– “Sao không ăn ở nhà mà trốn vợ lại đây vậy đầu bếp ?” – Ông chủ quán hủ tiếu nhỏ trong con hẽm đoản hậu hỏi người đàn ông đang ngồi ăn trong tiệm mình.
– “Chỗ tôi xây nhà hết rồi không còn cây ông ơi, lại đây nghe ve kêu, hè rồi” – Người đàn ông cắn trái ớt xiêm, hít hà một cái rồi cười nhìn lên cây xoài với tiếng ve vang rền con hẽm.
Đó có lẽ là niềm vui hiếm hoi những năm gần đây của ông ta, người thực khách ấy là Tín, chủ một quán nhậu đêm cách đó không xa, ông cùng vợ mình cùng nhau mở quán cũng đã hơn 10 năm. Cứ mỗi khi hè về, ông lại đi rão xung quanh vào buổi sáng, tiện đường đi mua thực phẩm thì ghé vào ăn sáng chỗ nào có tiếng ve kêu. Lựa chọn của ông ngày một thưa dần khi những căn nhà mọc lên kín mít khắp nơi, ông chẳng hiểu gì về phát triển hay nhân loại, chỉ buồn nao lòng khi không được nghe bọn ve sầu thoát xác hát mừng sự đổi mới của mình, “Chẳng còn ai muốn thoát xác như ve nữa rồi” vợ ông nói như vậy khi nghe ông than vãn.
Buổi sáng của ông bắt đầu bằng việc đến vựa hải sản lớn nhất ở trung tâm trên con xe cub cũ, nó là cả một kỷ niệm của cha mẹ ông, được tu sửa thường xuyên nên còn tinh tươm khỏe khoắn lắm. Bản tính cẩn thận, ông tự mình lựa từng con tôm cá và các loại hải sản khác, thực đơn của quán vợ chồng ông không cố định, cứ ông mua được gì bản thân ưng ý thì thực khách sẽ được thưởng thức sự tươi ngon của chúng. Chỗ kế tiếp là ông ghé lò mổ để lựa thịt và nội tạng, thường ông chỉ lựa một ít sườn non, tim với cật heo, còn thịt bò thì người ta thái sẵn cho ông cứ ghé qua rồi lấy cùng một ít gân và một cái bắp bò. Khi lượng đạm đầy đủ, ông ghé qua chợ truyền thống, tạt vô mấy người nhà vườn chỉ có một ít bưng ra bán để lựa rau củ quả, họ không có nhiều nhưng luôn thay đổi không ngừng, nó tạo cho ông cảm giác mới mẻ, ông cần điều đó ở cái tuổi trung niên này. Cuối cùng, thì ông ghé vào ăn sáng rồi uống ly café pha sẵn ở nhà mang đi, ông không uống được mấy loại pha máy, chúng làm ông thấy cồn cào và kích động nhiều hơn tỉnh táo. Đôi lúc ông chưa về nhà vội, có một nơi ông thích ghé qua, cũng là nơi vợ chồng ông đính hôn ở đó, một khu vườn rau rừng nhỏ kỳ lạ.
Thuận tự nhiên hay vườn rừng không còn xa lạ với hầu hết mọi người, mà thật ra ngày xưa ông bà cha mẹ ông cũng sống và ăn những thứ như vậy chỉ là không mắc một cách kỳ quặc như bây giờ mà thôi. Khu vườn này thì khác, hầu như nếu bạn được người chủ vườn đồng ý cho bước vào thì bạn muốn trả bao nhiều cũng được. Chính vì vậy mà bước được chấp nhận mới là quan trọng nhất, người chủ từng nói với ông: “Người ta quên rằng người ta có quyền không bán cho anh dù anh trả bao nhiêu đi nữa”. Khu vườn trồng đủ loại cây rừng ăn lá như bứa chua, chòi mòi, rau dớn, lá cóc, lá giang và đủ loại khác. Khách đi vào chỉ cần gọi điện nhá máy ghi trên cổng rào thì cửa sẽ tự động mở nếu quen biết chủ vườn từ trước, còn không người lạ phải gọi và họa may mới gặp ông ta bước ra. Chẳng giao tiếp cũng không thăm hỏi hay trả giá, người đến cứ hái rau rồi bỏ tiền vào hòm và ra về. Vài vị khách quen cứ nghĩ lão chủ vườn không quan tâm, nhưng cứ thử mạnh tay, ồn ào hay gian manh xảo trá một chút mà xem, sẽ chẳng có lần sau mà cánh cửa kia mở.
Vợ chồng ông cũng gặp nhau từ cơ duyên trong khu vườn này, lúc ấy lão chủ vườn chỉ lốn hơn họ vài tuổi nên còn dễ tính, nhiều năm trôi đi sống đơn thân độc mã cũng làm ông ta thay tính đổi nết chắc cũng là chuyện thường tình. Ngày đó, vợ ông quản lý bếp ăn cho một trường mẫu giáo, bà cực kỳ quan tâm đến dinh dưỡng cũng như an toàn thực phẩm cho trẻ em. Bà được một người bạn giới thiệu về khu vườn nên tìm cách đến trò chuyện và được người chủ chấp nhận bán cho trường học. Trễ hơn một chút, Tín đi tìm ngãi cứu để bồi dưỡng sức khỏe cho người mẹ đang suy nhược, loại này thường được sử dụng ở ngoài Bắc, còn nơi ông ở tìm mãi không thấy. Một dịp đạp xe đi ngang, nhìn thấy một cô gái tóc ngắn xinh đẹp đang lúi cúi hái lá lốt và mấy hoa cúc chi rũ. Hồi đầu ông nhầm cây cúc với ngãi cứu vì chúng cũng cùng họ nên mạo mụi vào hỏi, cô gái biết ngay anh tìm gì, còn nói vanh vạch đặc tính dược liệu của chúng và bảo rằng đằng sau vườn có trồng. Người chủ vườn cho ông luôn cây giống về trồng vì biết mục đích hồi phục cho mẹ, những lần sau ông thay thế dần một vài loại rau ở quăn ăn cũ của cha mẹ mình bằng rau ở khu vườn này luôn. Nhiều lần đền thì vài lần gặp cô gái kia mới biết họ từng chung trường hồi học cấp ba nhưng khác lớp nên không nhận ra sớm, chuyện cứ thế diễn ra rồi dần họ quen nhau, khu vườn và người đàn ông kỳ lạ đã mang họ đến với nhau như vậy.
