SÁNG TÁC VÀ CÂY ROI PHÊ BÌNH


1. Có sáng tác thì có phê bình. Có tự do sáng tác thì có tự do phê bình. Hiển nhiên là vậy. Sáng tác – phê bình, một cặp phạm trù. Hai mặt của một thực thể văn học. Nói như vậy để thấy chúng có mặt gần gụi nhau, nhưng không phải là một thể thống nhất trùng khít nhau. Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại của ta không thiếu những câu chuyện vui buồn về mối quan hệ này. Hẳn là mọi người đều đã biết, Nguyễn Tuân đã uất tức thế nào khi bị người ta phê bình và bóc bỏ thiên bút ký Tình rừng của ông ra khỏi một cuốn sách đã in xong. Còn bậc trưởng lão Nguyễn Công Hoan một cây đại thụ của văn xuôi nước Việt vậy mà vẫn còn bị liên tục ì sèo vì cuốn Đống rác cũ. Có một dạo, gần như bất cứ một nhà văn Việt Nam thật sự nào cũng dính đòn của phê bình, nặng thì suy sụp tinh thần, nhẹ thì xây xước danh tính. Hoàng Cầm thì với Về Kinh Bắc. Trần Dần với Nhất định thắng. Lê Đạt thì Nhân câu chuyện một người tự tử. Phùng Quán với Lời mẹ dặn... Nhiều, nhiều lắm, kể không xuể. Chẳng hạn, kế đó là Việt Phương với Cửa mở. Hà Minh Tuân với Vào đời. Vũ Bão với Sắp cưới. Hoàng Tiến với Sương tan. Nguyễn Xuân Khánh với Miền hoang tưởng, Phạm Tiến Duật với Vòng trắng. Ngô Văn Phú với Sẹo đất. Tiếp theo là Chúa trời ngủ gật của Nguyễn Dậu, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Gần đây là Hoàng Minh Tường với Thời của thánh thần Dại tình của Bùi Bình Thi… Còn Nguyễn Huy Thiệp thì thời đoạn đã đổi khác, lại cũng may là chiến tuyến chia đôi, lực lượng bảo vệ anh, hùng mạnh không kém.

Bức tranh sáng tác và phê bình như vầy xem ra có ảm đạm quá không? Không! Vì những lúc ngậm ngùi trước cảnh sắc nọ, tôi lại thấy lòng hừng sáng và ấm áp vô cùng khi chợt nhớ tới Thi Nhân Việt Nam. A! Thì ra đã có một Thời đại mới trong Thi Ca! Thì ra đã có một Thời đại mới của Phê bình!

 Thi nhân Việt Nam! Một phối ngẫu tuyệt đẹp giữa sáng tác và phê bình. Cuộc kết đôi hoàn hảo của trai tài gái sắc, của mùa màng văn học. Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã lập được một vĩ nghiệp chưa từng có! Không chỉ khai sáng, dựng nên cả một thời đại thơ ca làm vẻ vang cho văn học nước nhà, Hoài Thanh còn phác họa thành công chân dung một nhà phê bình văn học lớn, một ngự sử trên văn đàn, một Biélinski, một Kim Thánh Thán, một Viên Mai. Với Hoài Thanh, Thơ Mới đã có thêm một chứng chỉ quan trọng để vào đời. Thơ Mới đã được bảo hiểm bằng Hoài Thanh. Thơ Mới có Hoài Thanh như Poushkin, Gogol, Lermontov có Bélinski . Vậy đó, chỉ có người tài mới biết người tài! Và vinh quang của Thơ mới cũng chính là vòng nguyệt quế đặt ngay ngắn trên vầng trán bậc chân tài, thiên tài Hoài Thanh. Hoài Thanh! Một tầm nhìn bác học. Một sức thần cảm thi bá. Một áng văn ngọt ngào diễm lệ mà khúc triêt oai dũng như tuyên ngôn, như tướng quân dương cao cờ nghĩa nơi trận tiền. Thi nhân Việt Nam, một tình yêu siêu lý, khi sự kết thân đôi bên đã tạo nên một sinh linh hiện thực, xóa bỏ tính vị kỷ cố hữu của mỗi bên.

