TÔI VIẾT BỘ TIỂU THUYẾT SỬ THI…


Ý nghĩ về một sáng tác văn xuôi mang màu sắc sử thi về Lào Cai đến với tôi ngay từ khi tôi đặt chân lên mảnh đất địa đầu này của Tổ quốc, thị xã Lào Cai cuối năm 1954, đầu năm 1955. Dạo đó tôi mới tốt nghiệp trường sư phạm, được phân công lên đây dạy học và công tác. ở một địa vực bị chia cắt, Lào Cai lúc này đang còn là một khái niệm địa dư xa vời lạ lẫm: Ai đưa tôi đến chốn này. Bên kia Cốc Lếu bên này Lào Cai. Và như vậy, trước hết, yếu tố lạ về địa lý nhân văn của vùng đất đã là một ưu trội đối với cảm nhận của con người từ xa đến.

Tất nhiên đã có nhiều nhà văn có tên tuổi từ trước cách mạng viết về vùng đất này, đôi khi còn phủ lên nó một vẻ đẹp hoang dại, kỳ quái. Và ở đây, lịch sử cùng các số phận con người trong các biến động của đời sống ít được biết đến, trong khi nó thật sự là độc đáo và đẹp đến lạ kỳ.

Miền địa đầu đất nước này đã từng là nói dừng chân của nhiều bộ tộc trong các cuộc thiên di bi tráng nhiều thiên niên kỷ trước đây. Nơi đây đã tồn tại hàng trăm năm một quái tượng lịch sử. Chế độ thổ ty phong kiến thế tập phiên thần. Nơi đây, lịch sử hiện đại diễn tiến trong những hoàn cảnh khá riêng biệt và mang tính đặc thù. Nhật đảo chính Pháp rồi đầu hàng đồng minh, Hoa quân nhập Việt, bọn Việt Nam quốc dân đảng, tay sai của các thế lực quân phiệt Vân Nam – Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch trở về, ỷ thế quan thầy gây chính biến, lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ. Trụ lại ở sào huyệt cuối cùng này, kết cuộc chúng đã bị cơn bão lớn của cách mạng xua tan. Không từ bỏ mộng thực dân, thừa cơ lực lượng ta còn trứng nước, các cánh quân Pháp chạy Nhật sang Vân Nam ào ạt trở về xâm lược tỉnh ta. Cuộc kháng chiến bùng nổ. Rạt ra vùng tự do Yên Bái, cán bộ chiến sĩ ta đêm đêm vượt các phòng tuyến địch, trở về với đồng bào trong hậu địch, gây cơ sở, tiến lên trên con đường võ trang tranh đấu, giải phóng tỉnh nhà cuối năm 1950. Bị thất bại, phải rút chạy, thực dân và các thế lực phản động rắp tâm thực hiện âm mưu gây phỉ độc ác và cuộc đấu tranh để giải phóng con người ra khỏi những định kiến, những xích xiềng tư tưởng đã diễn ra thật quyết liệt, không ít hy sinh đau đớn trước khi đi đến thắng lợi hoàn toàn. Bao nhiêu máu xương, chiến sĩ đã đổ xuống cho tự do, cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc khỏi nanh vuốt tàn bạo của đế quốc, thực dân, thổ ty chúa đất. Dấn thân vào cơn lốc của chiến tranh cách mạng, con người đã vượt qua bao thử thách khắc nghiệt và nặng nề, hoàn thiện nhân cách, tạo nên những hình tượng cao cả, lớn lao, ngang tầm với sứ mệnh, đập tan sự áp bức cuối cùng của xã hội loài người, cho một thời đại mới ra đời!

Lịch sử, cái đã hoàn thành xong xuôi, đã trở thành những dấu tích vàng son, đã thật sự làm say lòng người, đã khiến ta nhiều khi phải run rẩy vì kinh ngạc. Và do vậy, khát vọng được ngợi ca bằng tất cả niềm ngưỡng mộ đã là nhu cầu của lớp nhà văn, nhà thơ thuộc thế hệ chúng tôi lúc này.