Quán nhậu hai vợ chồng ông tên là “Ba Không – Không nêm, Không mắc, Không xỉn”. Cũng không quá khó hiểu khi nghe qua cái tên này, mọi thứ chỉ có hai món luộc và nướng y không nêm một tí gì. Tất nhiên, một số thực khách yêu cầu bỏ chút gừng xả hay tiêu ớt gì đó thì họ vẫn sẽ cho vào tạo mùi thơm, nhưng chung quy là không hề dùng gia vị tầm ướp. Bù lại, quán có rất nhiều loại đồ chấm khác nhau, từ muốt ớt, nước mắm thấm, mắm nêm, con mẻ, và đủ loại trên mọi miền đất nước mà mọi người nghe qua. Có khi họ cũng sẵn lòng làm ra các món ăn theo yêu cầu riêng dựa vào nguyên liệu, tất nhiên giá sẽ mắc hơn một chút. Ngoài ra, rau rừng, đèn dầu và âm nhạc vừa đủ nghe trong căn nhà gỗ cũ cũng là điều đặc biết khiến giữ chân thực khách. Hồi đầu người đến cũng hoài nghi vì thời đại ngày nay người ta dường như cảm thấy buồn chán, cần cái gì đó kích thích giác quan để có động lực mà sống tiếp, những món ăn không gia vị nghe thôi đã không làm họ thèm ăn. Nhưng nghịch lý cũng nằm ở chỗ đó, những người thân quen đến ăn dần cảm thấy thích thú với không gian âm nhạc, ánh sáng mờ ảo và bầu không khí xưa cũ của quán ăn nên họ dần rủ bạn bè đến cùng. Thêm nữa, đồ tươi ngon khi nướng và luộc mà ăn kèm với nước chấm phù hợp thì không hề thua kém mấy món tẩm ướp nhưng lại bỏ qua đêm, vị giác của họ được dẫn đường bởi các giác quan khác và dần thay đổi thói quen theo. Về cái không thứ hai thì càng dễ hiểu hơn, do ít công chế biến, hầu như chỉ sơ chế nguyên liệu, đốt than, nước sôi là đủ cho một ngày bán hàng. Cái khó nhất là duy trì tâm huyết giữ vững chất lượng nguyên liệu đầu vào, tạo một nơi thoải mái cho mọi người chuyện trò và cả yếu tố thứ ba đừng để ai xỉn. Mỗi người đều có hạn mức rõ ràng với 1.5l bia và 1.5 xị rượu thì quán sẽ không bán nữa để giữ sự yên tĩnh cần thiết và tránh những chuyện không hay do quá chén xảy ra. Tất nhiên nó không thể giải quyết tuyệt đối vấn đề, nhưng tinh thần đó giúp cho tiệm của hai vợ chồng họ an lành trong suốt nhiều năm qua.
Cuộc sống tưởng chừng như yên bình lành mạnh của hai vợ chồng bị một cơn sống ngầm len lỏi và bất chợt ập đến những năm trở lại đây. Bạn bè người thân ai cũng nhận ra gương mặt ngày một mệt mỏi của ông, mọi việc đang đổ lên vai Tín vì căn bệnh kỳ lạ những không khó hiểu nếu ai nhìn lại cả một chặn đường dài phía trước. Thời gian trước không lâu, sáng nào người ta cũng thấy hai vợ chồng ông cùng nhau kéo cái thùng sắt nhỏ phía sau theo, vựa này rồi lại quầy kia để lấy thực phẩm cho buổi bán đêm của họ. Giờ thì chỉ còn mình ông mỗi sáng và ly café vắt trên cổ xe, thay cho vợ làm ông tỉnh táo mỗi ngày. Vợ ông mắc chứng chán ăn Anorexia khiến đời sống tưởng như viên mãn trước đó dần đi vào bế tắc, vì nó không hẳn là một căn bệnh nên chẳng mấy ai thật sự hiểu và để ý, chỉ có ông mới nhận ra chuyện gì đó đáng sợ đang diễn ra.
Vợ ông là Thủy, một người phụ nữ theo mọi người xung quanh gọi bà có bàn tay thần dược, bà chăm sóc ai là người đỏ khỏi bệnh, mà bản tính bà lại là người luôn quan tâm chăm lo cho người khác từ khi còn nhỏ. Những năm đầu cưới nhau, họ chưa mở quán nhậu như bây giờ mà duy trì quán bò kho của ba mẹ chồng bà khởi xướng hồi trẻ. Thời gian đầu tiếp tục việc làm ở bếp ăn trường mẫu giáo và chăm sóc cha mẹ chồng bệnh nặng, còn việc ở tiệm do mình ông Tín đảm nhận. Lúc đó, mẹ chồng bà còn khỏe nên đôi lúc phụ việc cùng nên mọi việc vẫn còn suôn sẻ. Mãi đến khi sau cái chết của cha chồng mình và bệnh tiểu đường của mẹ chồng trở nặng bà bổng dưng hoàn toàn thay đổi.
Mọi thứ bà học được từ công việc điều dưỡng và dinh dưỡng gần như chẳng giúp ích gì, bà trở nên hoài nghi tất cả thực phẩm mình ăn vào, càng tìm hiểu kỹ thì sự hỗn loạn trong người bà lại tăng lên. “Tại sao mình làm đúng mọi thứ mà cha mẹ vẫn chẳng có gì thuyên giảm”, nhưng lời tung hô của mọi người giờ lại trở thành gánh nặng hoài nghi lên chính bản thân bà. Ngoài ra, dù cưới nhau đã 5 năm nhưng họ chưa có một mụn con nào, bà bắt đầu sinh ra đổ lỗi cho mình làm gì đó sai trái. Thời gian đầu, họ quá bận rộn với công việc và bệnh tình của cha mẹ nên hai vợ chồng quyết định sẽ tính sau. Trãi qua vài năm, sự bận rộn dần trở nên mệt mỏi nên đời sống tình dục cũng suy giảm, mọi thứ cứ trôi đi trong im lặng rồi dần thành quen. Phần nào đó lo lắng bất an khiến bà ăn uống thất thường, lúc quá no lúc quá đói, khi lại ăn đêm do chăm sóc mọi người, ăn vội vàng cũng dần khiến bà tăng cân.