2. Từ Hoài Thanh thần tượng nhìn rộng ra, tôi mang niềm kính trọng đến các nhà lý luận phê bình. Là vì tôi nhận thấy, trước hết, các anh chị ấy là người có học. Ít nhất họ cũng là người được học nhiều hơn tôi. Sáng tác dựa vào năng khiếu bẩm sinh và vốn sống riêng nên có thể sinh ra văn tài Võ Huy Tâm. Chứ lý luận phê bình thì không có trường hợp nào như thế, họ phải được học hành đào tạo bài bản chính quy đàng hoàng. Xoàng ra, tốt nghiệp đại học xong, họ còn cả một quá trình nghiên cứu học lên. Nhiều người còn tu nghiệp ở nước ngoài. Không hiếm người có văn bằng thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư. Nhà sáng tác như tôi có thể không cần biết đến tiểu thuyết của Dostoievski, của Lev Tolstoy… chứ nhà lý luận phê bình thì thế nào cũng phải lặn lội trong cánh rừng sách vở từ Aristot, Hégel cổ điển đến Pospelov, Bakhtin, Jean Pau Sartre, Rolland Barth hiện đại. Nhà văn Phạm Việt Long, sau bốn năm rưỡi, từ 1997 đến 2002, hoàn thành học vị tiến sĩ với luận án Ca dao tục ngữ về quan hệ gia đình và tình yêu, nói: Mệt nhọc quá! Hơn cả sáng tác, lần đầu tiên tôi thấy mồ hôi nhỏ giọt tí tách trong não bộ mình.

Chuyện truyền miệng vui vui kể rằng, ở một lớp dạy nghề văn nọ, khi khai mạc 30 học viên tham dự thì 28 người có nguyện vọng trở thành nhà sáng tác, chỉ có 2 người đăng ký để trở thành nhà lý luận phê bình. Sau ba năm học nghề, kết quả chỉ có 2 người trở thành nhà văn, còn 28 người thì trở thành nhà lý luận phê bình. Chuyện vui này rõ ràng có hàm ý giễu cợt. Tuy nhiên, mặt khác có lẽ nó còn muốn nói rằng: Để trở thành một người sáng tác là khó lắm. Vâng, khó lắm! Và điều đó cũng đúng với cả nhà lý luận phê bình. Để trở thành một nhà lý luận phê bình thực thụ là khó vô cùng. Thậm chí có khi còn khó hơn cả sáng tác. Chứng cớ là cả một thời kỳ văn học rực rỡ 1930- 1945, điểm danh nhà phê bình tầm cỡ Hoài Thanh khéo chỉ có mình ông, trong khi đó thì giới sáng tác là cả một khu rừng! Nghề này vừa đòi hỏi năng khiếu bẩm sinh vừa cần sự uyên bác. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm năm 1963, tôi đã phải chối từ cơ may được giữ lại trường để tiếp tục học lên, để trở thành nhà nghiên cứu giảng dạy văn học. Vì chỉ nghĩ đến số sách phải đọc, số ngoại ngữ phải học trong quá trình nghiên cứu mà kinh hãi quá!

Quãng đầu những năm 80 thế kỷ trước, tôi vừa dợm chân bước vào văn đàn và có chút ít tên tuổi. Anh trai tôi là phó giáo sư- tiến sỹ ngôn ngữ học Đinh Trọng Lạc lấy chỗ quen biết vì cùng giảng dạy ở Đại học Sư phạm Hà Nội, đề nghị tiến sĩ lý luận Nguyễn Văn Hạnh thử đọc và đánh giá khả năng văn học của em trai mình xem thế nào. Nguyễn Văn Hạnh đáp: Mình không có thì giờ. Lúc này, mình chỉ có thể đọc tầm cỡ như Nguyễn Khải thôi. Cũng vào khoảng thời gian đó, Lã Duy Lan nghiên cứu sinh ở Viện Văn học, bạn thân của tôi, xin làm luận văn phó tiến sỹ về tôi, nhưng giáo sư, viện trưởng Phong Lê, dù rất thân thiết và quý mến tôi, cũng kiên quyết bác bỏ, với lý do: lúc này Ma Văn Kháng chưa đủ tầm để làm luận văn học vị nọ. Tôi không thấy có chút tự ái nào. Tôi kính trọng sự thẳng thắn cương trực của Nguyễn Văn Hạnh và Phong Lê. Họ là những nhà khoa học có nhân cách.

Nói đến các nhà lý luận, tôi thường nhớ đến Phương Lựu. Đến chơi với ông gần như lúc nào cũng thấy ông ngồi ở bàn làm việc. Hỏi thì ông bảo: Mình có ngồi một mình đâu. Mình họp mặt với các cụ đấy chứ. Họp mặt với các cụ! Thì ra trên mặt bàn viết của ông là la liệt trước tác của các bậc tiền bối, từ Karl Marx, Engels, Hégel, Kant, Lê nin… đến Lỗ Tấn, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Hồ Chí Minh… Họp mặt với các cụ, nghe các cụ dạy bảo là công việc thường ngày của Phương Lựu. Và cũng là niềm vui lớn của ông. Vì theo ông, các cụ tiền bối nhà ta: Được mời là đến họp rất đông đủ. Đã thế lại cực kỳ sâu sắc. Sau nữa là trung thực, khiêm tốn, vô tư. Và phát biểu xong là không đòi hỏi phong bì thù lao như anh em mình!

