Không nơi nào mà người ta thấy dòng thời gian tâm lý của con người hỗn loạn hơn trước cổng bệnh viên, người vội vã bỏ chút gì vào bụng kẻ thì trầm ngâm chỉ biết ngồi đó cầu nguyện mãi chẳng thấy thời gian trôi đi. Cũng không đâu lại có nhiều hĩ nộ ái ố đến vậy, tiếng cười hòa vào dòng nước mắt, mong ngóng lướt qua trước mặt tuyệt vọng chỉ trong một cái chớp mắt, đứa trẻ chưa kịp khóc một tiếng thì phải đưa tiễn một con người qua đời.
Sao Ly cũng mệt mỏi khi nhìn những cảnh đó, ngán ngẩm khi nghe bác sĩ y tá kháo nhau hôm nay được bao nhiêu tiền, cô luôn nghĩ họ phải mong sao mình được ít tiền đi mới phải, vì càng ít thì thiên hạ đang tự lo được cho mình. Dù mệt mỏi như vậy suốt bao năm qua, cô vẫn đứng đợi trước cổng bệnh viện với những hy vọng dần không rõ hình hài, cô cũng là một con người bình thường mà thôi. Cô đợi mẹ cô quạy lại đón cô cũng ngót 10 năm rồi, kể từ khi bà bỗng nhiên một đi không trở lại, thứ duy nhất để họ nhận ra nhau nếu có gặp lại lúc này cũng rách tươm phai màu hết cả. Mẹ cô cười rồi nói: “Sao Ly ở đây đợi mẹ, rồi mẹ sẽ quay lại tìm con”, bà đeo cho cô khăn choàng cổ nhỏ đủ màu rồi bỏ cô lại với sự đơn sắc của nỗi buồn cô độc. Ngày đó cô gào khóc khi bà ngoại, người thân duy nhất của cô còn lại, và những kẻ xung quanh lôi cô đi về nhà, cô không hiểu mình sai ở đâu trong khi chỉ muốn đợi mẹ về.
– “Vẫn món cũ hả Sao Ly ?” – Người đàn bà bán xôi trước cổng bệnh viện hỏi cô.
– “Dạ, cho con gói xôi tùm lum vô bánh tiêu” – Cô trả lời vậy chắc cũng đã vài trăm lần rồi.
Đó là món ăn cuối cùng mẹ mua cho cô, cũng là lý do để cô thuyết phục người khác và chính mình rằng mẹ không bỏ rơi cô, mà chỉ đi lạc ở đâu đó, “Mẹ con đâu có bỏ con đói”. Mấy ngày đầu khi mẹ cô biến mất, bất chấp người ta có nói gì, lý do ra sao, cô vẫn tự mình đi bộ đến cổng bệnh viện đợi mẹ vào mỗi buổi chiều tan học. Ngoại cô từ thương cảm, chuyển sang giận dữ, rồi dần chấp nhận cùng cô đi đợi mẹ. Người trước cổng bệnh viên dần biết chuyện, dù họ không ai nói ra nhưng trông nom cô như người nhà, cho kẹo bánh rồi cứu cô vài lần với mấy kẻ bắt cóc lừa đảo. Người đến kẻ đi riêng cô thì còn đứng đó, bà bán xôi luôn kể cho người mới đến bán hàng quanh đó về cô, nên lúc nào cô cũng có dì bảy anh tư coi chừng chăm sóc cô. Khi cô còn nhỏ, vài người cũng tìm cách khuyên răng giải thích, dần thì sự kiên định và lòng trung thành của họ với lý lẽ của bản thân họ không sao đánh gục được niềm tin và hy vọng của Sao Ly, nên họ đành chấp nhận làm người bảo hộ thay vì đấng cứu thế như họ mong đợi ở chính mình. Cứ vậy mà cô lớn lên cạnh bà ngoại và những người họ hàng trước cổng bệnh viện.