Lý do hai vợ chồng ra ở riêng không còn làm cùng người mẹ chồng cũng do từ chuyện ăn uống và quan điểm sống mà ra. Dù bị tiểu đường và được chăm sóc kỹ lưỡng, mẹ chồng bà do đời sống quá cô đơn nên thường xuyên đi ăn đám tiệc họ hàng thân thuộc, những thực phẩm ở các bữa tiệc này ai cũng biết chẳng mấy tốt lành mà chỉ thể hiện sự khoe khoang và thể diện của những người tham gia. Nhiều lần nhập viện nhưng không bỏ thoái quen cũ, thêm nữa khi tín tiếp quản quán ăn thì thực khách không còn đến nữa vì một lý do kỳ lạ nhưng dễ hiểu. Vị giác của ông từ khi còn nhỏ đã rất kém, ông chỉ là một người chăm chỉ cẩn thận khéo tay, nhưng do bẩm sinh không phân biệt được rõ nét vị đồ ăn thành ra ông khó lòng nêm nếm. Cha mẹ buộc lòng phải ghi lại công thức chính xác cho ông, hồi đầu mẹ ông còn phụ nêm nếm, về sau khi sức khỏe yếu nên đồ ăn ở quán lúc thế này lúc thế khác bị thực khách phàn nàn nên giảm hẳn. Những hằn hộc suốt một hai năm rồi cũng đỗ vở, ông không tiếp tục được nữa nên đành dừng lại chỉ phụ giúp việc trong nhà và tạm nghỉ ngơi một thời gian. Giọt nước làm tràn ly cũng chỉ vì một vài múi trong quả sầu riêng nhỏ. Mùa sầu riêng năm ấy hai vợ chồng được người bạn tặng cho hai quả, họ cương quyết dặn mẹ không được ăn vì trong quá trình điều trị. Khi hai vợ chồng về tới nhà, mẹ ông nằm lăn ra sàn nhà khó thở vã mồ hôi phải đưa đi cấp cứu. “Con không thể cứu mẹ nếu mẹ không tự cứu mình”, đó là lời cuối cùng khi ông và vợ chăm sóc mẹ ông hồi phục sau lần đó rồi rời khỏi nhà mà không lấy một thứ gì. Họ chuyển về ngôi nhà cũ của cha mẹ bà Thủy đã sang Mỹ định cư nhiều năm về trước, lâu lâu họ vẫn ghé qua và thuê người chăm sóc bà, phải mất một năm thì hai vợ chồng bà mới ổn định trở lại cuộc sống.
Thế nhưng một cơn sóng ngầm khác bắt đầu từ đây, nỗi ám ảnh cân nặng lại bắt đầu đeo bám lấy Thủy, hồi đầu chỉ như một sự cắt giảm khẩu phần ăn, vài năm trôi qua những lời khen xinh đẹp càng làm bà chìm sâu vào khao khát được ốm. Vốn dĩ Tín là người có chút lành tính và không có nhiều ham muốn tình dục, nay bà lại kiêng khem nên sức khỏe dành cho việc đó cũng chẳng còn bao nhiêu, thế là họ sống quen dần mà không nghĩ gì về chuyện con cái. Vài năm đầu ra ở riêng, ông nhận công việc trong trường mẫu giáo khác do bạn Thủy giới thiệu, Tín làm công việc thu mua và sơ chế nguyên liệu, phù hợp với những mối quan hệ khi ông còn làm cho cha mẹ, ngoài ra cũng thỏa đáng cho vị giác ngày một suy giảm của chính mình. Một cơ duyên xảy ra làm thay đổi suy nghĩ của ông, và nó lại xảy ra ở khu vườn của người đàn ông bí ẩn. Ngày hôm đó ông định đi hái rau rừng cho món bánh xèo trường mẫu giáo làm đãi thầy cô nhân dịp sinh nhật giáo viên nào đó, trên đường đến khu vườn ông bị bể bánh xe nên trễ hơn 20’ so với lời hẹn trên tin nhắn với chủ vườn. Sự sai lệch thời gian là trở nên đúng thời điểm cho cuộc đời của ông, khởi đầu cho những can đảm vẫy vùng về sau.
Vừa đến trước vườn thì Tín thấy cửa trước mở toang, kinh hoang hơn là có một vũng máu mới nằm trên con đường trước cổng. Đôi phần hoang mang do mùi máu tanh, ông rón rén bước vào bên trong thì thấy người chủ vườn đang lấp một cai hố to dài hơn một mét rộng 60cm. Vết máu vẫn còn hằn trên tay ông ta và vài giọt vương vãi trên đường đi vào, nhìn xuống hố Tín giật mình thấy cái đuôi chú chó to mà ông thường vuốt ve cho nó ít xương và gân bò mỗi khi ghé mua rau. Họ không nói gì cả, ông đến lấy cái xẻng nhỏ rồi treo cái túi của mình lên cành nguyệt quế, Tín cùng người chủ vườn lắp đất lên xác con chó. Sau đó họ đi quanh vườn nhặt vài viên đá bám đầy rêu rồi đặt quanh cái mộ, chủ vườn đóng tấm bản gỗ chuẩn bị sẵn xuồng, trên đó viết sẵn hai dòng chữ nhỏ: “Một đứa hồn nhiên cỏ dại, Mong sao một chiều quay lại gặp nhau”. Họ đứng đó một hồi lâu thì người chủ vườn quay lại hỏi: “Anh uống cùng tôi một lon bia chứ ?”, Tín chỉ gật đầu rồi cả hai cùng ngồi xuống bàn đá gần đó sau khi người kia mang ra hai lon bia và một ít đậu phộng luộc.
– “Nó bị xe tông hả anh ?” – Tín hớp một ngụm bia hỏi.
– “Không, sự níu giữ an toàn của tôi hại chết nó đấy” – Người kia nhìn cái mộ nói.
– “Níu giữ an toàn ?” – Tín nheo mắt thắc mắc.
– “Tội lo nó ra ngoài bị bắt, mùa này bọn chó đực hay đi theo cái. Ngày tôi còn nhỏ có con đi cả tuần rồi về chẳng sao, khu vực này giờ khác lắm, một lũ lười biếng chẳng chịu làm gì chỉ muốn nằm không có ăn, chúng hay rão bắt chó khu này. Nhưng vì đã lâu không ra ngoài, hôm nay nó lén chui ra một cái lỗ hàng rào bị đứt, nó không quen phản ứng với xe cô nên hoảng loạn rồi bị tông chết. Lúc nó nhìn tôi, cứ như thể chẳng biết mình bị gì và cớ sao thành ra vậy. Chung quy là do tôi cả, giữ cái an toàn ảo tưởng nên không trao chó nó cái hiểm nguy thật sự để nó có khả năng phòng vệ” – Người chủ vườn mắt đỏ hoe nói rồi uống một hơi nửa lon bia.