3. Nguyễn Đình Thi là một trong số ít nhà văn lớp đàn anh đã để lại trong tôi những ấn tượng thật đẹp! Ông đẹp từ diện mạo vóc dáng, cử chỉ ngữ ngôn đến tiểu sử, tác phẩm, phong cách. Đẹp đến độ tráng lệ bi hùng. Đẹp và hùng như bài hát của ông. Hà Nội cháy! Khói lửa ngập trời! Hà Nội ầm ầm rung. Hà Nội vùng đứng lên!

Vậy mà hơn một lần ông đã khiến tôi sinh ra nghi ngại và rơi vào trạng thái lưỡng phân nhiều ngày. Năm ấy, ông sửa soạn lên đường đi dự hội nghị hòa bình thế giới ở Helsinki. Đài truyền hình phỏng vấn ông. Sau tất cả những gì sôi nổi, giọng bỗng trầm xuống, ông nói: Các nhà văn chúng tôi có mạnh mẽ gì đâu, chúng tôi yếu ớt lắm. Chúng tôi chỉ có trái tim chân thành thôi. Tiếp đó, trong buổi bế mạc Đại hội Nhà văn lần thứ 3 trước đông đảo quan khách tên tuổi, trên diễn đài, trong không khí vô cùng long trọng và có phần thiêng liêng, không hiểu có phải vì xúc động quá không mà ông bỗng trở nên rối trí và yểu nhược vậy, khi nhận rằng, các nhà văn của ông và ông chẳng qua chỉ là những hạt bụi, những hạt bụi dẫu là những hạt bụi lấp lánh...như ông chua thêm vào, nhưng chung quy cũng chỉ là những hạt bụi của cuộc đời. Kẻ sĩ hay lo buồn! Đành là thế! Đành là một tài năng như Nguyễn Đình Thi lại cũng là một tâm tình nhã nhặn, khiêm nhường. Nhưng cảm giác về những vẻ đẹp ấy của ông không khiến tôi yên lòng, nó không lấn át được mặc cảm yếu đuối ông gây nên trong tôi. Có cảm tưởng người nghệ sĩ lớn này đang sống dưới một áp lực có phần nặng nề. Nó khiến con người ta bối rối và bé nhỏ đi hoặc phải tự giác co mình lại. Phải chăng lúc này đang có một sức ép từ trên đang đè nặng lên ông?

Nghi ngại trong tôi lớn dần và thật sự trở thành một khắc khoải, một áy náy.

Tôi nhớ đến không khí phê bình sáng tác những năm 80 của thế kỷ trước. Thời gian đó, lý luận phê bình là lĩnh vực sôi động chưa từng có. Và người tạo tình hình này là vị trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương. Chính ông đã đặt ra nhiều câu hỏi nghi vấn trước cả loạt truyện ngắn đi tiên phong trong đổi mới của Nguyễn Minh Châu. Nay, ông tả xung hữu đột trên khắp các diễn đàn. Lúc, ông tung hô cuốn này cuốn nọ, như thế này mới là tiểu thuyết, khi ông mắng mỏ người khác là không có tầm nhìn trung ương như tác giả kia. Khổ, có lần tôi được nghe một vị hùa theo ông, rút ra mấy bài học về làm kinh tế từ quyển tiểu thuyết đang được tung hô nọ. Như là: 1. Phải biết liên kết trong sản xuất; 2. Phải biết làm công tác xuất khẩu; 3. Phải biết phát động quần chúng…Trong khi thực chất đó chỉ là những cuốn sách viết phục vụ phong trào kịp thời, đọc được, thể hiện một trình độ thẩm mỹ sơ giản, lồ lộ sự minh họa thôi. Đến tôi nghe còn thấy chướng tai mà lạ chưa: ngồi làm cử tọa của vị nọ, lại là những những tên tuổi lớn trong văn chương nước nhà, trong ban lãnh đạo Hội Nhà Văn đương thời. Biết hết cái lố bịch kệch cỡm sai lầm của cái trò này mà cứ im hơi lặng tiếng hay trình độ chỉ có vậy, không hiểu thế nào là đúng là sai? Về sau thì tôi hiểu. Vì đọc mấy cái hồi ký về thời Đại cách mạng Văn hoá của những Quách Mạt Nhược, Lão Xá, Ba Kim bên Tầu, thấy họ nói sợ Hồng vệ binh, sợ phong trào quần chúng đến mức thất thần, đến mức tưởng là mình thối tha, sai lầm thật, nên trước các cuộc đấu tố chỉ còn biết cúi đầu nhận tội, chẳng dám ho he gì! Về sau thì tôi hiểu, trong một lần họp các nhà văn, có mặt một đồng chí Trung ương uỷ viên, Nguyễn Đình Thi Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam đã trình bày một số đề nghị về sự lãnh đạo của Đảng, trong đó ông nhấn mạnh: Với mọi sự việc, xin đừng bao giờ phát động thành phong trào. Trước áp lực của cái gọi là phong trào, trước uy lực của chính trị, văn nghệ sĩ nhiễm bệnh tự kỷ ám thị, thấy mình yếu ớt hèn kém lắm, và điều đó đã trở thành phổ biến ở nước ta và các nước trước đây trong phe xã hội chủ nghĩa mất rồi!

