng chẳng bớt xén, ăn không ăn hỏng của ai đến một đồng. Công bằng mà xét, ki bo như vợ Đoan cũng có căn nguyên hoàn cảnh và cũng không phải là một thói xấu tệ hại.

Nghe cái Thúy mỗi bữa lấy gạo nấu cơm, lại gióng hỏi: Mẹ ơi, bốn người, hai bơ mấy lẻ, hả mẹ? Bác Thảo thường cười: Ở nhà quê các cháu của cậu mợ cứ vục vào thùng gạo, đầy phè nồi thì thôi. Vợ Đoan lại lầm lầm nét mặt: Ở thành phố, thế có chết!

Quả thật, đời sống vốn đã chẳng dễ dàng gì. Tự kiếm sống đã là cả một công cuộc lớn lao, huống hồ lại còn đèo bòng, cưu mang. Nhưng đã nói thì phải nói cho hết nhẽ. Tính toán ra thì đâu có phải đèo bòng, cưu mang. Bác Thảo ý tứ lắm, bác đâu có phải là con người chỉ biết ái kỷ, để thiệt thòi cho người khác. Vốn người thành phố, chị đâu có lạ kiểu sống cán bộ ba cọc ba đồng. Ở một tháng thì chị đã đem biếu vợ chồng Đoan yến gạo nếp, ba cân bánh đa thái, rồi còn gà qué, bột sắn dây, đậu xanh… Không nên nghĩ đến sự sòng phẳng ở đây nhưng nếu chi li nhẩm tính thì vợ Đoan đâu có phải là người chịu thiệt!

Tất nhiên nhà có khách ngoài sự tốn kém vật chất dù được đền bù bằng cách nghĩ xởi lởi thì trời cởi cho, bo bo thì trời co lại thì cũng còn một nỗi phiền hà không sao tránh được: ấy là sự thiếu hòa hợp, trạng thái tâm lý ép buộc phải giữ kẽ, mất tự nhiên. Giờ đây, khi mỗi gia đình trở thành một đơn vị kinh tế, xã hội khép kín, có tập quán văn hóa riêng, một cá thể bên ngoài nhập vào chẳng khác gì một chi tiết khác lạ này lắp ghép vào một cơ thể kia, miễn dịch học đã chứng tỏ, nó sẽ bị chối bỏ, đẩy xa. Cứ xem cái cách xây cất, rào giậu cổng ngõ của các hộ gia đình ở thành phố những năm gần đây thì biết, ngoài lý do an ninh ra, các gia đình còn muốn công khai bày tỏ khuynh hướng biệt lập, riêng rẽ của mình.

Nhưng mà, ừ thì cứ cho là đúng như vậy thì chả lẽ với một người là ruột thịt thân thiết và chỉ là làm khách vãng lai dăm bữa nửa tháng lại không thể nhãng đi chút ít cá tính mà thực hiện sự hòa đồng? Dễ người dễ ta, khó người khó ta, chẳng đã từng có lời chỉ bảo đó rồi sao!

May mắn, xóa mờ đi cái dối trá của sự ứng xử theo chữ lễ là nhờ ở sự hồn nhiên của cái Thúy. Thúy quấn lấy bác nó, tự nhiên và gắn bó như cùng chung một mệnh hệ. Theo tử vi, nó chung lá số với bác nó. Lạ thế! Nó trở thành cái cầu nối kéo mọi người lại gần nhau, giảm bớt sự căng thẳng ngấm ngầm. Hai bác cháu chả mấy lúc mà trở thành hai người bạn vong niên. Hai người như hình với bóng, như chập làm một, chia sẻ hết mọi niềm vui, nỗi uẩn khúc cho nhau. Lắm khi Thúy nghiêm trang như một người lớn tuổi. Và bác nó lại giống như một cô học trò ngoan, rất lễ độ.

– Cứ gì phải biết làm ruộng mới thi vào đại học nông nghiệp, hả cháu? Mới lại, làm ruộng cũng chả khó đâu.. Một lần hai bác cháu tâm sự, bác Thảo nói.. Hồi mới về nông thôn, cái gì bác cũng lạ. Trông thấy con trâu nghênh nghênh sừng cũng hãi.

– Thế tại sao đang ở thành phố, bác lại về nhà quê?