– “Vậy chắc tôi không khác gì con chó của ông anh lắm” – Người đầu bếp không có vị giác nhìn lên bầu trời trong xanh qua tán cây trước mặt nói.
– “Anh đang gặp chuyện gì à ?” – Người kia quay qua tò mò.
– “Tôi không có vị giác tốt, nhưng không dám nói ra, sợ cha mẹ buồn vì nhà tôi nấu ăn, vợ tôi cũng không biết. Sau bao nhiêu năm thì cũng không dấu được vì có cố thế nào thì như chú cho gặp xe cộ, tôi trở nên hỗn loạn chẳng làm gì cho thỏa đáng. Công việc bây giờ chỉ là tạm thời chứ chẳng vui vẻ gì, ngoài ra còn vài chuyện chưa thể nói ra với vợ thì cô ấy lại rơi vào khó khăn, chẳng còn dịp nào mà thổ lộ. Có lẽ tôi chỉ chờ một cái lỗ rào hỏng hốc nào đó để chạy ra rồi chết luôn trên đường như chú chó kia, ít ra nó còn có khao khát bứt ra, còn tôi thì chẳng biết mình muốn gì nữa, chẳng còn nhiều thời gian nữa ở cái tuổi này” – Tín trãi lòng sau lon bia chiều bên người đàn ông kỳ lạ cạnh ngôi mộ còn hơi ấm.
– “Anh bạn, anh chỉ mới sắp 30 thôi đấy. Nhìn màu không tốt thì vẽ hai màu trắng đen, Beethoven nhạc soạn nhạc ai cũng biết gần như điếc, nhiều nhà văn 40-50 thậm chị vài họa sĩ tận khi về già mới bắt đầu làm việc thật sự. Ngay tôi đây lúc 30 còn chẳng gieo nổi một hạt giống. Đừng ngăn mình là với những lý lẽ ngớ ngẩn của xã hội, tôi không nói sẽ dễ dàng, sẽ vô cùng gian nan đấy. Nhưng nhìn anh xem, anh lựa thực phẩm như cơm bữa bằng mắt mũi và tay, vợ anh hình như còn học về dinh dưỡng, vốn liếng tự thân của anh còn tốt hơn tôi lúc đầu ấy chứ” – Người chủ vườn nói xong thì bật bản Für Elise của Beethoven cho Tín nghe.
– “Trời đất, ông anh nói bản nhạc này do một người điếc làm ra sao ?” – Tín nghe xong Für Elise im lặng một hồi lâu hỏi trong khoảng giọng đứt đoạn.
– “Chắc như anh không đến nổi điếc, nhưng ông ta cảm nhạc bằng dao động chứ không bằng nghe. Nói chung nếu anh muốn làm gì thì đừng quá nhìn vào bất lợi của mình, khi thôi thúc đủ lớn anh sẽ tự tìm ra cách thôi. Tôi không hề huyễn hoặc mà nói anh sẽ nổi tiếng khó ưa như Gordon, đi khắp thế giới như Bourden hay trở thành bí ẩn huyền thoại như Jeremiah Tower trong nghề đầu bếp, nhưng anh sẽ tìm ra cách sống với công việc yêu thích của mình” – Người chủ vườn nói.
– “Tôi còn chẳng biết họ là ai, nhưng mà khoan, hồi nãy anh nói cái gì mà trắng đen tôi quen rồi ấy” – Tín nhớ ra điều gì đó quan trọng nên hỏi lại.
– “À, một vài người không có khả năng nhìn và phân biệt các sắc độ màu sắc, tôi là trong số đó nè, bọn chó cũng chỉ nhìn được ba màu thôi nhưng chúng vẫn vui vẻ còn gì. Tôi chỉ vẽ hai màu trắng đen thôi là phủ hợp với thị giác của mình” – Người chủ vườn vừa nói rồi nhìn sang ngôi mộ.
Tìn ngồi bật dậy, chỉ gật đầu chào ông chủ vườn rồi xoa vài cái lên tấm bia gỗ trên ngôi mộ còn ấm, ông chạy ào về nhỏ bỏ luôn công việc ở trường mẫu giáo. Đêm hôm đó anh thức tới sáng rồi ngồi viết, vẽ một hơi kết hoạch cho quán Ba Không, vậy là mọi sự bắt đầu từ đó. Vừa mới ra ở riêng ít lâu nên bà Thủy lúc ấy thoải mái hơn nhiều, thấy chồng cũng buồn chán với công việc không đúng mong mỏi nên bà gật đồng ý, một phần cũng vì thấy mình có lỗi về chuyện con cái nên bà hỗ trợ hết mình. Nhưng như ông chủ vườn kỳ lạ nói, mọi chuyện khó khăn trăm bề đổ xuống từ nhiều phía, mà nặng nề nhất là khi căn bệnh của người mẹ trở nặng. Dù mâu thuẫn vì không thể góp ý được mẹ, hai vợ chồng vẫn không thể bỏ được vì Thủy nói: “Con người sợ cô đơn còn hơn sợ chết, thôi anh về chăm mẹ một thời gian đi, lâu lâu em chạy qua kiểm tra sức khỏe. Còn việc set-up quán thì tạm vợ chồng mình thu dọn gọn gàng sạch sẽ ngôi nhà và tính trước khu bếp làm dần dần cũng không muộn”. Không còn cách nào khác hai người hoãn kế hoạch cũng mình lại một thời gian.