Vậy là đã có một thời lý luận phê bình được giao cho trọng trách là cây roi quất cho con ngựa sáng tác lồng lên. Một cây roi! Tất nhiên ẩn dụ của hình ảnh cây roi quất không phải là xấu xa hoàn toàn, khi nó chỉ muốn nhấn mạnh vào yếu tố thúc đẩy, kích thích sự sáng tác của lý luận phê bình. Tiếc thay, hình tượng cây roi, theo quy luật suy diễn thông thường đã khiến cho ý nghĩa tốt đẹp nếu có cũng bị méo mó, sai lệch đi. Cây roi! Hình ảnh này làm ta nhớ đến cây roi mây treo ở vách nhà của cha ta, treo ở tường lớp học của thầy học ta. Cái roi quở phạt. Cái roi răn dạy. Lẽ tất nhiên cũng là cây roi bạo tàn, cây roi chuyên chế! Và như vậy, nhà lý luận nghiễm nhiên trở thành người lính gác cổng, là người dò mìn, là thanh gươm của cận vệ quân. Thành ra lởn vởn đây đó vẫn còn lưu hành câu chuyện một thời mà tôi tin là đã bị phóng đại, là có nhà lý luận phê bình hàng tháng lên gặp Ban tuyên giáo xin nhận định đánh giá từng tác phẩm và về viết theo lời chỉ dẫn đó hỏi có kỳ không?

Cứ cho là những người chủ trương lý luận phê bình là cây roi quất con ngựa sáng tác không mang động cơ vụ lợi cá nhân đi. Thì cũng phải thấy rõ ràng tác hại của nó là khôn lường. Độc quyền ban phát lẽ phải, những người này thực hiện lối phê bình quyền uy thô bạo, bất bình đẳng. Tự cho mình đặc quyền của kẻ phát ngôn chân lý, nó thực hiện kiểu phê phán một chiều, áp đặt, quy chụp, không cho cãi. Vũ Bão hóm hỉnh bẩm sinh gọi các tác giả bị phê phán là những nhà văn bị cấp trên lườm nguýt. Nghĩa rằng coi phê bình kiểu này là phê bình của đấng bề trên. Thế đấy, dân mình nghèo đói mà yêu văn chương mà nhạy cảm về chính trị ít ai bằng! Đã thế lại thêm rất sẵn lòng tin tuyệt đối vào cấp trên. Nên, có khi chỉ một lời nhận xét của thượng cấp, một câu nhận định trong bài điểm sách in trên một tờ báo lớn, rằng thì là cuốn truyện này tập thơ nọ có vấn đề, là lập tức tác giả của nó, cũng theo lời Vũ Bão, đã trở thành một kẻ mang tiền án tiền sự khó bề thanh minh thanh nga rồi! Nhưng mà thôi, nói làm gì nữa cái kiểu phê bình quyền uy chuyên chế của một thời đã qua này, mặc dầu cùng các nguyên nhân sâu xa khác nữa, nó đã là một nhân tố góp phần gây nên bao oan khổ cho nhà văn, đã tạo thành các kỳ án quái lạ, đã khiến cho văn chương trở thành một công việc bất trắc hiểm nguy khôn lường!

4. Tôi, một kẻ mang bản tính rụt rè nhát nhúa, lại sinh ra và làm việc nhiều năm ở môi trường tỉnh lẻ. Thời làm nhà báo tỉnh, đi họp tôi ngồi ru rú ở tận cuối hội trường. Ở các cuộc họp đông người, tôi ngại ngần nói năng bộc lộ mình. Chẳng dám tự tin gì ở mình, thấy người ta to tiếng là tôi thu mình lại. Văn chương sĩ khí gà phải cáo. Thành ra đó cũng là một lý do khiến tôi, dù có lúc đang ở cảnh thường bỗng rơi vào cảnh biến thì cũng tự an ủi, rằng đúng là: Văn chương tăng mệnh đạt – Văn chương ghét kẻ gặp may như thi bá Đỗ Phủ đã viết, nên cũng chỉ biết ngậm ngùi chịu đựng chứ chẳng dám nói năng gì!

