PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU


 Dạo ấy tôi công tác ở Lao Cai. Lao Cai, tỉnh địa
đầu của đất nước. Một vùng địa lý nhân văn đặc sắc của hai mươi bốn dân tộc anh
em. Một bảo tàng còn lưu giữ gần như toàn vẹn không khí và hiện vật của lịch sử
thời hiện đại. Lao Cai, miền biên viễn xa xăm với những câu chuyện li kỳ gợi hứng
cho các nhà văn viết tiểu thuyết đường rừng mạo hiểm. Lao Cai có cây cầu Hồ Kiều,
tương truyền là nơi Phạm Duy đã ngồi viết bản nhạc Bên cầu biên giới, lại
cũng là phối cảnh của một truyện ngắn xuất sắc của Thế Lữ. Lao Cai, những ngày
cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, nghe nói Văn Cao đã lên đây,
làm việc ở quán bar có tên là Biên Thùy, tay gẩy đàn guitare, gài súng
ngắn revolver ở thắt lưng, trong vai một tình báo viên. Còn cuối năm 1950, kết
thúc Chiến dịch Biên giới giải phóng Lao Cai, Trần Dần, Lê Đạt đã ngồi ở đầu cầu
Cốc Lếu uống rượu vang chiến lợi phẩm, đọc thơ siêu thực và bàn về thơ Việt hiện
đại. Trong khi, cách đầu cầu Cốc Lếu hai cây số là thôn Vạn Hòa, đất trồng cam
quýt và hoa, đêm ấy công diễn vở kịch Đêm Lao Cai của Hoàng Cầm. Mê say
những câu chuyện thời tiễu trừ thổ phỉ, Hải Hồ cũng đã đến thị trấn Bắc Hà, đứng
trước tòa dương cơ của thổ ty Hoàng Yên Chao, trầm ngâm nhà văn nói với tôi rằng:
Mảnh đất này đang giấu một cuốn tiểu thuyết sử thi trường thiên! 

 Lao Cai hấp dẫn văn nhân còn vì có những
huyện vùng cao khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm. Đặc biệt, Lao Cai có Sa Pa,
vùng nghỉ mát nổi tiếng từ trước cách mạng. “Thống nhất đất nước, còn phải đi
các vùng đất phương Nam, chắc sẽ ít có dịp lên đây”. Tế Hanh nói vậy và đã nhiều
lần cùng Nguyễn Hải Trừng lên Sa Pa, thăm mấy nông trường nuôi bò sữa có các
anh em bộ đội miền Nam tập kết làm việc. 

 Nguyễn Thành Long cũng hay lên Lao Cai.
Ông thường đi với Đào Xuân Quý. Có khi có thêm Xuân Quỳnh vừa đi thực tế vừa học
hỏi thêm tiếng Pháp ở hai bậc đàn anh. Nguyễn Thành Long và Đào Xuân Quý quê ở
miền Trung. Ý nghĩ có lẽ có phần như Tế Hanh. Riêng Nguyễn Thành Long, đi là một
nếp sống, một cái nghiệp chướng của đời ông. Đọc những sáng tác của ông thì thấy
dấu chân ông đã in ở nhiều nơi. Chẳng hạn truyện ngắn Trùng khơi là kết
quả của chuyến đi biển. Buổi sáng thần tiên là kỷ niệm chuyến đi Hà
Giang của ông. Với Lao Cai, Nguyễn Thành Long là thượng khách và ông cũng ưu ái
đặc biệt vùng đất này. 