Một ngày làm việc của Sao Ly luôn nhiều màu sắc, cô làm trong một tiệm hoa cách nhà không xa, nhưng chủ yếu cô chọn nó vì gần bệnh viện. Ngoài quyết định nơi làm việc là hoàn toàn dễ hiểu ra, mọi thứ trong đời cô đều đi theo trực giác của mình, thứ duy trì hy vọng một ngày mẹ cô sẽ quay về. Khi mới vào làm, cũng như bao nhiêu nhân viên khác, người chủ nắm tay chỉ việc rồi cứ thể cô làm theo. Tuy nhiên, trì nhớ cô có chút kỳ lạ, Sao Ly chỉ nhở mùi hương màu sắc và bề mặt thứ cô tri nhận trực tiếp mà không nhớ được hình hài hay ngôn từ về chúng. Cô làm việc chăm chỉ, cẩn thận, khi cần cũng rất nhanh nhẹn nhưng trí nhớ kỳ lạ ấy hồi đầu khiến chủ tiệm đôi lúc gặp rắc rồi khi mới nhận cô. Dù vậy, ông ta kiên nhẫn với cô vì ba ngoại cô là người chuyên đi thu thập những thứ hay ho và mang về giúp ích nhiều cho sự luôn đổi mới của bó hoa họ làm ra. Lúc đầu ông có hướng dẫn Sao Ly bằng tài liệu rồi quy trình nhưng mỗi khi làm theo, cô lại cảm thấy không tiếp tục được khi một trường hợp mà trực giác cô lên tiếng bảo với cô chuyện gì đó chưa ổn. Những lúc như vậy cô cứ thế đứng im không nhúc nhích không sao chuyển qua việc kế tiếp. Thậm chí, có lần chỉ vì một nhánh đinh lăng tròn theo đơn đặt hàng phải kẹp vào cùng những hoa hướng dương, trực giác cô lên tiếng và cô chẳng còn làm gì cho những bó hoa khách đặt khác. Cả ngày hôm ấy cô làm cái gì một lát cô lại quay lại chỗ cũ để đứng nhìn bó hoa có gì đó sai lệch kia rồi cứ thế im lặng bỏ lỡ mọi thứ còn lại. “Em chỉ đợi xem khi nào mọi thứ sẽ khác đi”, cô trả lời như vậy với nghệ nhân cắm hoa duy nhất của tiệm hoa Chong Chóng
Du là người học hành bài bản về cắm hoa, anh có vài năm ở Nhật để thực hành Ikebana, chưa đến mức trình diễn nhưng so với ở một thành phố nhỏ thì đó là cả một thành tựu. Ít khi thấy Du ở tiệm, anh ta được ông chủ tiệm coi như kho báu vì cái mác đi học bên nước ngoài về, và cũng vì họ là một đôi. Công việc chủ yếu của anh là rèn luyện cho những nhân viên khác sao cho họ có thể tự thực hiện các đơn hàng yêu cầu thấp, còn những người đến vì cái danh của anh ta thì phải đợi hoặc đặt hàng trước. Chẳng phải anh ta làm giá mà anh thích đi khắp nơi để nhặt nhạnh một số thứ về phục vụ cho tác phẩm của mình, “anh thích mấy cái xác chết trong tự nhiên vì nhìn chúng là cả một câu chuyện khi sự sống còn đó” anh ta kể cho Sao Ly như vậy khi hai người cùng ngồi làm một tác phẩm. Những lúc như vậy, cô không cần làm gì cả, chỉ cần nhìn ngửi sờ và trực giác của mình rồi báo cho anh ta biết chỗ nào chưa thỏa mãn năng lực nội tại này của cô thì nói anh ta biết phải làm thế nào. Thật ra, Du nói mình chỉ giỏi suy nghĩ, học và làm theo những gì được dạy, còn cái tri nhận của người nghệ sĩ ấy anh ta tuyệt nhiên không có. Cái hôm Du phát hiện ra năng lực của Sao Ly và trở thành một đôi làm việc như hiện tại cũng là một ngày đặc biệt, bận rộn điên rồ đến mức năng lực lý trí của anh cạn khô như mấy thứ anh hay thu thập.