– À… Chuyện ấy thì dài lắm… Nhẩn nha rồi bác kể. Dưng mờ… chẳng qua cũng là do cái duyên, cái số… Gì thế, cháu?

– Bác nói, giọng nói khang khác thế nào ấy. Trời bác nói là giời. Sợ bác nói là hãi. Nhưng mà bác nói là dưng mờ. Bảo bác nói là bẩu. Với lại bác nói là mới lại.

– Ăn nước ở đâu nói giọng ở đó mờ, cháu.

– Bác Thảo này, thế lần này lên đây, bác phải ở thật lâu cơ!

Nhìn người phụ nữ ngẩng lên, ngỡ ngàng trước yêu cầu của mình, Thúy tiếp:

– Bác ở đây cháu thích lắm.

– Dưng mờ…

– Không! Bác cứ phải ở đây thật lâu cơ. Để cháu làm cho bác trẻ ra. Để bác không nói dưng mờ nữa. Bố cháu bảo, hồi trẻ, bác xinh nhất trường nữ học đấy. Có đúng không?

Nén một hơi thở ghìm giữ bầu tâm sự đang ứ tràn, bà chị gái Đoan cúi xuống, mắt chớp chớp, đầy vẻ nhẫn nhịn.

Vợ Đoan lúc ấy ở trong buồng tắm, như thừa cơ, nói hắt ra:

– Bác Thảo đừng có nghe lời cái Thúy. Nó lười lắm. Có bác ở đây, có người trông nhà, nấu cơm để nó tha hồ chơi nhởn đấy.

Thúy xịu mặt:

– Đâu mà!

Bác Thảo rầu rầu:

– Cháu nó vẫn nấu cơm đấy, mợ ạ. Tôi làm gì nó cũng không cho làm. Với lại, dạo này tôi mệt mỏi quá, có động tay động chân, nhúc nhắc được việc gì đâu.

Bác Thảo quả là không được khỏe. Một buổi đi làm về, Đoan thấy bà chị nằm co quắp, tay ôm đầu trên cái đi văng ở buồng khách. Hỏi, chị nói: Nhức đầu lắm, cậu mợ với cháu cứ ăn cơm đi, tôi không ăn.

Đã là nửa tháng chị Thảo ở với gia đình Đoan. Cái vỏ lễ nghĩa trong giao tiếp bong lở dần. Cơm dọn dưới bếp. Ngồi vào mâm, Đoan hỏi, con gái thưa: Bác nó kêu mất ngủ, nó đã đi hái lá vông về nấu canh cho bác nó ăn.

Vợ Đoan lừ mắt:

– Vông vang gì, chỉ vẽ! Bà ấy uống ba viên thuốc ngủ Meprobamat đấy.

Đoan giật thột:

– Thuốc ngủ nào? Thuốc ở đâu mà uống?

– Ở ngăn bàn của ông em trai chứ ở đâu. Lục lọi từ buồng trong đến buồng ngoài. Tủ nào, ngăn kéo nào cũng tìm chìa khóa mở bằng được.

– Lạ thật!

– Chả vu oan đâu. Đây có đánh dấu hẳn hoi.. Hếch ngược hai con mắt một mí vốn đã xếch chéo, vợ Đoan lên cơn tức tối dường như rất bất thần, vô lý.. Tham con diếc, tiếc con rô. Thấy dầu cao là xoa lấy xoa để. Thấy thuốc là nhét vào mồm luôn. Trưa nay về, đưa vỉ Meprobamat ra hỏi: Mợ ơi, đây có phải là thuốc an thần? Thật là có răng răng nhai, chẳng răng lợi gặm, không sai miếng nào!

– Trời ơi! Sao bây giờ mới bảo!

Vợ Đoan ném tạch đôi đũa vào mâm, nghiến răng:

– Ông cáu gì với tôi!

Và đứng phắt dậy, quát con:

– Thúy! Mày có xót xa cho máu mủ ruột thịt nhà mày thì lấy bát đi mua cháo tim gan về cho bác mày ăn đi!

Đoan nín giận, bỏ dở bữa cơm, đỡ bà chị dậy, cho bà uống mấy cốc nước chanh giải độc.