Tuy vậy, tôi cũng chưa bao giờ dị ứng với lý luận và phê bình. Với tôi, các nhà lý luận là những đồng nghiệp, những đồng nghiệp cấp cao do hàm lượng trí tuệ của họ cao, nhưng chưa bao giờ họ là cấp trên của tôi cả. Với tôi, cuộc sống cần triết học thế nào thì sáng tác cũng cần lý luận như thế. Phong Lê, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức… là những nhà lý luận phê bình tài năng tôi may mắn được quen thân nhiều năm. Các anh, nói theo ngôn ngữ của kinh tế học hôm nay, luôn đóng vai trò nhà tư vấn về nhiều phương diện cho tôi. Phong Lê đến với tôi luôn đúng lúc. Đúng lúc, chẳng hạn năm 2000, khi tôi viết xong cuốn Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, nhà lý luận này bảo tôi: Bây giờ độc giả không mong đợi tiểu thuyết hay truyện ngắn ở anh nữa, cái họ mong chờ ở anh là… hồi ký. Và đó là một lý do khiến trong hai ba năm sau đó, tôi đã viết xong cuốn hồi ký của đời mình. Vì sao có được lời dẫn đường cho một cánh bay đang la đà trên bầu trời mênh mông vô định quý giá vậy? Vì như một dấu chứng nghề nghiệp, các anh ấy có được cái nhạy cảm của một tầm nhìn văn học sử. Nguyễn Ngọc Thiện đọc rất đều sáng tác của tôi và thường xuyên giúp tôi chỉnh sửa các sai sót ở tầm vĩ mô và vi mô. Chỉ một bài viết về truyện ngắn mà tiến sĩ La Khắc Hòa sâu sắc và tinh tế đã xác định được các đặc điểm mỹ học trong các sáng tác của tôi. Cùng từ Đại học Sư phạm Hà Nội xuất thân, Trần Đăng Suyền là nhà lý luận chuyên nghiệp đầu tiên viết phê bình những cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi. Với năm bài viết in liên tiếp trên các báo chí Văn học trong năm 2012, PGS- TS Đoàn Trọng Huy kính mến đã khái quát cả quá trình sáng tác và những đặc điểm quan trọng nhất trong các tác phẩm của tôi. Chính là nhờ Phạm Xuân Nguyên mà tôi đến được với hai lý thuyết đặc biệt quan trọng của thể loại tiểu thuyết, một của Ortéga Y Gasset, một của M. Kundera. Như một tờ giấy thấm – biết trân trọng, lắng nghe, tôi tự hào là người đọc gần như không thiếu một bài viết quan trọng nào của các cây bút lý luận phê bình nước ta. Từ thế hệ đàn anh đến lớp các anh chị mới vào nghề. Từ các nhà lý luận có học vị cao đến những người điểm sách ở các báo chí truyền thông. Từ các tác giả có tên tuổi, có uy tín đặc biệt làm việc ở Viện văn học, ở các trường Đại học, các tổ chức văn học đến các những cây bút nghiệp dư đột xuất nổi trội… Ai cho tôi một ý tưởng nhỏ, một câu văn hay, tôi cũng ghi tạc. Giàu vì bạn. Anh bạn lý luận là một người rất giàu có và lý thú. Tôi nghĩ, chả dại gì mà các nhà sáng tác không kết thân với họ! Trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ những năm gần đây thôi, để ý, tôi cũng đã thấy có nhiều cặp đôi sáng tác và lý luận quan hệ đã có dáng dấp Bá Nha -Tử Kỳ rồi đấy. Nguyễn Tuân và Nguyễn Đăng Mạnh là một trong rất nhiều ví dụ chẳng hạn. Tôi có cảm tưởng, ít ra thì bên sáng tác đó đây cũng có được các công trình có ý nghĩa tổng quát trong đánh giá, nhận định các thành tựu; trong khi đó thì việc này hình như lại thưa vắng ở bộ môn lý luận. Mặc dầu vậy, lại là kẻ ngoại đạo, nhưng tôi vẫn có thể kể tên cả loạt các tác phẩm của các nhà lý luận có ảnh hưởng sâu sắc đến tôi, trong đó đặc biệt là các công trình nghiên cứu về các tư trào văn chương, các lý thuyết sáng tác hiện đại, các tác giả thế giới và trong nước, từ Dostoievski đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… từ Tản Đà, Vũ Trọng Phụng đến Nguyễn Tuân, Nam Cao…