Đó là một ngày cuối năm, ông chủ tiệm nhận hai đơn hàng cắm hoa cho đám cưới cùng một ngày và phải do chính Du thực hiện. Họ đã cự cãi nhau suốt một tuần vì Du bảo như vậy là tham lam không thể đạt mức tuyệt đối, còn lão người tình cũng là chủ tiệm thì lại bảo cũng chẳng ai nhìn ra cái mức ấy nên cứ phân bổ theo quy luật 80/20 gì đó là được, không khí ở Chong Chóng ngày giao hàng quay đến chóng mặt. Vì giá trị kinh tế cao, họ không bán hàng lẻ ngày hôm đó mà dọn hẳn một không gian rộng cho việc cắm tác phẩm cho hai đám cưới. Du vẽ phác thảo, lên danh sách hoa và vật liệu trước đó một tuần, ngày hôm đó mọi thứ đều có sẵn hết cả chỉ đợi mọi thứ triển khai.
Anh ta đặt các bản vẽ khắp nơi trong phòng, chèn lên giấy là các lọ cắm, vật liệu được Sao Ly và vài người giúp việc khác chuẩn bị đủ trước đó chỉ cần đi sau Du rồi thực hiện theo yêu cầu anh ta. Hồi đầu anh ta sử dụng những vật liệu cứng có thể định dáng cho toàn bộ tác phẩm, từng cái một được thiết lập chính xác như trong phác thảo và tính toán trong giấy trước đó. Tiếp theo anh ta men theo dáng hình của khung trước đó, thêm vào những loại hoa chính cho mỗi tác phẩm, mọi thứ lúc này vẫn còn rất trơn tru và như dự tính. Thế nhưng, Sao Ly nhìn ra điều gì đó, dù trực giác chưa lên tiếng rõ ràng nhưng cô bắt đầu thấy những vệt màu bì nhòe đi của những bông hoa, cô không thể nói ra hay làm gì ngoài sự bứt rức. Ngoại cô và chủ tiệm nhiều lần dặn mỗi khi thấy như vậy cứ ngồi im xuống mà không làm gì cả. Sau cùng, Du cũng đến bước hoàn thiện, thứ mà người bình thường sẽ coi là chẳng quan trọng, đó là thêm vào những thứ rất nhỏ để hoàn thiện tác phẩm.
Những viên đá, hoa khô, một các xác con bướm đêm hay một lớp da của con rắn vừa lột xác, thứ Du mang về sau những chuyến đi đang nằm trên tay Sao Ly. Cô đi theo anh ta để khi nào cần giúp gì thì Du sẽ lên tiếng, chỉ là vịn vài chỗ hay đưa vật liệu khi nó không ở gần đó. Ở bước này hầu như không có trong phác thảo, thường thì anh ta tốn thời gian rất lâu cho một tác phẩm, anh ta cũng thừa nhận mình có sự hạn chế khi đối diện những thứ không tính trước, nhưng nếu không làm Du lại cảm thấy thiếu sót một thứ gì đó không sao chịu được. Bình thường, anh ta chỉ phải làm một vài sản phẩm và ít khi chạy theo thời gian hạn chế, những người đặt hàng vì cái danh và phần nào đó là năng lực đã được kiểm chứng bằng vài tờ giấy chứng nhận mà bản thân họ cũng không quan tâm nó đến như thế nào, họ đợi trong niềm vui rằng chắc chắn mình sẽ nhận được một thứ tuyệt vời. Trước mắt Du bây giờ là vài chục thứ không tính trước mang tính ngẫu tác mà anh ta tự đặt ra cho mình, bị kẹp vào lòng tham không đáy của lão chủ quán, anh ta như bị kẹt giữa một hẽm núi đá đầy gai nhọn. Muốn thoát ra anh ta phải chuyển động, nhân thức chuyển dịch như thể bị hàng ngàn mũi đá sắt vào trong lòng tự tôn của nghệ sĩ hoặc nỗi sợ hòa nhập để được chấp nhận của đám đông. Một cái, hay cái, ba cái, đến cái thứ tư mọi thứ nhòe đi trước mắt. Thời gian thì không bao giờ cho phép người nghệ sĩ và kẻ vứt bỏ cái đẹp hòa thuận trở lại, thời gian cũng sinh ra ảo tưởng anh ta phải lựa chọn một trong hai, nhưng sự thật thì luôn đơn giản hơn nhiều.