 Mùa thu năm ấy, Nguyễn Thành Long một
mình lên Lao Cai. Mục tiêu chuyến đi của ông là Sa Pa, cách thị xã Lao Cai hơn
ba mươi ki lô mét. Cũng chưa hiểu ông định viết gì ở vùng đất này. Nhưng với
ông, tôi nghĩ, không khó khăn gì để có được một truyện ngắn đọc được, một truyện
ngắn để nộp khoán định mức (một nhà văn công tác ăn lương ở Hội, một năm phải
có được 80 trang in không nhận nhuận bút). Đang là mùa mưa, đường đi Sa Pa vì đất
núi sạt lở nên ông phải nằm chờ lại và ăn nghỉ ở tòa soạn báo Lao Cai,
nơi tôi công tác. Hai ngày chờ đợi qua. Trò chuyện văn chương, thế sự với mấy
anh em nhà văn trẻ rồi cũng mệt, ông hỏi mượn tôi xấp báo Lao Cai lưu để
đọc. Cũng chỉ nghĩ ông đọc để giải khuây, để giết thì giờ. Nào ngờ đọc được một
lát, ông chồm ngay dậy, gọi tôi, chỉ vào một trang báo đăng chuyện Người tốt
việc tốt, hỏi: Ma Văn Kháng có quen biết cậu Nguyễn Văn Ngọ, nhân viên Đài
khí tượng trên đèo Hoàng Liên Sơn này không? Tôi đáp: Cậu này là học trò lớp mười
của em, tốt nghiệp trung học xong, cậu ấy vào làm việc ở Đài Vật lý địa cầu Sa
Pa. Nguyễn Thành Long nghe đến đấy thì thở phào và mắt sáng lên. Ngay chiều hôm
đó, tôi sang Văn phòng Tỉnh ủy xin ô tô đưa ông lên Sa Pa ngay và viết thư tay
giới thiệu nhà văn với anh Ngọ, nhân viên khí tượng, học trò cũ của tôi. 

 Anh Nguyễn Văn Ngọ, nhân viên trạm khí
tượng trên đèo Hoàng Liên Sơn. Sống và làm việc trong cảnh cô đơn quanh năm suốt
tháng một thân một mình, đến mức thèm gặp người quá, có hôm anh đặt liều một
thân cây lớn ngáng qua để chiếc ô tô khách đi Lai Châu phải đỗ lại. Để anh được
nhìn thấy người và trò chuyện với họ vài ba phút. Nguyễn Văn Ngọ, người tốt việc
tốt trong chuyên mục nọ, không ngờ lại là cái điểm nhìn chú mục của nhà văn
Nguyễn Thành Long trong chuyến đi này. 

 Tiễn Nguyễn Thành Long đi Sa Pa rồi, tôi
trở về với công việc của mình. Cứ nghĩ, ít ra thì cũng vài ngày nữa, nhà văn mới
trở ra. Nào ngờ, mới chỉ hôm trước hôm sau đã thấy Nguyễn Thành Long gọi điện
cho biết sẽ ra Lao Cai ngay và nhờ mua hộ vé tầu hỏa để ngay đêm đó ông trở về
Hà Nội. 

“Mình cần phải về Hà Nội ngay!” Đón ông, không
kịp hỏi điều gì, ngay chiều tối hôm đó ông đã vội vã ra ga lên tầu xuôi Hà Nội.
Tôi ra về, lòng dạ vừa ngẩn ngơ vừa băn khoăn. Hay là mình có điều gì thất thố
với nhà văn đàn anh? Hoặc Ngọ trong Sa Pa có điều gì sơ suất trong đối xử khiến
nhà văn phật lòng?  

Mặc cảm nặng nề trong chúng tôi chỉ thật sự
tiêu tan khi gần tháng sau, tôi nhận được thư của Nguyễn Thành Long. Ông cho biết
đã viết xong truyện ngắn mang nhan đề là Lặng lẽ Sa Pa. Và nói thêm: 

 – Cảm xúc một khi đã xuất hiện, ý tưởng
truyện một khi đó hình thành, lập tức phải bịt kín tất cả các lối vào của các cảm
giác, ý nghĩ khác, chỉ chăm chăm một hướng duy nhất đó. Nói như người xưa: phút
giây thiêng đã xuất hiện, lập tức bàn tay thiêng phải nắm lấy. Đó là lý do của
việc trở lại Hà Nội ngay tắp lự của mình đã làm Kháng ngạc nhiên đó! 