Hơn nửa năm trôi qua, những lần về chăm sóc mẹ, anh và mẹ có phần hiểu nhau hơn khi anh kể thiệc với khó khăn của mình từ nhỏ mà không dám nói ra. Mẹ anh khóc rất nhiều mà từ đỏ cũng có thêm động lực trị bệnh và nghe lời hai vợ chồng ông trong chuyện sinh hoạt ăn uống, thứ mấu chốt để kiểm soát căn bệnh này. Mẹ ông cũng quyết định không mở lại tiệm bò kho mà sẽ giao toàn bộ dụng cụ, bàn ghế là nhiều thứ khác lại cho anh, bà còn đầu tư thêm khoảng tiền tiết kiệm cho hai vợ chồng gày dựng quán ăn riêng. Ngoài ra câu chuyện của Tín và ông chủ vườn khiến bà nhớ về những ngày tháng chưa lấy chồng, bà phụ cha mình làm nghề đồ da và bà thích làm mấy món đồ nhỏ nhỏ. Mà bắt đầu mày mò lại mấy nghe thủ công ngày xưa cha dạy cho bà, đặc biệt là nghề làm da. Thêm nữa, bà đảm nhận chính công đoạn làm các loại đồ chấm bán cho tiệm Ba Không, cả ba người gia đình họ ngày càng thân thiết và hiểu nhau hơn thông qua lao động.
Căn bệnh hay nói đúng ra là những ám ảnh của Thủy tạm thời bị chìm xuống do sự thoái mái và mối quan hệ tốt lên giữa hai vợ chồng với mẹ chồng, bà cũng không phải căng thẳng chăm sóc mà cảm giác như bị mẹ chồng mình phản bội không hợp tác như trước. Khẩu phần ăn của Thủy giảm đi so với những nằm trước nhưng không biểu hiện rõ nên chẳng ai nhận ra mà góp ý, trừ Tín. Ông nhận ra điều đó từ lâu nhưng không biết phải mở lời thế nào,, ngoài ra trong một xã hội mà phân cực người thì béo quá mức còn kẻ thì gầy trơ xương, góp ý đằng nào cũng thành ra tấn công kỳ thị trừ phi ai đó ngả lăn ra đất thì họ mới bắt đầu quan tâm. Tín chủ động lâu lâu mua đồ bổ cho vợ dưới cái mác của tình yêu, mà cũng có lẽ ông yêu vợ mình nhiều thật. Ngoài tiêu chuẩn xã hội và sự mù mờ không được quan tâm đúng mức của những người mắc hội chứng này, thì Thủy cậy vào tri thức dinh dưỡng của mình để phản bác và từ chối thức ăn. Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói ăn cái này bệnh này, cái nọ bệnh kia thành ra biết càng nhiều lại càng làm người ta hoang mang lo sợ. “Không ai còn vui vẻ thật sự khi tận hưởng bữa ăn nữa, người ta thay vì ăn bằng cái miệng họ giờ toàn ăn bằng cái đầu” gã đàn ông kỳ lạ chủ vườn rau rừng nói vậy với Tín khi ông kể cho người này nghe những nghi vấn của mình. Nhưng chuyện sau đó vài năm mới làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều với Thủy.
– “Dạo này quan nhậu ổn định chứ con ?” – Một hôm Thủy ghé thăm sức khỏe, mẹ chồng bà hỏi thăm trong khi phụ mẹ chồng may một cái móc khóa da hình mục đồng cưỡi trâu.
– “Khách quen nhiều rồi mẹ, họ ăn dần quen với nhờ đồ chấm ngon của mẹ bù lại cho những ai chưa quen miệng. Nói thiệc mẹ hồi đầu con cũng lo lắm, ý tưởng gì mà ngược ngạo, nhưng nghĩ lại thì bây giờ có khi là xu thế ăn uống cho sức khỏe luôn” – Thủy vừa nói vừa lòn kim qua một lỗ da đã đục để khâu hai miếng da lại với nhau.
– “Hồi xưa người ta cũng ăn mặn, ăn ngọt ăn tùm lum, đói thấy mồ có gì ăn nấy mà có sao đâu, không hiểu sao giờ bệnh tùm lum” – Người mẹ chồng nhớ lại ngày xưa của mình.
– “Có lẽ do chất lượng thực phẩm, mọi thứ thay đổi nhanh quá, chẳng ai theo kịp nổi” – Thủy cúi mặt nói với giọng lo lắng.
– “Bây học dinh dưỡng mà còn nói vậy, hỏi sao con Sáu bên cạnh mới sanh con nó không lo, mỗi lần gặp là nó lại sợ đủ thứ cho con nó rồi cho nó không đủ chất, sợ con ngu không bằng người ta” – Bà mẹ chồng nói khi cúi mặt may da mà liếc mắt nhìn con dâu.
– Nuôi em bé giờ khó khăn, không chỉ môi trường không khí tệ đi, thực phẩm độc hại mà còn mọi thứ đang dần hỗn loạn, tội những đứa nhỏ sanh ra trời thời hỗn loạn này” – Thủy buông miếng da đang may xuống trầm ngâm nhìn ra đường xe cộ tấp nập nói.
– “Mấy đứa trẻ tụi bây sao mà lo xa, hồi xưa chiến tranh bom đạn ấm ầm mà người ta còn đẻ hà rầm, trời sinh trời nuôi. Có phải nghèo rách đói khát đâu mà than ngắn thở dài, giờ ông bà phụ một tay chứ hồi đó đàn bà người ta tự lo trong ngoài một mình hết có sao đâu, vẫn phây phây cời cời chạy lông nhông ngoài đồng rồi cũng lớn hết cả” – Mẹ chồng vừa nói vừa liếc nhìn Thủy với giọng lúc nhè nhàng lúc gằng ghịch.
Dù không nói thẳng ra vì người mẹ chồng rất thương bà do nhiều năm phụng dưỡng, Thủy cũng cảm thấy mình mệt mỏi vì nhiều người hỏi chuyện này, tay người con dâu lúc đó cầm kim mà không sao đưa qua được hai miếng da dày. Bà mẹ chông cầm tay nhẹ nhàng may dùm cho cô rồi nói: “Đứa con không phải chỉ là trách nhiệm nặng nề gì cả, nó như sợi chỉ gắn kết hai miếng da này lại với nhau. Lúc da còn trên lưng thì nó tự sống được, tới hồi khô héo thì phải có chỉ mới mong mà gắn lại được với nhau”. Thà những lời mắng mỏ nhưng thoáng qua còn dễ chịu hơn những âm ĩ của mấy người tinh tế trong gia đình. Sợi chỉ liên thông chưa thấy đâu, chỉ thấy các ràng buộc vô hình quấn quanh những mãnh đời, vì những mong mỏi mơ hồ truyền đời của cái gọi là xã hội làm con người ta nặng nề từ ngày này qua tháng nọ. Dẫu bị nhắc nhở bóng gió, thời gian này vợ chồng bà cũng có mái nhà riêng nên không khí phóng khoáng hơn nhiều, hai vợ chồng cùng nhau xây dựng một cơ ngơi cho tương lai nên mọi thứ cũng không làm Thủy phiền lòng. Thế là chuyện vợ chồng của họ diễn ra cũng tốt đẹp và thường xuyên hơn trước, dù cho bà luôn có cảm giác liên quan đến trách nhiệm nhiều hơn là ham muốn xác thịt thuần túy. Dù là lý do gì, đời sống hai vợ chồng trong giai đoạn này sôi động hơn hẳn, nhiều hy vọng hiện lên trong đầu họ và cả một niềm kỳ vọng hiện lên trên màn hình máy siêu âm. Rốt cuộc bà cũng mang thai, ngay các lúc mọi thứ đang dần tốt trở lại.