Du sắp bỏ cuộc, đặt con bướm chết lên tác phẩm thứ sáu mà mồ hồi bên ngoài và hơi nóng bên trong nhận thức muốn thiêu đốt anh ta, con bướm vừa chui ra khỏi kén đã chết cháy bởi sự tranh đấu không gì dập tắt được của nội tại không ngủ yên của con người. Bỗng nhiên, “Méooo!!!” còn mèo mướp trong cửa tiệm nhảy vào chụp lấy xác con bướm chết, thường ngày nó cũng vờn bọn bướm nhỏ như thế. Chú bướm lại chết thêm lần nữa mà lần này thì mọi thứ còn tệ hơn chính sinh mạng của nó, cái chết của vẻ điềm đạm hằng ngày của Du. Thứ sống lại là cơn giận dữ, phẫn nộ và những sự gào thét loạn xạ. Anh ta chửi rủa chủ tiệm, đòi giết con mèo cho bằng được, mọi thứ đổ sụp chỉ vì một sự tranh đấu vô hình của một con người bị dồn nén trong mâu thuẫn triền miên chưa được nhìn thấu. Thật tệ khi ai đó chưa đợi đủ lâu để lên đường, họ vội vã, ngỡ như mình nắm bắt được ước mong sâu kín, để rồi con đường quật ngã họ không sao quay lại nơi xuất phát mà bắt đầu lại. Thời gian cuốn trôi tất cả.
Nhưng Sao Ly đợi mẹ cô cả đời và biết giá trị của việc ấy, cô cũng đợi cho trực giác của mình lên tiếng trước khi con mèo lên tiếng thay cô. Cô đứng đó nãy giờ, nhìn thấy tất cả, nhớ tất cả, chỉ thông qua sự lòe nhòe vô dạng của màu sắc, cô đột nhiên biết phải làm gì thế thôi. Khi mọi người đứng lùi lại vì chằng ai lại muốn nhận lấy miểng bom đạn từ Du, Sao Ly đi đến nâng xác con bướm chết lên, có một ít máu của Du đứt tay rơi trên đó. Cô mang nó đến chậu hoa được đánh số 12 rồi kẹp nó lên một nhành cây khô màu trắng bám một ít địa y xạm màu trên đó, tất cả im lặng, sau vài câu chửi lỡ trớn trong hỗn loạn thì Du cũng chỉ còn nhìn. Cô đặt miếng da rắn lột xác quanh tảng đá đầu rêu trông như mụ Medusa đang ngồi nhìn và hóa đá những người đang châm chú nhìn cô. Sao Ly đi quanh tiệm lấy những thứ tưởng như vứt đi như vỏ cây mọi người lột ra cho thân cây trắng sạch, những miếng thân cây được dạt ra, và cả mấy bông hoa khô héo từ ngày hôm trước. Cô không hề đi tìm trong lục lọi, cô nhớ chính xác chúng ở đâu, màu sắc và mùi hương cũng như sự xù xì sương gió dẫn cô đi một cách dứt khoác mà vô cùng tự nhiên. Từng chiếc bình hoa dần hòan thiện, mang trong mình những câu chuyện khác nhau.
– “Sao em làm được vậy, em tự học à, hay em học lõm từ anh” – Du lắc mạnh hai vai cô gái nhỏ làm cô đôi chút hoảng sợ.
– “Không, em tự nhiên biết vậy thôi” – Cô dè dặt gãi đầu rồi trả lời.
Từ ngày hôm đó, Sao Ly không còn phải làm mấy công việc khiến cô phải ghi nhớ nhiều nữa, cô phu giúp Du khi cần thiết. Lão chủ tiệm giao thêm nhiệm vụ sắp xếp mấy loài hoa và vật liệu cắm hoa để khi mọi người cần tìm gì thì hỏi cô, cô không phân loại theo tiêu chí thông thương mà đơn giản là cô cứ để sao cho vừa mắt rồi cứ thế nhớ chúng ở đâu. Từ đó cô được gọi là “Sao Ly mãi tìm”.