Lý luận văn học là một bộ môn khoa học lớn, tồn tại độc lập và phát triển theo quy luật nội tại của nó. Nó có quan hệ hữu cơ với sáng tác, có tác động lớn đến sáng tác, kể từ tầm xa đến tác dụng kịp thời. Công cuộc đổi mới nền văn học của chúng ta nhịp cùng công cuộc đổi mới chấn hưng đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Tuy nhiên, theo tôi, xét về tác động nội tại thì cũng phải kể đến phần công lao của lý luận; trong đó nổi bật là ba sự kiện sau đây: 1. Sự phát hiện ra chủ nghĩa hiện thực phải đạo của Hoàng Ngọc Hiến, 2. Bản đề dẫn của Nguyên Ngọc, 3. Lời kêu gọi đọc lời ai điếu cho thứ văn chương minh họa trong văn học nước nhà, một đóng góp xuất sắc về lý luận của Nguyễn Minh Châu. Tôi nghĩ: Ba hiện tượng lý luận nọ đã làm rung chuyển đến tận nền tảng tư duy và phương pháp luận sáng tác của các nhà văn thế hệ tôi.

Gạt ra khỏi đầu óc những cái mang danh là lý luận phê bình mà thật ra chỉ là trò đánh tráo khái niệm, những quái trạng dùng chữ để mưu cầu danh lợi, thì gốc gác mâu thuẫn của tôi và các nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp, chung quy cũng vẫn là sự chênh nhau về cảm thụ và nhận thức; trong đó về phần tôi xưa rày vẫn là có cái tiềm thức văn chương tự kỷ, tha nhân lão bà. Nhưng mà tôi nghĩ, tình trạng ấy cũng là tự nhiên và chẳng có gì đáng phàn nàn cả. Hai ta cứ đường ngay lối thẳng mà đi! Biết đâu, đó cũng là cái cách thức để cả hai cùng đồng thời phát triển! Biện chứng cuộc sống vốn là thế mà!

5. Đó là những năm chín mươi của thế kỷ trước, công cuộc đổi mới khởi đầu từ Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, đang trở thành cao trào sôi nổi trong văn học. Lúc này, về tiểu thuyết Nguyễn Dậu đã cho công bố liên tiếp Nàng Kiều Như, Nhọc nhằn sông Luộc, Xanh Vàng Trắng Đỏ Đen. Và bây giờ đầu năm 1993, bản thảo cuốn Chúa Trời ngủ gật của ông được đưa đến nhà xuất bản Lao động chúng tôi. Đây là một cuốn tiểu thuyết viết rất có nghề. Nội dung của nó là cuộc sống của các phạm nhân, trong đó có tù nhân chính trị, trong một trại giam. Nằm trong mạch cảm hứng đề cao lẽ phải và tôn trọng sự thật, trên cái nền của văn xuôi nhập cuộc, tiểu thuyết có sức hấp dẫn nhất định. Tuy nhiên, cuốn sách cũng động chạm tới một vùng nhậy cảm của xã hội, cần phải biên tập thận trọng kỹ lưỡng. Cuối cùng, sau khi cắt và sửa chừng 50 chi tiết, bản thảo đã hoàn chỉnh và chuyển đến giám đốc Xuân Cang. Xuân Cang là nhà văn nổi tiếng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Là người lãnh đạo quả quyết, dám chịu trách nhiệm vì trình độ vững vàng và kinh nghiệm công tác lâu năm, nhưng Xuân Cang lại là con người mềm mại, giàu chất nghệ sĩ, rất hồn nhiên chân thật trong cuộc sống.

Xuân Cang đọc Chúa Trời ngủ gật rất hào hứng và đồng ý ký duyệt in.

Cuốn sách vào nhà in và xuất xưởng. Và những tưởng cuốn sách sẽ ra mắt bạn đọc thì hóa ra chúng tôi chủ quan. Kết cục là cuộc đấu tranh bảo vệ cuốn sách kéo dài liền nửa năm trời với kết cục là thất bại thuộc về chúng tôi và nhà văn Nguyễn Dậu. Thực hiện mệnh lệnh của thượng cấp, ngày 9 tháng 9 năm 1993, Nhà máy in Thống nhất đã kiểm kê toàn bộ số bìa và ruột sách cuốn Chúa Trời ngủ gật, gồm 994 cuốn tập 1, 984 cuốn tập 2, 1017 bìa chính phẩm, 202 bìa phế phẩm và đem cất vào kho, niêm phong lại. Tiếp đó, ngày 23 tháng 11 năm 1994, thực hiện công văn số 1067 QĐTLĐ của Đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội đồng xử lý cuốn sách họp tại Nhà máy in Thống nhất đã kiểm kê số sách đã niêm phong trong kho được 402 ki lô gam, rồi bốc tất cả lên xe để chở đi hủy tại Cơ sở Xeo giấy của ông Trưởng thôn Đào Xá, Yên Phong, tỉnh Hà Bắc.