Thời tiết chuyển hẳn sang đông giá cùng với bầu không khí u ám, nhiễm độc trong gia đình. Vợ Đoan về đến nhà, không đá thúng đụng nia, móc máy xa gần thì cũng lầm lì một khối nặng trịch. Xét cho cùng, lòng tham lam vì thường xuyên sống trong tình trạng thiếu thốn và sự sùng bái đồ hàng của người chị đã nông thôn hóa và thói xóc móc quá quắt của vợ Đoan đều vừa là đáng trách, vừa có thể và cần phải thể tất. Khổ thay, Đoan phải nhập vai môn đệ của học thuyết nhị nguyên. Được lòng đất, mất lòng đò, anh lơ lửng như con cá vàng, loay hoay không biết xử lý các mối quan hệ sao cho phải. Vì trong thâm tâm chẳng nỡ trách cứ một ai nào. Nhất là lúc này đây, sau hơn một tuần đau đầu, mất ngủ, bà chị gái Đoan rơi vào cơn đau yếu lệt bệt. Tức ngực, khó thở. Nhức nhối xương cốt. Hâm hấp sốt. Chân run, tay ê mỏi. Bữa cơm, ép nài, bà chị Đoan cũng chỉ vài thìa cháo gọi là.

Ốm đau bao giờ chẳng gây phiền. Người thân cũng vậy thôi. Thuốc men. Đun nấu. Nâng giấc, săn sóc, hầu hạ, hỏi han. Mệt nhọc và tốn kém là không tránh được. Mà hai mặt này, trong đời sống chỉ số an toàn quá kém cỏi hiện thời thì cũng quá dư thừa rồi. Tuy vậy sự sai lệch nhịp điệu sống và nỗi ám ảnh lo ngại mới thật sự là nguyên nhân gây ra tâm trạng day dứt, bất ổn cho mọi người, nhất là vợ Đoan. Bà ấy ốm đau quái gì! Chẳng qua thấy ông em giàu có quá nên nằm ăn vạ chơi thế thôi! Ở nhà quê mấy khi được cơm bưng nước rót vậy! Trời, một lần nghe từ miệng vợ câu nói hàm ý độc địa ấy Đoan đã phải nghiến răng để khỏi kêu trời!

Chao ôi! Người vợ thân yêu của Đoan. Đoan hiểu y. Ừ thì y cứ tằn tiện, thu vén; y cứ bo bo, bom bỏm; y cứ duy lợi triệt để đi. Ích kỷ hơn nữa đi cũng được! Chứ y không nên, không thể cạn tàu ráo máng, mất tình mất nghĩa, phũ phàng tàn tệ như thế. Sao y lại có thể quái ác đến thế? Hay đó là trạng thái bệnh lý và hậu quả của một cơn ám thị nặng nề y mới nhiễm phải gần đây? Một lần nữa, cái Thúy bé nhỏ lại giữ vai trò cân bằng, san phẳng. Không một lời phàn nàn, không một cử chỉ sơ suất, cần mẫn và tràn đầy tinh thần trách nhiệm, nó đóng trọn vẹn vai cô hộ lý, người cấp dưỡng, người cháu gái tận tụy săn sóc cho bác gái nó. Trong khi Đoan lo chữa chạy bằng Tây y cho bà chị thì nó hết ngày này qua ngày khác, hết lá vông, rồi lại xoa bóp, dăn dở chân tay mình mẩy cho người bệnh ruột thịt. Đặc biệt, trước mọi điều chì chiết cay nghiệt bác gái của mẹ nó, nó chỉ độc một câu bác bỏ rất ngây thơ, nhưng vững tin và không sao bắt bẻ được: Đâu mà!

– Mày thì biết cái gì mà động mở mồm là đâu mà! Đêm ngủ say như chết, mày có biết bà ấy nói mê sảng những gì không?

– Bác ấy kể cho con nghe hết rồi!