Năng lực này của cô không hề bẩm sinh mà cũng chẳng hề luyện tập, nó đến tự nhiên đúng với nghĩa phổ quát của từ này, nó cứ thế bất chất xuất hiện. Ngoại cô, một nhà côn trùng học bình thường không có nhiều nổi bật trong con đường học thuật, bà chẳng có mấy nghiên cứu phân tích theo kiểu lý luận, bà tự gọi mình là người thu thập và mô tả. Bà đi khắp nơi tìm kiếm những sinh vật nhỏ bé, bà bảo có sự đồng cảm sâu sắc với chính bản thân, với xuất sứ thấp kém của mình. Bà bị bỏ rơi trong một ngôi chùa từ nhỏ, được cá sư nuôi dạy và xuất gia ở đó. Bản tính hiếu động tò mò, lại được ở trong một ngôi chùa nằm ngoài bìa rừng nên từ nhỏ bà làm quen với côn trùng như một lẽ tự nhiên. Cuộc sống khi bé của bà không thể gọi là giống bao đứa trẻ khác, nhưng cũng không có quá nhiều đặc biệt. Bà được các sư và làng xóm nuôi dạy theo đúng nghĩa đen, khu vực đó cũng là nơi hẽo lánh nên tu hành hay không thì mọi người cũng như hàng xóm, người nhà của nhau. Bà khám phá mọi ngóc ngách, đi cùng những người lớn làm rẫy trong rừng và được các vị tăng ni ở chùa và mấy am tự nhỏ sâu trong rừng dạy dỗ. “Côn trùng khiến ta chờ đợi để nghe và nhìn kỹ hơn mới có thể hiểu chúng” bà kể đó là lời mà một người xuất hiện thay đổi cuộc đời mình một ngày mùa hè oi ả.
Khi ấy bà còn nhỏ khoảng 7-8 tuổi, không được đi học nhưng biết chữ do mọi người xung quanh dạy dỗ. Bản tính lanh lợi nên sau khi phụ giúp quét dọn khuôn viên chùa, bà long nhong khắp nơi, ai gọi vào phụ việc thì làm giúp rồi được cho ăn, có người cho bút viết sách vở, mấy bạn cùng trang lứa thì dạy chữ cho bà mỗi khi họ gặp nhau. Sáng hôm đó, một người quần áo phong trần vác cái ba lô to và nhiều đồ lỉnh kỉnh vào bái Phật đánh lễ với các sư thầy. Ông là một thực tập sinh thạc sĩ sinh vật học đi nghiên cứu về côn trùng trong rừng gần đó, là người có thôi thúc Phật học nên xin được tá túc tại chùa mỗi khi quay về sau mỗi chuyến đi, ông cũng có tâm nguyện được nghe giảng và đọc kinh sách.
Một ngày mùa hè nóng bức, cả đám con nít quanh làng không đi học mà đến chùa hóng mát dưới tán cây và đá bóng. Người đán ông nghiên cứu côn trùng vừa ăn cà rem vừa đọc quyển ghi chép của mình dưới gốc cây cổ thụ giữa chùa. Lúc ấy bà làm thủ môn cho đội bóng phe mình, tiền đạo đối phương có một “pha bắn chim” bay thẳng về phia dưới ghế đá chỗ người đàn ông đang quay lưng về phia đám con nít. Bà rón rén đi chậm rãi đến nhặt quả bóng, tính tò mò của bà thôi thúc bà nhìn vào quyển sổ ghi chép, khoảnh khắc ấy thật sự thay đổi cuộc đời bà.
– “Cha gi đô tê la sê pun ta ta” – Bà đọc rị mọ dòng chữ bên dưới hình một chú bọ rùa.
– “Là Charidotella sexpunctata” – Người đàn ông vừa ăn kem vừa đọc dòng chữ ấy bằng tiếng Anh chính xác hơn. Ông ta bất giác nhận ra nên quay lại rồi chào bà với vẻ bối rối hỏi: “Tụi con ăn kem hông?”.
– “Phân bố ở Bắc Mỹ, đó là đâu ?” – Bà ném trái bóng lại cho đám bạn, rồi ngồi xuống bên cạnh người đàn ông kỳ lạ,còn ông ta thì dốc hết tiền lẻ để đám con nít kia đi mua cà rem.
– “À vì dụ đây là trái đất, mình đang ở đây, còn bọn nhỏ xíu này ở đây” – Người đàn ông chạy lại nhặt trái bóng đám trẻ con đi mua cà rem bỏ lại, ông ta chỉ trên quả bóng rồi giải thích.
– “Gần vậy sao ?” – Bà mắt tròn xoe hỏi.
– “À không trái đất mình to hơn trái banh rất rất nhiều” – Người đàn ông vừa nói vừa dang tay.