G. Marquez nhà văn giải thưởng Nôbel, viết đại ý: nhà văn phải sống với toàn bộ đời sống hiện thực, với các biến cố và huyền thoại của nó, đồng thời phải dùng chính đời sống để giải thích đời sống.

Sau những cảm nhận ban đầu, vấn đề sống còn với người viết bây giờ là làm sao, bằng cách nào có thể tiếp cận được với đối tượng mình định miêu tả, và sau cùng hòa nhập được với nó, biến nó thành của mình, thành một thành tố tạo nên mình, để việc viết là hệ quả của sự sống thật sự với cuộc đời, chứ không phải đơn thuần chỉ là việc cầm bút miêu tả nó, coi nó như một đối tác ở bên ngoài mình. Trong việc này, may mắn, tôi đã gặp nhiều thuận lợi. Một hiện thực lịch sử gần như còn được lưu giữ nguyên vẹn bao bọc quanh tôi, là không khí tôi thở, là cảnh trí tôi nhìn thấy, là con người hàng ngày tôi chung sống. Tôi được sống trong một bảo tàng lịch sử sinh động, ngày hôm nay còn liên hệ bền chặt với những gì đã qua.

Dạy học ở thị xã Lào Cai nhiều năm dài, tôi có điều kiện để hiểu mỗi bước thăng trầm của vùng cửa khẩu này. Năm 1964, khi được điều động về làm thư ký cho đồng chí Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, trong nhiệm vụ người cán bộ Đảng, tôi càng có điều kiện để tiếp xúc với các vấn đề chính trị, những câu chuyện cốt tử của đời sống các dân tộc. Tôi đã sống nhiều năm tháng ở các huyện, các xã, các làng bản người Mông Bắc Hà, người Hà Nhì Ý Tý, người Dao Nậm Tống, người Tày Cam Đường, người Giáy Bát Xát. Sau này khi là nhà báo tỉnh, tôi càng có nhiều cơ may được làm việc và sống cùng đồng bào các dân tộc trong các sinh hoạt cộng đồng, các cuộc vận động xã hội rộng lớn, như tiễu trừ thổ phỉ, cải cách dân chủ, thành lập hợp tác xã sản xuất, các hội hè, lễ tết cổ truyền.

Để dựng lại ít trang về khung cảnh lịch sử Lào Cai thời kỳ 1945, 46 rối ren ấy, tôi đã gặp gỡ gần như đủ hết các nhân chứng cần thiết. Tôi đã đọc cả ngàn trang hồ sơ lưu trữ, các hồi ký của các đồng chí cán bộ lãnh đạo thời ấy, như các đồng chí Ngô Minh Loan, Trần Cung, Lê Khánh… và vô cùng thích thú khi được biết tới chuyến đi hết sức mạo hiểm, độc hành kỳ đạo, độc thiện kỳ thân đầy kiêu hãnh và khôn khéo của mấy cán bộ Việt Minh đến các vùng: Bắc Hà, Xi Ma Cai, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu, nhằm thuyết phục các ông thổ ty ở đó đóng góp công sức hợp lực cùng quần chúng nhân dân lao động các dân tộc và Vệ quốc đoàn tham gia công cuộc giải phóng tỉnh nhà.

Tôi đã nghiên cứu và tiếp nhận nhiều chỉ dẫn quan trọng được thể hiện trong các thành quả lý luận có tính tổng kết, về các chuyên đề xã hội học, dân tộc học của các cán bộ nghiên cứu giàu tâm huyết và năng lực ở Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh, Ban dân tộc tỉnh.

Không thể không kể đến cả trăm trang sách khảo cứu về dân tộc Mông của ông cố đạo, kiêm đại úy tình báo Savina tôi đã được đọc. Cũng như tôi đã được nghe và ghi lại trong hàng chục cuốn sổ tay không biết bao nhiêu câu chuyện, sự kiện, cùng các trang lịch sử và những gì có quan hệ với các nhân vật tiêu biểu ở thời kỳ này, các thổ ty và trùm thổ phỉ như Châu Quán Lồ, La Văn Tờ, Lý Triều Dương, Hoàng Yên Chao… đã dự lễ ăn ước, lễ thề mặt trời của bà con người Mông ở Sapa, tôi cũng đã cùng mấy chiến sĩ công an, một đêm trăng nọ đã đón ông Vàng A Chảo, một người lính phí, vì mặc cảm sợ hãi đã trốn tránh mười bốn năm ròng trên núi Hoàng Liên Sơn trở về với cộng đồng.