– Hết rồi! Để đêm nay, tôi đánh thức cả nhà cho mà biết. Khiếp quá thôi! Chả hiểu vợ chồng bà ấy sống với nhau thế nào mà bà ấy trong mê ngủ cũng rên rỉ khóc lóc than vãn rồi trách oán, không có lửa làm sao có khói. Ăn ở có nhân có nhị thì đâu đến nỗi…

Trưa hôm sau, hệ quả của tất cả xung đột ngấm ngầm mới thực sự có dịp bộc lộ. Đi làm về, vợ Đoan đèo một bì gạo hơn chục cân sau xe đạp. Tay giữ chiếc xe đạp ở ngoài sân, hai gò má cao đỏ bừng, cặp mắt xếch nháng nước, y nhìn vào nhà, gióng giả:

– Thúy đâu! Ra đem gạo vào. Trút vào thùng cho khéo không lại rơi vãi. Gạo lên hăm hai rồi đấy, không phải là cứ xúc đầy nồi, ăn cho sướng mồm, nói cho sướng miệng là được đâu!

Nhận ra ngay vẻ gây sự của câu nói, Đoan đi ra, nhẹ nhàng bảo vợ:

– Nói khẽ một tí, mẹ Thúy à.

Gạt cái chân chống xe đánh cạch, vợ Đoan trừng mắt:

– A, cấm đoán cả lời ăn tiếng nói à? Được đấy. Nhưng sao không biết bịt mồm kẻ khác?

Đoan chưa hiểu được ý nghĩa của câu nói sau nhưng vội hạ giọng, nín nhịn:

– Thông cảm một tí, mẹ Thúy. Bác ấy vật vã cả sáng nay, mới chợp mắt được một lúc.

– Thế tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại, sấp ngửa cả ngày để kiếm được bát gạo thì muốn thế nào được thế ấy, hả?

– Người ta đang lúc ốm đau. Vì tình nghĩa nên…

– Tình nghĩa! Tình nghĩa gì cái kẻ bòn nơi khố bện, đãi nơi quần hồng, cái quân ngậm máu phun người.

Nhận ra một cái ý tứ cay nghiệt khác lạ, Đoan sửng sốt:

– Mẹ Thúy nói thế là thế nào?

– Có thế nào mà không hiểu à?

– Đừng nên suy luận không có căn cứ.

– Không căn cứ! Một giọt máu đào còn hơn ao nước lã kia. Có đúng không? Khác máu thì tanh lòng, người xưa bảo vậy đấy, có biết không?

Đoan choáng váng, mu mơ:

– Chuyện gì mà vòng vèo, quá đáng vậy? Vợ Đoan nguẩy mặt, quyết liệt:

– Chả quá đáng gì sất. Tôi không thể chịu được nữa. Bà ấy ở đây thì tôi đi! Tôi đi để hai chị em ông sống với nhau!

Rõ ràng là câu chuyện đã vượt ra khỏi tất cả những đoán định của Đoan rồi. Đoan nhăn nhó:

– Mẹ Thúy đừng giận quá hóa mất khôn.

– Tôi không thích dính với ai cả!

– Sao?

– Tôi-không-thích-dính-với-ai-cả. Nghe rõ chưa?

– Sao lại thế?

– Thế là thế chứ sao nữa! Muốn vặn vẹo hả?

Mắt vợ Đoan chéo hai vết sắc lẻm. Hàm răng đều đặn, trắng nõn của y nhe ra như định cắn xé. Chưa bao giờ khuôn mặt có đôi lưỡng quyền cao, hai con mắt một mí và cái chóp mũi cao sang vốn đẹp và đặc sắc, hiếm có của y có cái vẻ não nùng, đáo để đến thế.

– Ông có biết bà chị ông đặt điều cho tôi thế nào không?. Bỏ chiếc xe đạp, vợ Đoan sấn thẳng đến trước mặt Đoan. Môi bậm lại rồi mở ra, y nhả từng từ tưởng như đã được tuyển chọn hết sức kỹ càng vào mặt Đoan đang há hốc vì kinh sợ.. Bà ấy bảo: Mẹ cái Thúy, tức là tôi đây này, trông mặt không ra người Việt Nam ta. Mà họ Trương của tôi cũng không phải họ gốc Việt ta. Cung cách ăn ở càng giống người ngoại lai. Ông biết thừa là hồi ấy ta đang có chuyện rắc rối với bên ngoài chứ. Bà ấy muốn bảo tôi là kẻ địch. Bà ấy muốn giết tôi. Giết tôi mà không cần gươm giáo! Không tin ông cứ đi hỏi khắp các nhà hàng xóm xem! Bà ấy muốn giết tôi! Phải nhớ rằng người ta còn sống vì tiếng tăm, danh dự nữa nhé!