Cả nhà vui lắm, bạn bè mừng cho họ vì những thay đổi mà họ xứng đáng nhận được sau sự hiếu thảo và tình yêu họ dành cho nhau, ít ra biểu hiện bên ngoài là vậy. Mọi thứ có vẻ tốt lên một chút, đáng mong đợi hơn một chút, hy vọng tràn ra khắp nơi như một cơn lũ làm vỡ bờ vậy. Mọi người chăm sóc bà thái quá, mẹ chông bà ép bà ăn thứ này thứ nọ theo kinh nghiệm dân gian, còn đồng nghiệp bà và các mẹ trên mạng lại khuyên ăn cái khác. Kể cả tri thức về dinh dưỡng suốt bao nhiêu năm qua cũng làm Thủy trở nên mâu thuẫn hơn với chính mình. Trước khi mang thai, thói quen ăn uống hạn chế của bà hình thành nhiều năm, dù mệt mỏi về thể xác nhưng bà lại thấy thoải mái khi nói về nó, nhìn ngắm mình và ru ngủ bản thân trong nhận thức mơ hồ của bản thân. Giờ đây mọi thứ rối lên hết cả, mọi thứ dần tích tụ, từ stress đến dinh dưỡng đều bị rối loạn bên trong khiến bà bị vài lần băng huyết, nó như vòng tròn lẩn quẩn không sao thoát ra. Những lời nói ấy của người mẹ chồng và bạn bè làm Thủy phải dày vò, còn chồng bà lỡ phóng lao theo quán nhậu không thể ở cạnh bà nhiều, đến nỗi bà phải gặp một cơn ác mộng làm bà ám ảnh mãi về sau.
Trong giấc mơ trưa mùa tụ trường năm đó, bà thấy mình là bọt biển chứa bên trong mầm sống, nhưng bà không trôi dạt trong đại dương bao la xinh đẹp. Bà ngụp lặn trong đủ mọi thứ đồ ăn, từ tươi sống, chế biến sẵn đóng hộp cho đến mấy món ăn đang xào nấu xèo xèo trên chảo, hay sôi sùng sục trong nồi. Mỗi món ăn như trôi dạt quanh bà đều phát ra những luồng màu sắc khác nhau, năng lượng có, chất độc có, đủ mọi thứ tạp nham lẫn lộn. Dù bà phân biệt được tốt xấu trong giấc mơ, nhưng sự dày đặc của chúng hễ tránh bên này lại chạm vào bên kia, làm bà hoang mang lắm. Bà lo sợ không phải cho mình mà cho mầm sống đang giữ lấy bên trong, nhiễm đọc, quá thừa rồi lại quá thiếu, bà lăn lộn trong mớ đại dương thực phẩm. Thủy thấy mình bị nhồi nhét đến vỡ tan tành lớp vỏ bọt biển, mầm sống kia trôi đi trong vô định, bà nghe thấy tiếng khóc the thé chưa thành hinh. Thế rồi trong mơ bà đầu thai lại lần nữa, vẫn như cũ chẳng có gì khác, lần này bà đoán định được vài thứ, tập trung cao độ tránh nè những thứ tồi tệ độc hại, tránh cho mình đừng quá to lên vỡ ra tan nát như kiếp sống trước. Tránh được một đoạn, có một đám bọt biển khác từ xa lao tới bao vây lấy bà, đủ loại hình hài màu sắc quanh chúng. Đám bọt biển không phát ra năng lượng hay chất độc mà là từ ngữ, mấy chữ cái đầy gai nhọn và dị dạng không chuẩn mực, chúng tìm cách len lỏi vào người bà. Thủy tranh bên này chúng lại chen vào chỗ khác, chúng nhào lộn bên trong làm bà mất phương hướng. Do không còn phân định đường hướng, bà tiếp tục nhiểm độc, rồi phình to ra và vỡ tan lần nữa. Lần này mầm sống đã có tứ chi, nó cào cấu trôi vô hướng trong lòng biển cuồng dại rồi biến mất. Và bà lại đầu thai lần nữa trong mơ. Lần nay bà tránh xa luôn cả đám bọt biển tai hại kia, nuôi dưỡng mầm sống gần thành hình hoàn chỉnh. Tưởng chừng bà về đến nơi an bình, có cái cổng hiện ra đằng sau đó là anh sáng rực rỡ, nhưng đứng trước cửa là những bọt biển không rõ hình hài, quái dị, nhớp nháp và điên dại. Chúng vây lấy bà, không làm gì cả mà chỉ thủ thỉ một lời duy nhất: “Mày rồi sẽ bất hạnh điên rồ như tao thôi”. Bà không lay động trong mơ mà đi tiếp, thế nhưng sinh linh nhỏ bên trong thì khác, nó hoãng sợ. “Mẹ ơi con không muốn sinh ra đời, mọi thứ thật tệ, con được nuôi dưỡng bằng nhiều thứ độc hại, nghe thấy những lời độc địa và sẽ phải kết bạn với những kẻ độc ác. Mẹ ơi con không muốn chào dời mà muốn tạm biệt nó”. Nỗi sợ ấy của mầm sống truyền sang bà, Thủy trở nên hoang mang, không biết đó là tiếng nói của ai, của mầm sống hay chính mình tích tụ từ những kiếp sống trước. Đám bọt biển vây lấy bà lần nữa, chúng cười vang trời chế nhạo bà, làm nước trên người bà chảy ra, bay hơi rồi vỡ ra khắp hướng. Tiếng cười ngày một lớn của đám bọt biển vây kín mầm sống, nó ré lên một tiếng chói tai làm vụn vỡ những gì còn sót lại của bà. Thế là bà cũng tỉnh giấc mộng.