 Ôi cái phút giây thiêng! Sau này khi đã
có thêm những năm tháng sống với nghề, tôi mới hiểu hết cái ý nghĩa của phút
giây kỳ diệu này. Đó là khoảnh khắc, trước đó không có, và sau đó cũng không thể
có. Đó là cái giây phút cảm hứng dâng trào làm bùng nổ cái khối lượng tình cảm,
hiểu biết tích lũy thường trực trong mình. Đó là khi xuất hiện cơn thần hứng có
khả năng tổng hợp tất cả những gì đã có và đang còn tản mát trong ta, tập hợp
chúng lại thành một chỉnh thể, cùng với một hệ thống ngôn từ tương ứng bất thình
lình hình thành một cách thật tự nhiên và đổ ào ào rồi xếp hàng ngay ngắn trên
trang giấy của ta. Đó là tia lửa bừng sáng rọi vào khoảng không cũng mù mờ mịt
mùng. Đó là khoảnh khắc thăng hoa, xuất thần. Đó là cái duyên kỳ ngộ. Đó là cái
may mắn Trời cho vô cùng quý giỏ. Mà nhà văn phải bằng linh cảm nhạy bén nhận
ra ngay để lập tức chớp lấy thời cơ, không để nó buột ra khỏi tầm tay mình. Để
rồi tiếp theo sẽ là những ngày mê man trong cơn thác lũ của chữ nghĩa, quên
lãng cả những nhu cầu tối thiểu, như kỵ sỹ đã leo lờn lưng con tuấn mã, chỉ
nhăm nhăm một cái đích đi tới. 

 Chà! Phút giây thiêng đó xuất hiện thì
bàn tay thiêng phải nắm lấy! Phân tích tỉ mỉ hơn thao tác của Nguyễn Thành Long
thì thấy, rõ ràng là, sau khi sơ ngộ ra anh nhân viên khí tượng Nguyễn Văn Ngọ
là đối tượng tìm hiểu của mình, thì lập tức trong tâm tư nhà văn đã bừng lên một
cảnh giới thẩm mỹ và cảnh giới này tức khắc đã chiếm trọn toàn bộ ý thức ông.
Nói cách khác, ông đã thực hiện một sự tụ hội tinh thần thực sự là cực đoan, để
tất cả tinh thần của mình chỉ tập trung vào một đối tượng duy nhất, để đối tượng
này trở thành một thế giới riêng rẽ, biệt lập. Bịt kín các lối vào của các cảm
giác, ý nghĩ khác. Đó là cách nói của Nguyễn Thành Long. Nghĩa là gạt bỏ đi
tất cả những gì là tản mạn, là phồn phức tạp loạn của thế giới thực dụng, chỉ
giữ lại trong mình một ý tượng đơn thuần duy nhất. Như vậy cũng có nghĩa là nhà
văn phải đoạn tuyệt với cách nhìn sự vật bằng con mắt tầm thường, và nhờ vào
cái nhìn mỹ cảm tập trung cao độ mang tính phát kiến, ông đã biến đổi hoàn toàn
giá trị của sự vật, làm siêu thoát sự vật vì đã đem cá tính, nhân cách của mình
gắn vào sự vật. Phải bỏ đi tất cả, nhiên hậu mới có được tất cả. Đó
chính là một quy tắc quan trọng của nghệ thuật mà Nguyễn Thành Long đó thực hiện
ở sáng tác này. 

Lặng lẽ Sa Pa là
truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Nguyễn Thành Long. Tác phẩm đã nằm trong
sách giáo khoa của bậc trung học phổ thông nước ta nhiều năm nay. 

K. Paustovsky, nhà văn Nga Xô viết gọi cỏi
giây phút kỳ diệu ấy là sự xuất hiện tia chớp. Tia chớp hỡnh thành và xuất
hiện như thế nào? Pau giải thích bằng một ví dụ lấy từ thiên nhiên rất dễ hiểu
như sau: trên bầu trời, các đám mây tích tụ lại dần dần mỗi lúc một dầy đặc,
cho đến độ ứ đầy, căng thẳng, bão hòa thì sẽ phát sinh những đám mây giông bão
và lúc đó thì không thể tránh khỏi sự phóng điện. Nói cách khác, điều kiện đầy
đủ để tia chớp xuất hiện chính là sự ứ đầy căng thẳng bão hòa của các đám mây
tích điện.  