Trong buồng, bỗng có tiếng con Thúy vừa bê bì gạo vào la to thảng thốt:

– Ơ kìa, bác Thảo! Bác ngủ đi chứ! Bác ngồi dậy làm gì!

Áp lực tâm lý thật nặng nề nhưng sức chịu đựng của con người cũng thật ghê gớm. Biết cả, nghe thấy cả đấy mà bà chị gái Đoan không hề biểu lộ một phản ứng chống trả nào đáng gọi là có, cứ như là không hề có cơn thịnh nộ công khai và cay cú của người em dâu của bà ở trong căn nhà này. Trong khi bà chưa suy kiệt cảm nhận. Chưa trở nên chai lì do đời sống cơ khổ đã đến mức hủy diệt hết xúc cảm. Nhưng bà đã nín lặng đến mức khó hiểu. Vậy dưới cái vẻ bề ngoài thản nhiên ấy là sự nhẫn nhịn của kẻ yếu nhược? Hay là bà giả đò không biết, còn trong bụng thì hết sức khinh nhờn kẻ đắc thế giương vây, ngoác mỏ? Ra câu chuyện là như vậy. Nhưng lẽ nào lại có thể như vậy? Trời ơi, chả lẽ mấy chục năm qua, cuộc sống đã khắc nghiệt đến mức cả những con người hiền lành, thân thuộc với nhau cũng không thoát khỏi thói quen thường trực là phải soi mói lẫn nhau, phải tìm ra sự khác biệt để đối lập nhau, trái ngược hẳn với đời sống hòa đồng vốn dĩ nên bây giờ há miệng mắc quai?

Sáng hôm sau, trời lạnh dưới mười độ. Bà chị gái Đoan dậy sớm hơn thường lệ. Như có phép lạ, bà bứt ra khỏi cơn ốm đau. Bà tự gấp chăn màn và sau khi rửa mặt, chải đầu tinh tươm, ngồi bên mép giường, tay ôm cái túi xách trước bụng, như có ý chờ đợi.

Thúy bưng mâm cơm lên, thấy bác gái vậy, liền thất thanh:

– Bác Thảo! Bác định đi đâu?

Người đàn bà giờ đây đã thành nửa tỉnh nửa quê nhìn cháu gái và vợ chồng Đoan mới từ dưới bếp đi lên, khe khẽ:

– Cháu Thúy, cậu mợ ăn cơm đi. Tôi hẵn còn no.

Đoan hiểu ngay rằng, sau đây sẽ là một cuộc chia lìa, một cuộc chia lìa hết sức lặng lẽ và đau đớn. Đoan kêu ấp úng:

– Gì thì chị cũng phải ăn bát cơm đã…

Vợ Đoan đang ngồi đánh nồi cơm, bỗng dưng đứng dậy, đi ra sân hỉ mũi. Quay vào, y bâng quơ như là vô tâm:

– Thúy hôm nay đi học về sớm nấu cơm, mẹ có việc bận.

Về muộn.

Y buông lửng câu nói vì nghẹn ắng. Trong y vừa xuất hiện một khoảng trống vắng quá lớn! Hay rút cuộc y nhận ra cái đối tượng mà y vẫn tập trung trút niềm căm giận chỉ là một bà già ốm o, xơ xác thảm hại và cái lý do để y găm giữ hận thù trong lòng bấy lâu nay chỉ là một thứ trò vè ngớ ngẩn do kẻ khác bày đặt và bà chị chồng y cũng chỉ là một nạn nhân khốn khổ?

Những sâu kín hoàn toàn không phát lộ ở phần nổi của gương mặt. Mặt bà chị gái Đoan hốc hác, vô cảm. Bà đưa mắt nhìn Thúy, giọng tự nhiên không ngờ:

– À, bác dặn cái Thúy: Hai con gà mái sắp nhảy ổ rồi. Kiếm cái rá cũ, lót ít rơm, đặt lên mặt chuồng cho nó, cháu nhé. Chóng thế, mới ngày nào lên chơi với cậu mợ, rồi ốm đau nhọc mệt, tính đến hôm nay đã là hai tháng mười ngày rồi.

Đoan ngẩng lên, thở dồn:

– Chị định đi đâu, chị Thảo? Còn ốm yếu thế, không đi được đâu!