Hóa ra là đám con nít đang đùa nghịch trước nhà, mấy cậu bé đang trêu một cô bé gái khóc nhè bị Tín rầy rồi giải tán về nhà. Người bà tướt mồ hôi, huyết áp tăng đột ngột, bà được đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng không sao. Tuy nhiên bác sĩ chuẩn đoán tình hình của bà đang rất bất ổn khó đoán định, Thủy được yêu cầu nghỉ ngơi tịnh dưỡng và không để tình trạng căng thẳng kéo dài. Nhưng rồi chẳng có gì thay đổi cả, mọi người chẳng ai để bà yên, mặc dù biết đó là một dạng bệnh tâm lý thì cũng chẳng ai có thể bắt bà vào trại tâm thần vì ăn uông cả. Chuyện gì đến cũng phải đến, bà sẩy thai ở tháng thứ tư, không ai hiểu chuyện gì xảy ra ngoài mấy lời bàn ra tán vào về sức khỏe kém. Chồng bà buộc lòng phải hoãn công việc lần hai giúp bà hồi phục sức khỏe, ông cố dẫn bà đi ra ngoài mỗi khi ra ngoài đi đâu đó, bản thân ông giả vờ phớt lờ và tỏ ra chấp nhận để bà bớt căng thẳng và vượt qua. Một hôm nọ, hai vợ chồng cùng ghé khu vườn kỳ lạ để thăm ông chủ vườn kỳ lạ, người những năm qua đã dần thân thiết hơn với họ sau cái chết của chú chó của ông ta. Sau một hồi chuyện trò những chuyện về cây cối, Tín xin phép đi xin một ít lá thuốc về nấu cho vợ mình, còn ông chủ vườn nhã ý mời vợ ông đi dạo ra khu vực vườn hoa dại nuôi ong ruồi lấy mật của ông mới thử nghiệm phia xa. Nghe có vẻ thú vị nên bà cũng muốn đi cho khuây khỏa, còn Tín thì nghĩ có thể lão chủ vườn giúp được gì đó cho vợ mình, nên cũng đồng ý đợi trong vườn cây thuốc nam nằm riêng một góc cuối vườn.
– “Ong và hoa giống quan hệ có qua có lại nhỉ, mỗi bên đều có lợi” – Thủy cúi người ngửi một bông hoa lài ta nở rộ.
– “Không chúng chỉ là việc giỏi nhất của mình, quan hệ tách biệt qua lại là do con người với cặp mắt phân chia mà ra. Có kẻ còn bảo rằng hoa sặc sỡ để dụ dỗ ông bướm, trong mắt họ chỉ toàn là gian xảo nên mới nhìn ra như vậy” – Ông chủ vườn lắc đầu rồi nâng một con ông ruồi đang đậu trên bông hoa sao nhái gần đó.
– “Ý anh là chúng làm công việc mình giỏi và loài khác hưởng lợi trên hành trình chung đó sao ?” – Thủy đứng lên nhìn về cánh đồng hoa dại nở rộ sắc màu.
– “Đúng vậy, chẳng ai có quyền sắp đặt cho chúng, kể cả chúng cho mạo hiểm, vẫn hồn nhiên sáng ra bay đi làm công việc của mình rồi về nhà. Không sợ hãi, không mưu cầu dư thừa vô lý, cũng không cần ai báo đáp” – Hai người ngồi xuống băng ghế gỗ dài rồi im lặng hồi lâu.
– “Dạo này cô ốm quá đấy, cũng không như nãy tôi nói về ong và hoa, tôi không có quyền can thiệp vào sinh mệnh của cô, chẳng ai có quyền ép cô cả. Nhưng hãy nhớ rằng còn có nhiều người cần đến cô, dù cô không còn cần chính mình nữa. Tôi không thích cổ vũ ai cố sống tích cực hay tiêu cực, tôi chia ly và chứng kiến cái chết đủ nhiều để biết con người chúng ta chẳng vượt qua cái gì cả, chỉ có chấp nhận tất cả những gì mình có, gắng cải thiện hằng ngày. Quan trọng hơn cả là nhận ra phận sự nào đó trên đời của mình, nếu không cô sẽ sống rất dai nhưng chẳng biết để làm gì cả” – Ông chủ vườn quay sang nói sau một hồi lặng lẽ nhìn một cơn gió to thổi bay những cánh hoa mỏng manh khắp nơi trong vườn.
– “Có lẽ anh nói đúng, chắc là tôi quên mất phận sự sống của mình, thật hạnh phúc khi được chăm sóc người khác mà quên đi chính mình. Những kẻ ích kỷ luôn dễ dàng để nói “hãy lo cho mình trước” rồi bọn họ lại cố níu giữ mọi thứ cho bản thân, những sinh linh bọt biển tinh khiết theo cách riêng cũng chẳng còn thấy trong biển, chỉ còn lại rác thải mà thôi” – Thủy vò đầu chú chó con đang chạy quanh chân họ, nó giống y chang cha mình đang nằm trong lòng đất tối.
– “Cái đẹp trên thế giới này được tạo ra từ những kẻ u buồn, nhìn mà xem, mọi thứ thật tệ nhưng ta vẫn phải sống tiếp” – Người chủ vườn đưa tay ra để Thủy vịn vào rồi ông dẫn cô ra với chồng mình đang đợi trong nụ cười hồn nhiên chẳng hay biết chuyện gì đã xãy ra.