 Tất nhiên để có tia chớp soi tỏ, đánh lửa
còn cần một yếu tố kích thích. Và cái gọi là yếu tố kích thích này trong
điều kiện đã viên mãn như đã núi ở trên, xem ra cũng không có gì là phức tạp
cho lắm.  

Một cây ngưu bàng gẫy Lev Tolstoy chợt nhìn thấy
đã thành nhân tố kích thích để văn hào nảy sinh cảm hứng viết nên kiệt tác văn
xuôi Khatgi – Murat. Thì cũng là một khởi đầu giản dị như nhìn thấy quả
táo rơi là cái điểm bắt đầu của định luật hấp dẫn của Newton vĩ đại. Đó là những
ví dụ kinh điển. Điểm khởi đầu đóng vai trũ tia chớp nhiều khi thật quá nhỏ
nhoi. Vì có thể chỉ là một ánh mắt, một hơi gió, một vạt nắng, một giấc mơ, một
cảnh huống, một trò chơi, một tiếng còi tầu, một cuộc gặp gỡ tình cờ. Như là cuộc
gặp gỡ của Nguyễn Thành Long với Nguyễn Văn Ngọ nói ở trên. Nghĩa là mọi thứ
đang tồn tại quanh ta, ở trong ta, có khi là rất vu vơ, đều có thế đóng vai trò
tia chớp, cú hích để nẩy sinh cảm hứng sáng tạo. 

 Tất nhiên tia chớp chỉ có thể đóng vai
trò xúc tác cho sự xuất hiện của cảm hứng một khi trong Nguyễn Thành Long đã có
đủ những chất liệu và cảm xúc cho một Lặng lẽ Sa Pa còn đang ở dạng tiềm
tàng. Cũng như nếu L. Tolstoy trước đó đó không đến Kavkaz, không được biết,
không được nghe người ta kể chuyện Khatgi – Murat thì cảnh cây ngưu bàng
gẫy cũng chẳng có ý nghĩa gì với ông. Điều kiện một khi đã chín muồi, thì vấn đề
còn lại sẽ chỉ là thời cơ. 

 Pau viết: cảm hứng giống như mối tình đầu,
khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ li kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt
trần, những nụ cười và những câu nói dang dở. Lúc đó thế giới bên trong của
chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm
thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất, khó nhận thấy nhất. 

 Chỉ đẩy nhẹ thôi thuyền kia đã xuống  

 Khỏi bãi cát vàng nước triều san phẳng 

Một đợt sóng – và thuyền đi xứ khác 

Đón gió lành từ những bờ hoa 

 Một nhà thơ Nga đó hình tượng hóa sức mạnh
kỳ lạ của cảm hứng như vậy. Trong khi Puskin viết: Cảm hứng đến là lúc tai ta
nhận được lời thần. Còn Lermontov thì cho rằng, đó là lúc mối lo âu trong tâm hồn
ta lắng dịu đi. Và Pau thêm: cảm hứng có màu sắc thơ riêng biệt, cảm xúc có cái
ẩn ý thơ.  

 Đúng vậy, cảm hứng! Inspiration!
Yên-sĩ-phi-lý-thuần, đó là một trạng thái thần khởi thoải mái, đến một cách
bất thần và kích thúc mạnh mẽ năng lực tiếp nhận hiện thực và sáng tạo bay bổng
của con người. Ai trong đời mình mà đã không trải qua những phút giây cảm hứng.
Turgenev, nhà văn Nga gọi cảm hứng là trạng thái Trời đến gần ta, để diễn
tả cái chất hướng thượng có tính thần thánh trong cảm nhận và xúc động của con
người. Rất đáng chú ý khi ông cho rằng, cảm hứng là một trạng thái tinh thần phức
hợp, trong đó có trộn lẫn cả niềm sung sướng vô tận, niềm say mê tràn đầy với nỗi
sợ hãi, dằn vặt khủng khiếp, vì ngay lúc đó, không thể buột ra khỏi tay mình miếng
đất mầu mỡ để gieo trồng, nhà văn bắt đầu công việc lao động nhọc nhằn của một
cuồng sĩ ngôn từ. 