Thúy sà đến, giật tay bác gái:

– Ứ ừ, cháu không cho bác đi đâu đâu!

– Bác phải về quê. Về còn đi cấy vụ xuân chứ, Thúy!

– Đâu mà! Bác nói dối cháu.

Người bác đưa tay vuốt tóc cháu gái, miệng nhoẻn cười, mà mắt rưng rưng:

– Bác đi chơi thế là lâu quá rồi. Giờ phải đi làm chứ, cháu.

Vợ Đoan bỏ mâm cơm, đi ra hiên, với cái khăn lau mặt. Buông vai cháu gái, người đàn bà lần túi, tìm cái khăn chấm kẽ mắt, rồi cất tiếng khan re:

– Thôi, cậu mợ và cháu để tôi đi. Có ở lại cũng sốt ruột lắm. Lên chơi, thăm mộ ông bà, thấy cậu mợ, cháu Thúy mạnh khỏe, tiến bộ là mừng rồi. Ở nhà quê, mờ ở đâu cũng vậy thôi, khổ cực là điều… Tôi không nói hơn nói kém… Thật tình sống với nhau có lúc không phải. Nó cũng vì… Ơ kìa, Thúy, để bác đi!

Đoan đứng dậy, nhìn theo Thúy vừa ôm cái túi xách của bác nó chạy vào buồng.

– Thúy, cho cái túi của bác vào tủ, khóa lại. Chị Thảo, chị chưa đi được! Em và nhà em chưa cho chị đi đâu!

Ngoài hiên, vợ Đoan áp cái khăn mặt ướt vào mặt, đứng im, không một lời.

Thắc thỏm, trưa đó, Đoan đạp xe về nhà trước giờ tan tầm. Bước vào nhà, anh nhận ra vợ anh cũng đã về. Cái Thúy cũng bỏ dở buổi học. Hai mẹ con đang ngồi lặng trên đi văng.

Đoan hiểu ngay: bà chị gái anh đã bỏ đi rồi!

Lặng lẽ, anh ngồi xuống cạnh cái Thúy thì nó bỗng như bật lên, quay sang mẹ nó nức nở:

– Mẹ chẳng hiểu gì cả! Mẹ tưởng bác ấy sung sướng lắm à? Bác ấy chẳng thiết sống nữa đâu. Bác giai ở nhà cờ bạc, rượu chè, nợ nần bê tha, bán hết đồ đạc, cửa nhà rồi. Hai người bỏ nhau rồi. Con cái cũng mỗi người một nơi rồi. Bác ấy lên đây, định đi ở, trông con cho người ta đấy. Sao mẹ nỡ lòng nào mà như thế!

Vợ Đoan, như cái bóng, lầm lũi đi vào buồng.

Cả tháng sau đó, y như biến thành một người khác, ít nói hẳn đi. Nhiều lúc y ngơ ngác, bần thần, mặt như có khói ám. Gia đình có ba người, ai cũng bị giày vò nên rời rạc, lẻ loi đến lạ. Cái Thúy thì gần như cách ly với mẹ nó. Còn Đoan, vẫn là cái sinh thể đứng giữa các sự chia cách. Biết nói thế nào với vợ và con? Chuyện còn đó để lại những ám ảnh thật nặng nề. Ruột thịt mà thích biệt lập, không muốn có quan hệ với nhau thì thật là trái tự nhiên quá thể. Đau đớn quá là cái hiện trạng này!

Từ năm đó, bà chị gái Đoan không bao giờ trở lại với gia đình Đoan nữa. Các cuộc hồi tổ định kỳ kết thúc. Nhưng cái Thúy thi thoảng vẫn gặp bác nó trong những cơn mê hãi hùng. Còn Đoan, Đoan không nguôi thương nhớ người chị gái của mình. Nhớ đến chị, may mắn ký ức Đoan vẫn in đậm khung cảnh khoảng trời cuối thu lồng lộng gió heo may, tràn trề làn sáng phản quang niềm vui mùa màng. Đoan vẫn nhớ đến hình ảnh người phụ nữ đẹp duyên dáng, hòa hợp bản ngã với cảnh sắc đồng quê như một thực thể mênh mông và cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao khôn lường. Những ngày đẹp như ngọc ngà sao mà hiếm hoi thế trong đời người!

1991