– “Con thấy bọn này chỗ sau vườn ổi nhà ông Tư đằng kia cũng có mà” – Bà nói rồi chỉ tay.
– “Vậy sao, có hả, chỗ nào con chỉ đi ?!” – Người đàn ông lập bập háo hức vứt cây cà rem còn một ít xuống đất hỏi dồn.
– “Đi theo con, gần đây hà” – Bà đứng dậy cầm luôn quyển số ghi chép dẫn người đàn ông kia đi tìm kho báu sống của hai người.
Kể từ ngày hôm ấy, họ trở nên thân thiết trong gần hai năm người đàn ông đó làm việc quanh khu rừng ngôi chùa tọa lạc. Để rồi bà được ông xin phép nhà chùa nhận nuôi và hoàn tục để theo ông về thành phố sinh sống và học tập. Bà cứ thế rèn luyện, khai mở thể giới của mình nhờ sự dẫn lối của những sinh vật bé nhỏ, từng bước từng bước một. Bà như chú chim với đôi cánh rộng được thả ra khỏi lồng, dang đôi cánh thả sức tung hoành bên người cha nuôi và đám côn trùng chăm chỉ. Chẳng bao nhiêu người đủ kiên nhẫn mở to mắt trong vùng đất tí hon ấy, cộng thêm khát vọng cùng tính tò mò về những vùng đất khác, loài vật khác, bà dễ dàng có xuất đi du học.
Chân trời mới nhưng bản tính vẫn được duy trì, bà được giảng viên, các nhà nghiên cứu đánh giá cao, đặc biệt là khả năng dấn thân vào thực địa và mô tả chi tiết bằng hình vẽ. Thế nhưng, khi muốn tốt nghiệp thì viết luận lại là một vấn đề lớn với bà, bà được đi du học là vì năng lực đặc biệt và khan hiếm tài năng trong lĩnh vực của mình, đi ra biển cả lại là câu chuyện khác. Bà thật sự gặp rắc rối không chỉ có vậy, vài kẻ còn lợi dụng nguồn dữ liệu và năng lực của bà để cướp công khai phá. Một mình trên đất khách quê người trong thời kỳ và hoàn cảnh mà đất nước bà chưa có sức nặng trong ánh mắt kẻ khác, bà không khác gì còn kiến lạc đàn không làm gì được với dù chỉ một con voi đơn độc. Bà thật sự có giai đoạn suy sụp sau chuỗi ngày được ban phúc, đúng lúc ấy người ban phúc cho bà cũng rời bỏ bà mà đi. Cha nuôi bà trong một chuyến đi thực địa ở vùng núi đã bị lũ thượng nguồn xả đập cuốn mất xác, mọi thứ như có hai tảng đá to đè lên người bà cùng một lúc vậy.
Nhưng người đàn ông kia lại một lần nữa cứu bà, kể cả sau khi chết. Với sự cẩn thận và thói quen thu xếp trật tự mọi thứ của một nhà thu thập, cha nuôi cô hiểu rõ tính chất nguy hiểm của một kẻ luôn đi đến nơi rừng thiêng nước độc. Sau khi cô đi du học, ông không còn vướng bận nào ở quê nhà nên tham gia một dự án lớn của chính phủ, cùng một số người bạn tạo kho dữ liệu côn trùng cho thư viên online quốc gia. Những chuyến đi dài ngày đối đầu với sự hỗn mang của tự nhiên, ông không khỏi có những trăn trở. Ông lo cho tính mạng mình một thì nghĩ về đứa con gái ông hết mức yêu thương như một tâm hồn đồng điệu, người bạn tri âm với chính ông suốt những năm qua. Ông cẩn trọng để lại di chúc toàn bộ những gì ông có cho cô cùng vài dòng ngắn ngủi, đúng như cái kiểu nói cụt ngủn đôi lúc có phần ngớ ngẩn dị hợm của ông khi trẻ.