 Cảm hứng là một trạng thái lao động
nghiêm túc. Hiển nhiên là thế rồi. Tchaikovsky cả quyết: cảm hứng là trạng thái
tinh thần của con người mang hết sức mình ra làm việc như một con bò đực thiến,
chứ không phải là chỉ ve vẩy tai một cách õng ẹo! 

 Rất nhiều nhà văn nhà thơ nước ta đã bắt
đầu và sau đó hình thành tác phẩm của mình từ những tia chớp ngẫu sự nọ. Nguyên
Hồng có lần nói, có những truyện ngắn của ông được gợi ý từ một câu văn trong một
cuốn sách cũ. Nguyễn Đình Thi kể: một lần đang đi đường thì nghe còi hú báo động
máy bay Mỹ. Ông dạt vào một căn hầm. Có hai cô gái đứng cạnh ông. Nghe tiếng
máy bay Mích của ta đuổi máy bay giặc trên trời, một cô ngước lên, nói: Anh
trai mình đang bay đấy. Nhà nọ có hai anh em. Trong nhà văn, một ý tưởng mang
chất thơ chợt xuất hiện.Và thế là bóng hình cuốn truyện vừa Mặt trận trên
cao của ông đã manh nha thành hình. Chí Phèo thoạt đầu có tên là Cái
lò gạch cũ. Nam Cao mất rồi nên không thể hỏi chuyện ông được. Nhưng đọc những
trang cuối của thiên truyện này, nhiều người trong đó có tôi đoan chắc: hình ảnh
cái lò gạch là một chi tiết có sức ám ảnh và gợi mở để nhà văn đặt bút nên tác
phẩm bất hủ này. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường cho biết, quãng thời gian đầu những
năm 80 của thế kỷ trước, cùng với việc chuẩn bị khởi động viết một cuốn sách về
nông thôn Việt Nam, ông đang đọc cuốn tiểu thuyết có tên Ngôi nhà của những
hồn ma của nhà văn Isabel Allende, cháu gái Allende, tổng thống nước Cộng
hòa Chilê. Cuốn sách hay từ cái nhan đề. Và quan trọng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma chính là cái tên sách nảy sinh từ trường liên tưởng do nhan đề
sách nọ mở ra, đã lập tức gợi cảm hứng cho Nguyễn Khắc Trường bắt tay vào viết
và hoàn thành cuốn tiểu thuyết này. Chữ nảy ra chữ. Sách đã đẻ ra sách.  