Năm 1970, khi cảm thấy đã có thể đặt những bước chân đầu tiên trên con đường vạn dặm, tôi bắt đầu khởi thảo những chương đầu của tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe. Theo kế hoạch, Đồng bạc trắng hoa xòe viết về lịch sử Lào Cai từ năm 1945, đến cuối năm 1947 khi giặc Pháp trở lại xâm chiếm tỉnh ta, với trung tâm là câu chuyện mấy cán bộ cách mạng thực hiện cuộc viễn hành quả cảm và lãng mạn đến các thổ ty miền Đông tỉnh ta, đem tiếng nói của cách mạng đến với bà con các dân tộc đang trong vòng tù ngục của chế độ thổ ty cha truyền con nối, nhằm tạo dựng một lực lượng cách mạng để đập tan bè lũ phản động Việt gian Quốc dân đảng, thiết lập chính quyền cách mạng, gấp rút chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Chuyến đi kỳ lạ này, cũng như vô số sự kiện đã xảy ra tương tự tiếp đó xứng đáng là được gọi coi là huyền sử của thời đại. Cảm hứng ca ngợi, chiêm ngưỡng đã cho phối tôi khi viết cuốn sách này.

Cũng theo dự định, Vùng biên ải sẽ là tập nối tiếp của Đồng bạc trắng hoa xòe. ở đây các nhân vật như Lê Chính, Bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Đắc cán bộ quân sự, đặc biệt là Pao, nhân tố cách mạng đầu tiên của dân tộc Mông cùng các nhân vật đối lập như các đầu sỏ phỉ Giàng A Lử, Châu Quán Lồ… tiếp tục xuất hiện và hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình. Vùng biên ải tập trung miêu tả công cuộc vận động tiễu phỉ, gian nan, khổ ải, cuộc phân thân dữ dội, bước lật mình vươn dậy, tự giải phóng con người. Trung tâm tiểu thuyết đặt vào gia đình ông Giàng Lầu, ở đây cuộc sống đã chia sẻ họ thành các ngả, với những bi kịch họ phải chấp nhận, trước khi đến với tự do hạnh phúc.

Mới là phác thảo trong đầu, mới thấp thoáng thấy hình bóng nó mà đã có cảm giác nghe được khúc dạo đầu của một bản giao hưởng lớn đang manh nha và tôi đã ứa nước mắt vì sung sướng và sợ hãi, chặng đường đi sẽ dài dặc, gian khó, không hiểu có đủ sức để đi tới không?

Tất nhiên đó là ảo giác của sáng tạo, là sự tự mê hoặc mình, là cơn thăng đồng, là niềm phấn chấn tâm thần, và không có nó, không có khát vọng trả nợ cuộc sống, không có lòng ngưỡng mộ đối với thần tượng lịch sử thì không tài nào viết được.

Đêm đêm, ngồi trong căn nhà ở đầu phố Cốc Lếu, trong cái rét cắt ruột, chăn khoác cũng không đủ ấm, ngòi bút sắt sột soạt chạy trên trang giấy, dưới ánh đèn dầu tù mù, bên ngoài trời mây trắng lặng, thi thoảng lại nghe thấy tiếng con sóng đập vào trụ cầu Cốc Lếu dội về, tôi có cảm giác của một kẻ lữ hành cô độc và nhẫn nại. Từ những ngổn ngang bề bộn ở cuộc đời, tạo nên những câu chuyện có lớp lang mạch lạc, có bóng hình lịch sử và cuộc đời, công việc mới gian nan cực nhọc và vinh dự làm sao!