6. Sách in ra, bị cấm phát hành, bị thu hồi, bị hủy bỏ. Chuyện ấy không lạ. Báo Văn nghệ số 37 ra ngày 15 tháng 9 năm 2012 đăng ở trang 13 danh sách Mười kiệt tác thế giới bị cấm. Trong đó có cả Chùm nho uất hận của Jhon Steinbeck, giải Nobel văn học. Có cả Những vần thơ của quỷ Sa tăng của Ahmed Salman Rushdie, nhà văn Anh gốc Ấn Độ. Ông này bị thế giới Hồi giáo phê phán kịch liệt và treo giải lấy đầu tới giá 3 triệu 3 đô la. Luật xuất bản nước ta cũng quy định các điều cấm kỵ với các xuất bản phẩm. Bảo vệ an ninh quốc gia là lẽ tự nhiên của bất cứ thể chế nào. Nên việc Chúa Trời ngủ gật bị xử lý vì đã vi phạm điều luật cấm kỵ, có thể là việc đã xong, thôi khỏi phải bàn ở đây nữa, vì nghĩ rằng, có dính dáng gì đến phạm vi ta đang bàn là quan hệ giữa nhà sáng tác và nhà phê bình?

Nghĩ vậy mà hóa không phải vậy? Là bởi vì, cùng với quyết định thu hồi cuốn sách của Nguyễn Dậu theo lề luật quy định của chính thể, chúng tôi và những người thực thi pháp luật còn có những cuộc tranh luận về học thuật, trong đó chúng tôi là nhà sáng tác và các vị ấy thủ vai các nhà phê bình. Vâng! Nghĩa là lĩnh vực này một lần nữa chứng tỏ tính dân chủ rộng rãi của nó, bất cứ ai, chẳng kể là nhà lý luận chuyên nghiệp, cũng có thể tham gia vào cuộc thẩm định luận bàn. Và như vậy, là đã có hẳn vài cuộc tranh luận, có trao đi đổi lại, có cãi cọ nhau về văn chương thật sự giữa đôi bên, chứ không phải phán quyết một chiều như kiểu phê bình ra roi như trên kia.

Năm 1972 tôi viết truyện ngắn Mùa cốm. Truyện ca ngợi vẻ đẹp trữ tình khi mùa làm cốm tới ở một làng Tày, nơi một thanh niên sắp từ biệt lên đường ra trận. Kỹ thuật viết còn non nớt, truyện ấy của tôi chỉ ở mức đọc tạm được. Nhưng năm ấy, khi thấy nó xuất hiện trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, thì vị Trưởng Ban tuyên giáo tỉnh Lao Cai của tôi, tức tốc gọi tôi lên và phê bình tôi vô cùng gay gắt. Nội dung phê bình là: Tỉnh ta đang thiếu lương thực, Tỉnh ủy đã ra chủ trương cấm làm cốm, vậy chuyện này có phải là chống lại chủ trương của Tỉnh ủy không?

Đành rằng hiện thực cuốn Chúa Trời ngủ gật phản ánh là có. Nhưng văn học phải phục vụ đường lối, chủ trương, chính sách chính trị. Vậy cuốn sách này xuất bản vào thời điểm này có lợi gì? Hay nó chỉ gây hại! Đó là ý kiến của phía phê phán cuốn sách của Nguyễn Dậu. Trong khi đó, ở phía bảo vệ nhà văn, Xuân Cang nói rõ như sau:

Tác phẩm này giúp người đọc hướng về cái thiện, chua xót về cảnh đời nhưng bình tĩnh nhìn ra để thấy cái gì cần phải từ bỏ. Phải ra một cuốn sách thế này để bạn đọc biết rằng trí thức nước ta đã trải qua bước đường oan nghiệt thế nào và phải làm gì để liên minh công nông với trí thức, nếu muốn thi hành nghị quyết Đại hội Đảng ta cho tốt cho đúng.

Nghĩa là vin vào tình hình hiện thời, một bên, tức người có quyền lực đóng vai nhà phê bình, thì quả quyết rằng cuốn sách ra đời lúc này là bất lợi. Trong khi, ngược lại, bên phía nhà sáng tác thì khẳng định, xét về lợi ích cơ bản và lâu dài cuốn sách xuất bản lúc này là cần thiết. Cả hai đều nhân danh quyền lợi đất nước!