Ngôi đình, vật thể quen thuộc lắm của làng quê
ta. Nhưng rồi bỗng xảy ra một sự kiện, khiến cái vật thể quen thuộc ấy được
tách ra khỏi bối cảnh và Dương Duy Ngữ nhận ra, nó là một phẩm vật vô cùng
thiêng liêng nằm trong kết cấu đời sống tinh thần vật chất của làng quê ta. Và
thế là câu khai đề đã có, hứng khởi đã nẩy sinh để nhà văn viết nên cuốn tiểu
thuyết đặc sắc Người giữ đình làng. Tất nhiên, nhiều khi cảm hứng sáng
tác nảy nở thoạt đầu chỉ là một cái tên nhà văn tự đặt ra. Đó là trường hợp Hành
lang phía đông của Bùi Bình Thi, cái tít sách gợi hình tướng rộng dài một sự
vật. Có khi là cái tố chất là lạ ngồ ngộ ở cái tên sách, như Trang gia phả
viết bằng vôi của Nguyễn Trọng Tân. Tốt sang sông là cái tên thoạt kỳ
thủy của tiểu thuyết Thời của thánh thần. Tốt sang sông, một nước
cờ bình thường trên bàn cờ tướng, một trò chơi dân gian, hóa ra lại hàm chứa một
ẩn dụ nghệ thuật gây kích thích để Hoàng Minh Tường hào hứng viết nên tác phẩm
gây xôn xao dư luận này. Tôi viết tiểu thuyết Mưa mùa hạ sau một lần vô
tình nghe được báo cáo của một kỹ sư thủy lợi về đề tài khoa học chống tổ mối
trong thân đê. Chống tổ mối trong thân đê, cái tiêu đề thoạt nghe đã thấy thật
khô khan, vậy mà theo kinh nghiệm mỹ cảm của tôi, nội dung đề tài lại mang tính
biểu tượng cao và do đó nó gây hào hứng cho tôi. Trong khi Mùa lá rụng trong
vườn được khởi thảo trong một chiều áp Tết Nguyên Đán năm 1983, sau khi
nghe bà vợ cùng hai bà chị dâu ríu ran trò chuyện sau buổi đi chợ sắm Tết về.
Đó là những năm đầu của thời kỳ văn học đổi mới. Xuân Cang kể, một hôm được tiếp
đoàn đại biểu nhân dân từ Kon Tum, Gia Lai đến tòa soạn Lao động, tờ báo
ông làm Tổng Biên tập, phản ảnh tệ nạn dối trên lừa dưới, tham ô nhũng nhiễu ở
đơn vị mình. Cảm động vô cùng vì bà con cho biết thêm, muốn ra Hà Nội để báo
cáo với Trung ương từ lâu, nhưng nghèo quá, phải chờ đến khi bắn được một con
trăn to, bán được, mới có tiền tàu xe độ đường. Xúc động quá, ngay đêm đó về,
nhà văn đã xóa bỏ cả mấy chương tiểu thuyết đã viết ròng rã ba tháng trời trước
đó và viết lại với chất liệu mới và cảm nhận mới. Tiểu thuyết Những ngày thường
đã cháy lên của Xuân Cang ra đời một cách ngẫu hứng và tự nhiên như thế
đó.  

 Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, con đường
đi từ tia chớp ban đầu tới một hình tượng văn chương hoàn chỉnh là vô cùng lắt
léo, phi vật thể, phi truyền thống và phức tạp, chứ không đơn giản. Đó là chuỗi
biến thể qua những chặng đường của trí tưởng tượng và những kinh nghiệm cùng những
nỗ lực vô bờ bến của cá nhân. 

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền
Nam, một lần nọ Hữu Thỉnh đóng quân ở nhà một đồng bào dân tộc Chăm. Thật ra chỉ
có chị vợ là người Chăm thôi. Còn anh chồng là người Kinh. Chị xinh đẹp, thon
chắc. Anh vạm vỡ cường tráng. Vóc dáng, phong vẻ anh đặc người đô thị. Sống với
nhau đó mười năm, họ đã có đến sáu con, ba trai ba gái. Nhìn phong vẻ anh chồng,
có lần nhà thơ hỏi: Anh chị thật xứng đôi vừa lứa. Nhưng tò mò một chút xin hỏi.
Vì lý do, hoàn cảnh nào mà từ thành phố anh lại trôi dạt rồi có được cái may mắn
là cắm rễ nở hoa ở xứ sở này? Anh chồng cười đáp: Tôi có bùa chú. Bùa
chú gì? Nhà thơ hỏi, anh chồng giải thích: Anh có thấy con gà trống gọi mái bao
giờ chưa? Thấy rồi à? Đó! Khi ấy cùng với những tiếng gọi mái kéc kéc liên hồi
phát ra từ cổ họng, chú gà trống si tình nọ còn phải thực hiện một động tác là
liên tục nhặt lên bỏ xuống một hạt thóc, có khi là một viên sỏi, thông thường
là viên sỏi, để dẫn dụ cô gà mái. Phải rình, thừa cơ chộp được hạt thóc, viên sỏi
đó. Khó đấy, vì chú gà trống biết anh xông tới lấy, thế nào nó cũng cắp đi mất.
Phải kỳ công mới lấy được! Lấy được, đem hạt thóc hoặc viên sỏi đó phơi bảy
ngày nắng, bảy đêm sương, rồi bỏ vào một cái túi vải nhỏ đeo trên cổ. Hạt thóc,
viên sỏi đó không còn là hạt thóc viên sỏi bình thường nữa. Nó đã trở thành bùa
chú để gọi người mình yêu, để làm mê mẩn người mình yêu. 