Sau cuộc trò chuyện ngày hôm ấy, bà chỉ đơn giản là củng cố lại khát vọng và cách nhìn về sự hiện tồn của mình trên đời. Bà quyết định quên đi bản thân mình, mặc cho nó sẽ ra sao, kể cả lời ông chủ vườn nói về cái đẹp bà cũng không bận lòng nốt. Bà chỉ lao đi với mong mỏi giúp sức một tay cho chồng mình vì ông là người thân duy nhất còn lại của bà, Thủy đặt mọi thứ sau lưng phận sự ấy của mình.Bà nghỉ việc rồi cùng chồng xay dựng quán Ba Không như hiện giờ, mọi sắp đặt âm nhạc, trang trí, những thứ tạo nên không khí đặc trưng cho quán bây giờ là do bà một tay thu xếp. Những năm đầu kinh doanh đi qua với lượng khách dần ổn định, sức khỏe bà thì chẳng khá hơn mà được duy trì bằng ý chí sống là chính. Buổi sáng và tối bà như hai con người khác nhau, ban đêm Thủy như có chiếc công tắc xả van năng lượng để cơ thể và sự hoạt bát của mình tự vận hành với mục đích duy nhất là vận hành quán ăn phát đạt, còn ban ngày bà như một khúc củi khô trơ héo ăn uống kiêm khen đủ duy trì sự sống. Chính vì lý do đó, trọng lượng và biểu hiện của bà có giảm nhưng lại không quá đột ngột, giống như con ếch đang ngồi trong cái nồi nhiệt độ tăng lên chậm rãi, đến khi nước sôi mọi thứ nó vẫn nghĩ là như cũ, tưởng chừng chẳng có gì xảy ra cả. Đời sống tâm lý của bất kỳ ai trong xã hội hiện đại có lẽ đều đi theo chiều hướng đó, chúng ta thích nghi với những sai lệch, từng chút một vá cái quần rách để có thể mặc cho vừa ngưới là được. Thông qua giải trí thuốc men du lịch, những biến động tâm lý âm thầm cứ bị che mờ đi, đến khi vỡ ra thì quá muộn màng. Nhưng cũng biết đâu đó như lão chủ vườn kỳ lạ nói, có thể họ nhận ra sâu bên trong phận sự của mình rồi cứ thế mà tiếp tục thiêu thân trong lửa. Ta là ai ? Một con người dồn nén chất chứa hay một con thiêu thân nhận ra chính mình và cứ thế lao đi ? Câu hỏi này có lẽ chỉ Thủy mới biết đích xác ở mình.
Thứ duy nhất mọi người xung quanh thấy vài năm trở lại đây là vợ chồng họ không còn đi chung với nhau như trước, tất cả chỉ quay quanh cái quán nhậu nhộn nhịp về đêm, còn ban ngày như một cánh đồng hoang bất tận không một tiếng nói cười. Người mẹ chồng cũng đã chết sau cú sốc với đứa cháu chưa kịp sinh ra đời, kể ra bà cũng chẳng còn mục đích sống khi không còn hy vọng nào về một đứa cháu nội. Bà cẩn thận để lại cho con trai mình công thức làm các loại nước và đồ chấm khi thấy sức khỏe lần ý chí mình dần cạn, ít ra ở đâu đó bà còn được thấy gương mặt chưa thành hình của đứa cháu không còn duyên gặp gỡ.
Quán nhậu của họ vẫn bình ổn, không tăng không giảm như cuộc đời họ, dù có lúc gắng sức lay chuyển, nhưng cái gì đó đã đứt gãy khó lòng hồi phục. Có lẽ điều gì đó mới phải xảy ra, hoặc những thứ xưa cũ phải quay về . Tiếng ve dẫn Tín đến quán hủ tiếu nhỏ này cũng vài năm rồi, chủ quán cũng là khách quen của Ba Không, họ cùng mua sườn non ở một lò mổ ngoài rìa thành phố nên biết nhau. Hôm đó có điều khác biệt hơn mọi khi, căn nhà hoang xeo xéo quán hủ tiếu Tín đi ngang thấy ai đó dọn dẹp sạch sẽ cỏ dại và quét vôi trắng lại trong ngoài. Lão chủ quán hủ tiếu kể căn nhà đó của một gã điên sống ở đó gần 50 năm rồi, khi mẹ già còn sống thì người điên này còn có người chăm sóc, sau khi mẹ mất thì ông ta nhiều lần lên cơn đập phá nên chính quyền đưa đi vào trại. Chẳng còn thân nhân nào nên họ tịch thu quá giá bán rồi phần tiền chi trả cho việc phí cho đến cuối đời, nghe nói cũng không sống được bao lâu, số tiền còn lại chẳng biết đi đâu. Người đàn ông mua ngôi nhà ấy khá bí ẩn, chẳng ai biết lai lịch nhưng chỉ thấy có đứa con gái. Họ nhận nuôi luôn con chó của gã điên nên người trong hẽm thây vậy cũng tin rằng ông ta người đàng hoàng không soi mói gì thêm nữa. Điều khá lạ trong vài tuần qua, sau khi ông ta mở tiệm hớt tóc nhỏ thì lại có rất nhiều tên giang hồ lưu manh đến đó cắt tóc, nghe nói toàn bọn cộm cán trong vùng. Ông ta ít giao tiếp với hàng xóm, đi đâu cũng dẫn theo con gái 3-4 tuổi, cha con họ thân thiết với nhau lắm và vui vẻ cười đùa suốt, đêm nào người ta cũng thấy cha con họ đốt đèn cầy trước nhà ngồi xếp mấy con hạc giấy cùng nhau.
– “Hạc giấy sao ?” – Tín nghe lạ nên hỏi.
– “Ừ, bà già kề bên nhà kể cho tui, cháu nhỏ bảo cha nó nói để cầu mưa. Nó nói cứ mỗi một con thì mình mong cho người mình yêu quý đã cách xa, nước quay về tưới cho họ sống một cuộc đời mát lành ở đâu đó khác. Nó kể nó gấp cho mẹ nó ở trên Tây Nguyên gì đó” – Lão chủ kể.
– “Nghe hay nhỉ, hạc mong mưa” – Tín suy ngẫm khi uống ly café mang theo từ nhà.
– “Có khi ly dị vợ rồi nói vậy cho con gái nó đỡ buồn hay sao ông ơi, chứ giang hồ đến nhà hà rầm chắc cũng không phải loại đàng hoàng gì đâu” – Lão chủ tiệm hủ tiếu trề môi lắc đầu nói.
– “Ông tào lao quá, bộ bụi đời giang hồ không phải con người hả, ông thử đẻ ra trong gia đình vậy coi ông trở thành cái gì, lo bán hủ tiếu của ông đi, ở đó nhiều chuyện” – Tín bổng nhiên nổi đóa, hiếm khi ông như thế.
– “Ủa chà nội này nay sao vậy, ông thì hay lắm chắc, đồ ăn không nêm riếc con vợ nó ốm nhách đó, dẫn nó lại đây ăn hiểu tiếu của tui mập lên liền nè, tào lao” – Lão chủ cũng không vừa, cầm cái vá múc nước lèo sấn tới.