Tháng 11 năm 1974, kỷ niệm lần thứ 24 giải phóng Lào Cai, tôi ghi chấm hết cho cuốn tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe, sau bốn lần được Nhà xuất bản văn học góp ý sửa chữa, viết lại từ chữ đầu đến chữ cuối, gần một nghìn trang viết tay. Năm 1979, cuốn sách được đưa vào nhà in. Đang in thì hết giấy, đành dừng máy in, chờ giấy từ con tàu biển còn lênh đênh chưa cập bến Hải Phòng. Gần một năm trời sau, sách mới in xong, dày hơn sáu trăm trang.

Năm 1976, tôi từ Lào Cai chuyển công tác về Hà Nội, hồi đó có lệ cán bộ về xuôi được tỉnh cho mua bốn khối gỗ giá cung cấp, đủ để cất một ngôi nhà lớn.

Tôi đã bỏ lỡ một cơ hội quý giá vô cùng hiếm hoi để cải thiện nơi ăn ở của mình, dựng một căn nhà riêng, một cung điện huy hoàng cũng nên, so với hoàn cảnh nhà cửa quá nghèo nàn và chật chội của tôi lúc đó: 9 mét vuông cho sáu con người, hai vợ chồng, hai đứa con, bà mẹ già và cậu em trai mới xuất ngũ, ở ngõ 221 phố Nguyễn Khuyến. Không phải vì tôi cao đạo. Mà vì tôi ngại ngùng xông pha, xin xỏ, chạy chọt giấy tờ, vì tôi lười biếng không muốn mó tay vào công việc nặng nhọc. Phần khác, tôi còn đang ngơ ngẩn trong mê cung cuốn tiểu thuyết Vùng biên ải lúc này còn đang ở dạng phác thảo. Bản thảo Vùng biên ải và gần một trăm cuốn sổ tay ghi chép tư liệu cho các sáng tác khác, như tiểu thuyết Trăng non, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn sau đó, cần phải được bọc gói, xếp đặt cẩn thận trong ba lô, túi xách, rương hòm và áp tải an toàn về Hà Nội. Thôi, thế là tốt lắm rồi. Ra về lại có từng ấy thứ mang theo còn đòi gì thêm nữa, được cái nọ thì mất cái kia, tham lam đủ thứ đâu có được.

Xa Lào Cai rồi, nhưng những gì đã cảm hội được trong hai mươi hai năm trời sống cùng đồng chí bè bạn một cuộc đời cần lao, giản dị ở vùng đất này của Tổ quốc, ngày đêm giục giã tôi viết tiếp. Năm 1982, tôi hoàn thành tiểu thuyết Trăng non lấy đề tài cuộc vận động đồng bào Mông chuyền sang sản xuất hạt rau giống ở Sâu Chua Sapa. Năm 1983, cuốn Vùng biên ải dày gần năm trăm trang, tập tiếp theo của Đồng bạc trắng hoa xòe được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in và phát hành. Hai cuốn này đã được các Nhà xuất bản Trung ương tái bản vài lần. Cuốn Đồng bạc trắng hoa xòe nằm trong cụm tác phẩm của tôi được trao tặng giải thưởng Nhà nước năm 2001. Đối với lịch sử, với những cái đã qua, tất nhiên có thể có nhiều cách xem xét, đánh giá. Với riêng tôi, tôi viết Đồng bạc trắng hoa xòe Vùng biên ải trong cảm hứng anh hùng ca. Đó là tấm lòng sùng kính của tôi đối với sự tích anh hùng của nhân dân các dân tộc tỉnh Lao Cai, đối với lịch sử, những cái đã hoàn thành xong xuôi, không cần bàn cãi và sẽ trở thành huyền thoại trong sự tôn vinh của mọi người.

Cuộc sống là một tác phẩm tự nhiên vĩ đại. Cuốn sách nhà văn viết ra là sáng tạo của riêng anh ta. Điều đó nên minh bạch. Nhưng kể cả sản phẩm sáng tạo của riêng nhà văn, thì về căn bản nó cũng từ cuộc sống mà ra. Hoặc quá lắm thì có thể nói như một bài thơ đã nói, nửa bài thơ là mình làm, còn nửa nữa là do mùa thu làm nốt!