Con gà trống cù kỳ quanh vại nước. 

Hạt thóc ngậm vào thành hạt ngọc của tình
yêu.  

Đó là hai câu thơ của Hữu Thỉnh. Như vậy có
nghĩa là cả tỉ tỉ viên sỏi mãi mãi vẫn chỉ là viên sỏi thôi, nếu không một lần
được mỏ chú gà trống truyền vào đó cả mối tình si để biến thành đồ sính lễ.
Viên sỏi đã tham gia vào phép biện chứng. Đang là buổi hồng hoang thì con người
xuất hiện và từ đó thiên nhiên mang bản chất người. Đó là câu mở trang ở một cuốn
sách triết học. Từ một vật thể vô tri, viên sỏi đó trở thành một thực thể nhân
tính.  

Albert Camus, nhà văn Pháp giải thưởng Nobel
viết: “Nghệ thuật sẽ chẳng là gì nếu không có thực tại. Nhưng nếu không có nghệ
thuật thì thực tại cũng chẳng có bao nhiêu giá trị”.  

Vậy là muốn có được phút giây diệu kỳ nọ, trước
hết phải có thực tại. Ortega Y Gasset, tiểu thuyết gia Tây Ban Nha nói: một gã
tiều phu giỏi cùng cây rìu sắc chẳng thể thi thố tài năng trên sa mạc không
bóng cây. Nguyễn Thành Long đã có sẵn cả một khối khổng lồ thực tại và những
suy tưởng sâu xa về sự sống của con người trong cô đơn. Khối thuốc nổ đó có sẵn.
Tia lửa mới là ánh chớp có ý nghĩa. Viên sỏi chỉ là một kết cấu đá sỏi vô cơ phải
qua cái mỏ sừng tình yêu của anh gà trống mới biến thái khỏi cái thực thể hoang
sơ, phải được khổ luyện qua dãi nắng dầm sương bảy ngày bảy đêm mới trở thành hạt
ngọc, bùa chú của tình yêu. Thực tại nhờ công lao nghệ thuật đâ gia thêm giá trị.
Vật thô phàm đã hóa thân thành thực thể linh hồn nhờ một khúc xạ nghệ thuật đã
diễn ra ầm thầm, vô cùng bí ẩn, không ai giống ai, như một phép lạ và không một
cỗ máy tinh xảo nào có thể thay thế được. Cả một quá trình trút vào đó bao mãnh
lực và tài năng cá nhân. Điều đó giải thích vì sao, với người này thì khoảnh khắc
này, sự kiện này là vận hội của sự thăng hoa vồ vập, còn với người khác có khi
chỉ là sự dửng dưng lạnh lẽo trước cái vô hồn. Không có sự ăn may thuần túy.
Nhưng vẫn có cái gọi là may mắn, tình cờ trời cho. Và vấn đề không phải là há
miệng chờ sung. Mà là hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả
cung bậc của cuộc đời.  

 Anh nhớ mãi phút giây huyền diệu  

Trước mặt anh em bỗng hiện lên 

Như hư ảnh mong manh vụt biến 

 Như thiên thần sắc đẹp trắng trong. 

 Thơ Puskin
qua lời dịch của Thúy Toàn lẽ nào là viết riêng cho tình huống sáng tạo này nhỉ?
Vâng, cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ hiện ra trong một bầu trời ứ đầy
mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nối bằng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ
say mê, đó chính là cuộc gặp gỡ kỳ lạ và vô cùng lý thú của đời sống và văn
chương. Đó là điểm giao kết tài tình giữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo
ra. Với tôi, đó là một kiểu hình thành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó
là quy trình làm nên một hợp tử, để một sự sống hoài thai, ra đời.