“Mùa mưa mới đến, mấy tảng đá ít rêu mà trơn thế này rồi, cha lo lắm nhưng bọn bọ thì con biết rồi, trốn chui trốn nhũi phải theo tụi nó chứ tụi nó nào đi theo mình. Kể ra giờ cha không biết tự nhiên có cho phép mình nghiên cứu chúng không ? Hãy giữ đám xác chết dưới tầng hầm cẩn thận nếu có quay về nhà, cứ dùng tiền đi khắp đất nước nếu cần, cho đám Tây đám Tàu gì đó biết người mình mới biết chính xác về bọ của mình, tụi nó chỉ giỏi ngụy trang như lũ bọ Charidotella sexpunctata con nhớ không ? Côn trùng làm việc rất kỹ luật và nhẫn nại, muốn theo chúng cả đời con cũng phải trở thành như chúng. Dù cho có phải ngồi mòn đá cũng phải đợi và tin, chúng sẽ xuất hiện thôi. Mà này, nếu cha chết ước gì bọn Nicrophorus americana sẽ giúp tiễn cha một đoạn. Thật buồn, tìm mãi chẳng thấy họ hàng chúng ở quê mình. Mong một ngày con tìm được chúng. “
Sao Ly thừa hưởng cái tính tưng tửng của ông cố “nuôi” của mình còn mọi thứ thì một chút giống ngoại một chút giống mẹ. Có lần đang ngồi phụ giúp Du để cùng làm một chậu hoa cho đôi tình nhân trong ngày Valentine, lúc ấy anh ta dùng thanh trúc để làm khung hình trái tim cho bình hoa, cô thật sự đã nhìn rất lâu rồi hỏi.
– “Tại sao người ta cứ dùng cái hình này cho ngày lễ tình yêu vậy chứ” – Cô nói bằng giọng mệt mỏi vì cả tuần phải nhìn thấy cái hình trái tim trong dịp lễ.
– “Người ta biểu tượng rồi hỏi gì nữa cô nương ơi, bớt lơ mơ dùm đi, cô mà đứng hình cái tui hết hồn muốn xỉu nữa giờ đó” – Du vỗ vào vai đẩy cô nằm lăn ra sàn, cô dũi thân dài ra rồi nằm thở dài nhắm mắt lại.
– “Em thì thấy nó giống hai con chuồn chuồn giao phối, kiểu như khi yêu chắc đứa nào cũng nghĩ đến tình dục vậy rồi ám ảnh cả cái nhân loại này chấp nhận như một chuyện đương nhiên. Người ta có yêu nhau mà không cần chuyện của bọn chuồn chuồn không anh ?” – Cô nói với cái giọng mà ngoại cô hay bảo “cà nhựa cà nhựa thấy phát bực giống ông cố mày”.
– “Trời đất cơi, dù tao chứng kiến mày tủn tủn suốt một thời gian dài rồi mà mày vẫn còn làm anh sốc nè Sao Ly, cái suy nghĩ đâu ra vậy. À mà vụ chuồn chuồn là thiệc hả mạy, nó mần nhau sau chỉ tao dí coi” – Du lôi cô dậy rồi thì thầm như hai chị em dạy nhau chuyện phòng the.
– “Ngoại em kể, ngoại là nhà côn trùng học, em hay đi thu thập cùng ngoại lúc còn nhỏ. Thiệc đó, em tận mắt chứng kiến gần mép nước bờ ao luôn mà” – Cô háo hức lắm khi kể về ngoại.
– “Thu thập côn trùng là sao ? Nghe hay vậy ?” – Du buông nhánh hoa đang định cắm xuống.
– “Quan sát, vẽ lại, mô tả những gì chứng kiến. Đôi lúc bắt vài bé về ướp xác. Nói bé tại nó nhỏ thôi chớ già rồi mới tóm được tụi nó. Mà hồi xưa thôi, giờ ngoại em mang về nuôi khi nào chết mới giữ xác tụi nó lại” – Sao Ly gỡ một nhánh hoa trên tóc Du xuống.
– “Chà nghe hay quá, làm nhớ hồi nhỏ ở quê đám con nít bắt đủ thứ về nuôi. Hôm nào anh lại nhà thăm bộ sưu tập ngoại em được không ?” – Du ngồi xếp bằng nghĩ ngợi.
– “Anh thì chắc được, nhìn anh linh hoạt, chứ lóng ngóng đi vô nhà em loay hoay một hồi đổ bể hết đồ trong nhà chắc ngoại dí chạy xanh xương. Vô nhà em nó ý chang con bò Ferdinand đi vô tiệm gốm vậy đó, không khéo là mệt lắm” – Cô dứt lời nhìn Du có vẻ vui ra mặt cưới hớn hở trong khi hoàn thành sản phẩm cho đôi tình nhân.