6. Sự kiện này đã qua hơn cả chục năm rồi và đâu phải là đã qua hẳn. Ngẫm nghĩ về nó, tôi tự rút ra những hệ luận sau: a/ Trong khi nhà văn say sưa về cái tầm xa của chức năng văn học thì nhà phê bình nọ yêu cầu văn học phải phục vụ sát sạt chủ trương và thực tế xã hội từng thời đoạn. Đó là mâu thuẫn có tính truyền thống và không bao giờ giải tỏa được, nếu mỗi bên không tiến lên một bước. b/ Tiến lên một bước về phía nhà phê bình nọ là thế nào, thật tôi đang còn rất mơ hồ. Còn về phía nhà sáng tác, bước tiến lên để giải tỏa mâu thuẫn này, theo tôi đơn giản nhất là… hãy viết cho hay. Viết cho hay! Và muốn viết cho hay, thì cùng với vấn đề viết cái gì, phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề viết thế nào! Viết cho hay! Nghĩa là phải có nghệ thuật cao cường. Nguyễn Dậu dũng cảm phơi bày một thực trạng xã hội bê bối trong tác phẩm của mình, nhưng các trang viết của ông đầy rẫy sơ hở và chúng đã trở thành những cái cớ để nhà phê bình phản bác chê bai. Thế đó! Tôi thường nghe nói, truyện tiếu lâm lưu hành trong các nước phe xã hội chủ nghĩa trước kia, hay hơn, đặc sắc hơn truyện tiếu lâm trong các nước tư bản. Vì sao thế? Vì, nó phải đủ khôn ngoan, tinh tế để qua mặt được vòng lưới kiểm soát. Nguyễn Minh Châu có lần nói: Đi qua được các gọng kìm kiểm tra ngặt nghèo mới là nghệ thuật siêu đẳng. Nguyễn Kiểm, nguyên Cục trưởng Cục Xuất bản, bạn thân quý của tôi có lần bảo tôi: Phê phán cái xấu xa tiêu cực, khiến nó đau uất, mà không bắt bẻ được mới là nhà văn cao tay nghề! Chí lý! Chung quy, không cần trách cứ hoàn cảnh. Vượt qua cái ngặt nghèo của hoàn cảnh mới là nghệ thuật đích thực! Quả bóng phạt trực tiếp đặt ở chấm phạt đền cách thủ môn 11 mét đây. Tôi là cầu thủ sút. Anh là thủ môn bắt bóng. Chúng ta đối mặt nhau. Mọi sự chuẩn bị đều có thời gian để hoàn tất. Còi lệnh trọng tài nổi. Tôi giơ chân sút. Anh bay người bắt bóng. Tất cả đều công khai minh bạch. Không hề có chuyện khuất tất ở đây. Vậy mà… cuối cùng, anh thấy rồi nhé: quả bóng tôi đá đã nằm gọn trong lưới của anh rồi! Quả bóng tôi sút bằng cái tài của một cầu thủ chuyên nghiệp bậc cao tầm cỡ Ronaldo đã bay đàng hoàng vào lưới của anh!

Viết cho hay! Là vì khi viết bài này, điểm xuất phát của tôi chỉ là nhận thức và cảm hứng của một cá nhân, trong đó đặc biệt là lòng ngưỡng mộ của một người sáng tác trước ngôi đền vinh quang Thi nhân Việt Nam. Tất nhiên, tôi biết, đã có chuyện kể rằng: Đời Đường bên Trung Hoa, Lý Phi cao giọng chê thơ Lý Bạch, Nguyễn Chẩn là dâm diễm, phóng túng, nhưng rốt cuộc sau ngàn năm, người đời chỉ biết đến Lý Bạch và Nguyễn Chẩn, còn chẳng có ai biết đến Lý Phi! Tất nhiên, ai cũng biết đến sự bất lực, hạn hẹp của lý luận. Nhưng mỹ nhân chỉ trở nên đẹp trong mắt khách đa tình trước sau vẫn là quy tắc phổ quát. Có Thơ Mới ắt có Hoài Thanh. Đó là quy luật đối xứng trong nội tình văn chương. Lý luận phê bình là chất xúc tác, là bà đỡ, là bảo hiểm, là xương cốt của một nền văn học. Thi nhân Việt Nam, một hình ảnh tầm cỡ như vậy lẽ nào lại không mang tính tiên tri, không là một kích thích, một ước mơ. Sự hưng vượng của một nền văn học lớn trong đó dứt khoát bao gồm sự song song phát triển đồng bộ của cả hai lĩnh vực: sáng tác và lý luận phê bình!

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương sáng tác và cây roi phê bình. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

Chú thích 1: V.G. Bélinski sinh năm 1811, mất năm 1848. Nhà phê bình văn học và triết học nổi tiếng Nga. Người đầu tiên đánh giá được ý nghĩa xã hội và thẩm mỹ những tác phẩm của Poushkin, Gogol, Lermon tov.