– “Mà anh Du nè, hồi nãy em nói thiệc đó. Ví dụ anh với ông chủ yêu nhau hổng lẽ tối ngày nghĩ tới chuyện chuồn chuồn không hả” – Sao Ly lấy hai ngón tay trỏ chỉ chỉ vào nhau rồi cười nhếch mép nhín Du.
Du một chút ngại một chút bực đứng dậy vò đầu Sao Ly xù lên rối nùi hết cả. Cô vụt dậy cầm cái túi xách bay cao qua đầu cái chậu hoa mém vướng trái tim bằng trúc hét to: “Thôi xong rồi em về đây”. Bản tính điên rồ không kém, Du không buông tha cho cô, bỏ lại hết tất cả chỉ nhét đúng cái ví vào túi rược theo cô. Thật ra kể tự khi làm việc cùng Sao Ly, anh để ý cứ đôi lúc cô lại đúng 16h35’ là vội vàng chạy đi đâu đó chẳng rõ lý do, cô cứ vụt chạy nhanh mà không có một dấu hiệu gì cả. Không ai ở tiệm biết chuyện gì về cô, dù cô hơi cà tưng, nói chuyện vui vẻ với mọi người, nhưng cô luôn có những phút ra ngoài cái võng treo dưới gốc cây tiệm vé số kế bên nằm một mình. Những lúc như vậy cô như lạc mất vào mây trời, nhìn ngám chúng, nghe câu chuyện nào đó xem chúng có thấy điều gì trên hành trình đi qua không. Cô cũng hay nằm lên chân ông già mù bán vé số rồi ngủ thiếp đi trong khi ông ấy hát ca cổ, chưa bao giờ thấy hai người họ nói chuyện với nhau, chỉ là mỗi chiều những ngày không vội cô đều tặng ông ta một bông hoa vụn vứt đi của Chong Chóng. Du từ lâu không hứng thú với đàn bà nhưng sao cô gái này càng ngày càng thu hút hắn ta đến vậy, có thứ gì đó làm anh ta lúc ấy cứ đứng lên rược theo với cái cớ mình bị chọc ghẹo, cứ thể vụt nhanh như cái ngày anh ta bỏ nhà ra đi.
Sao Ly chạy nhanh như một con ruồi trâu Tabanidae làm Du phải bắt taxi đuổi theo, họ vọng qua một cái hồ lớn của thành phố và dừng lại. Du đi len lén theo sau để không bị phát hiện, anh ta thấy cô ngồi xuống ghế đá trước cổng bệnh viện, xong cô lấy cái khăn choàng ra đeo vào cổ trông ngóng ai đó. Hồi đầu anh ta nghĩ cô bị bệnh nan y nên đến bệnh viện khám dấu mọi người, rồi đến đoán cô có bầu mà không dám nói ra, và “Hổng lẽ hẹn hò online nên nó đeo khăn lên làm hiệu”. Sau một hồi suy luận đều thấy không phải “Nhìn nó hồng hào khỏe như trâu mà bệnh tật gì, tủn tủn như nó cũng hông thể có bồ, có bầu thì chắc nó không bình thản được thế này”, nghĩ vậy nên anh ta quyết định đi qua công bên ngược lại vòng ra sau hàng rao trong bệnh viện thám thính. Cuối cùng anh ta nghe cuộc trò chuyện lặp đi lặp lại giữa Sao Ly và bà bán xôi 10 năm qua.
Cô ra về mà không có chuyện gì đặc biệt tiếp theo xảy ra, Du thấy chỉ còn manh mối duy nhất là bà bán xôi trước cổng bệnh viện. Hồi đầu bà có vẻ dè dặt, vì thật lòng bà cũng thương Sao Ly cả vì hoàn cảnh của cô lẫn sự thân thuộc một cách tự nhiên mà cuộc đời cắt ngang nhau suốt thời gian qua, bà lo cho cô như một đứa cháu chỉ lâu lâu gặp một lần. Sau một lúc Du thành thật giải bày câu chuyện thật về sự tò mò của mình và mua hai gói xôi, bà ta kể cho anh ta nghe câu chuyện về Sao Ly mà bà biết.